vanban.org

Bản án 55/2025/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trương Công Hạnh bị truy tố tội “Trộm cắp tài sản”. - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 7 - BẮC NINH
__________________

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 55/2025/HS-ST
Ngày 19/9/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - BẮC NINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Ngọc Tuấn.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Điều; bà Nguyễn Thị Hà.

Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Hữu Quân - Thẩm tra viên Toà án nhân dân khu vực 7 - Bắc Ninh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7- Bắc Ninh tham gia phiên toà: Bà Hồ Thị Lê - Kiểm sát viên.

Ngày 19/9/2025, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 7 - Bắc Ninh (cơ sở 1) xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 52/2025/TLST-HS, ngày 25/8/2025. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 55/2025/QĐXXST-HS, ngày 04/9/2025 đối với bị cáo:

Trương Công H, sinh năm 1970 tại huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh (nay là xã Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh).

HKTT: Thôn Đông Thái, xã Đông Tiến, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh (nay là thôn Đông Thái, xã Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh); nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 0/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trương Công K (đã chết) và bà Hà Thị T (đã chết); gia đình có 06 anh chị em, bị cáo là con thứ ba; vợ, con: Chưa có.

- Tiền án: Tại Bản án số 158/2023/HS-ST ngày 19/10/2023, Tòa án nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh (nay là Tòa án nhân dân khu vực 7, tỉnh Bắc Ninh), xử phạt Trương Công H 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 BLHS năm 2015. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 21/4/2024.

- Tiền sự: Ngày 21/7/2023, Trương Công H bị UBND xã T, huyện Y tỉnh Bắc Ninh (nay là UBND xã T, tỉnh Bắc Ninh) ra quyết định số 217 xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản”, hình thức phạt tiền, số tiền 2.500.000 đồng. H chưa chấp hành quyết định.

- Nhân thân:

+ Tại Bản án số 42/1989/HSST ngày 17/10/1989, Tòa án nhân dân thị xã Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn (nay là Tòa án nhân dân khu vực 1 tỉnh Lạng Sơn), xử phạt Trương Công H 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản của công dân quy định tại khoản 1, Điều 155 BLHS năm 1985. Bị cáo đã chấp hành xong toàn bộ bản án ngày 30/01/1990.

+ Tại Bản án số 685/1993/HSST ngày 30/1/1993, Tòa án nhân dân huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội (nay là Tòa án nhân dân khu vực 5, thành phố Hà Nội), xử phạt Trương Công H 12 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản của công dân quy định tại khoản 1, Điều 155 BLHS năm 1985. Bị cáo đã chấp hành xong toàn bộ bản án.

+ Ngày 12/10/1995, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội, xử phạt Trương Công H 30 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản của công dân quy định tại khoản 1, Điều 155 BLHS năm 1985. Bị cáo đã chấp hành xong toàn bộ bản án.

+ Tại Bản án số 29/1999/HSST ngày 24/3/1999, Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh xử phạt Trương Công H 05 năm tù về tội Trộm cắp tài sản của công dân quy định tại khoản 2,Điều 155 BLHS năm 1985. Bị cáo đã chấp hành xong toàn bộ bản án.

+ Tại Bản án số 71/2004/HSST ngày 17/11/2004, Tòa án nhân dân huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên (nay là Tòa án nhân dân khu vực 5, tỉnh Thái Nguyên) xử phạt Trương Công H 54 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản quy định tại khoản 2, Điều 155 BLHS năm 1999. Bị cáo đã chấp hành xong toàn bộ bản án.

+ Ngày 19/9/2022, Trương Công H bị UBND xã Đ, huyện Y (nay là UBND xã Y) tỉnh Bắc Ninh theo quyết định số 475 áp dụng biện pháp xử lý hành chính Giáo dục tại xã, phường, thị trấn, thời hạn 3 tháng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”. H đã chấp hành xong quyết định.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/6/2025 đến nay, hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 Công an tỉnh B (Có mặt).

Bị hại: Chị Nguyễn Thị Thanh H1, sinh năm 1979; HKTT: Thôn C, xã L, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh (nay là thôn C, xã Y, tỉnh Bắc Ninh) (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 04 giờ 30 phút ngày 20/6/2025, H đi bộ từ nhà thuộcthôn Đ, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh (nay là thôn Đ, xã Y) tỉnh Bắc Ninh đến khu vực chợ N thuộc xã Y (nay là xã V) tỉnh Bắc Ninh với mục đích trộm cắp tài sản để bán lấy tiền ăn tiêu. Đến khoảng 06 giờ cùng ngày, khi H đi đến đầu đường vào chợ N thuộc thôn A, xã Y, huyện Y, tỉnh Bấc Ninh (nay là thôn A, xã V, tỉnh Bắc Ninh) thì H nhìn thấy 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu đỏ đen, biển số 99H7-8058 của chị Nguyễn Thị Thanh H1, sinh năm 1979; HKTT: Thôn C, xã L, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh (nay là thôn C, xã Y, tỉnh Bắc Ninh) đang dựng gần cổng chợ, không có người trông coi, chìa khóa vẫn cắm ở ổ khóa điện. H đi bộ tiến lại gần chiếc xe, dùng tay phải mở khóa điện và nổ máy xe. Sau đó, H điều khiển xe đi theo hướng đường Tỉnh lộ 286 về xã Y. Khi H đi đến gầm cầu vượt quốc lộ C thuộc thôn A, xã V, tỉnh Bắc Ninh, H điều khiển xe đi đến ngã tư hướng từ thôn T qua thôn Đ thì H bị ngã xe, đồ nhựa yếm của xe và giỏ nhựa bị vỡ văng ra đường. H vứt giỏ nhựa màu vàng ở rìa đường (gần chùa thôn Đ) còn đồ vỏ nhựa của xe thì để ở bụng xe và điều khiển xe đi đến xã Y. Khi H đi đến đường làng thuộc thôn Đ sang khu công nghiệp Y thì H đã vứt phần vỏ nhựa của xe ở ven đường rồi điều khiển xe đi về nhà. Khi H biết tin chủ xe đã đến Công an xã Y (nay là Công an xã V) để trình báo về việc bị trộm cắp tài sản, do lo sợ bị phát hiện thì H đã đi đến các vị trí trước đó vứt đồ của xe để nhặt lại vỏ nhựa xe, giỏ nhựa.Ngày 23/06/2025, H đến Công an xã Y (nay là Công an X) đầu thú giao nộp xe mô tô và thành khẩn khai nhận hành vi trộm cắp của bản thân.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 35/KL-HĐĐGTS ngày 24/6/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự UBND huyện Y, tỉnh Bắc Ninh (nay là xã Y, tỉnh Bắc Ninh) kết luận: “01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha màu đỏ đen, BKS: 99H7-8058, số máy 056Y172046, số khung C09E-6172059 đã qua sử dụng, có trị giá 2.500.000 đồng”.

Tại Bản kết luận giám định số 1395/KL-KTHS ngày 30/6/2025 của Phòng K1 Công an tỉnh B kết luận: “Số máy, số khung của xe mô tô, nhãn hiệu Honda Wave, màu đỏ đen, BKS 99H7-8058 gửi giám dịnh không bị tấy xóa, đóng dục lại; Hàng chữ số HC09E-6172059đóng trên thân máy và hàng chữ số RLHHC09056Y172046đóng trên khung xe là nguyên thủy”.

*Vật chứng thu giữ:

- 01 (một) chiếc xe Wave màu đỏ đen, BKS 99H7 - 8058, hiện tại yếm và vỏ nhựa của xe đã bị vỡ; số máy C09E-6172059, số khung 056Y172046 đã qua sử dụng, 01 áo cộc tay màu đen;

- 01 (một) quần ngố vải màu xám ghi;

- 01 (một) mũ cối màu xanh;

- 02 (hai) chiếc dép tổ ong mặt trên màu vàng, đế màu xanh;

- 01 (một) giỏ nhựa màu vàng có chiều dài 60cm, chiều rộng 40cm, chiều cao 37cm;

- 01 (một) mũ bảo hiểm màu đen có 03 dọc kẻ màu trắng ở đỉnh mũ, phía trước mũ có ghi chữ "Xe điện THUẬN LAN kính tặng";

- 02 (hai) miếng nhựa màu đỏ, 04 miếng nhựa màu đen là nhựa của chiếc xe mô tô trên.

*Trách nhiệm dân sự:

Đối với phần yếm và vỏ nhựa của xe bị hư hỏng, chị Nguyễn Thị Thanh H1 không yêu cầu bị cáo H phải bồi thường.

*Xử lý vật chứng:

Đối với 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha màu đỏ đen, biển số 99H7-8058; 01 giỏ nhựa màu vàng có chiều dài 60cm, chiều rộng 40cm, chiều cao 37cm; 01 chiếc mũ bảo hiểm màu đencó 03 dọc kẻ màu trắng ở đỉnh mũ, phía trước mũ có ghi chữ "Xe điện THUẬN LAN kính tặng” đã qua sử dụng; 02 miếng nhựa màu đỏ, 04 miếng nhựa màu đen. Ngày 04/8/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B đã trả lại cho chủ sở hữu là chị Nguyễn Thị Thanh H1.

Đối với 01 áo cộc tay màu đen; 01 quần ngố vải màu xám ghi; 01 mũ cối màu xanh; 02 chiếc dép tổ ong mặt trên màu vàng, đế màu xanh Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B đã chuyển đến Phòng Thi hành án dân sự khu vực 7 - Bắc Ninh để xử lý sau.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân như đã nêu ở trên.

Với nội dung trên tại Cáo trạng số: 48/CT-VKSKV7 ngày 21/8/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Bắc Ninh đã truy tố Trương Công H về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà hôm nay, Trương Công H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố. Bị cáo thừa nhận bản cáo trạng truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” là đúng.

Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Bắc Ninh thực hành quyền công tố tại phiên tòa sau khi phân tích đánh giá chứng cứ, đánh giá tính chất mức độ nguy hiểm do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra cho xã hội cùng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo và đề nghị HĐXX:

Tuyên bố bị cáo Trương Công H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo: Trương Công H từ 09 đến 12 tháng tù.

Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo H.

Về trách nhiệm dân sự: Chị Nguyễn Thị Thanh H1 đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường dân sự nên không xem xét.

Về vật chứng của vụ án: Đối với 01 áo cộc tay màu đen; 01 quần ngố vải màu xám ghi; 01 mũ cối màu xanh; 02 chiếc dép tổ ong mặt trên màu vàng, đế màu xanh không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu huỷ.

Bị cáo nhận tội, nhất trí với phần kết luận và không tham gia tranh luận với đại diện Viện kiểm sát. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ NHẬN ĐỊNH:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau.

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên Công an huyện Y, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Do vậy, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trên đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa bị cáo thành khẩn nhận tội, lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, phù hợp với kết quả tranh luận tại phiên tòa. Vì vậy, có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 06 giờ ngày 20/6/2025, tại đường vào chợ N thuộc thôn A, xã Y, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh (nay là thôn A, xã V. tỉnh Bắc Ninh), Trương Công H có hành vi lén lút trộm cắp 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha màu đỏ đen, biển số 99H7-8058 đã qua sử dụng của chị Nguyễn Thị Thanh H1 có trị giá 2.500.000 đồng. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự như Cáo trạng truy tố là có căn cứ pháp luật, đúng người, đúng tội.

[2] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của chủ sở hữu được pháp luật bảo vệ mà còn gây mất trật tự trị an an toàn xã hội ở địa phương, nên cần được xử lý nghiêm để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

[4] Xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy:

- Về nhân thân:

+ Tại Bản án số 42/1989/HSST ngày 17/10/1989, Tòa án nhân dân thị xã Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn (nay là Tòa án nhân dân khu vực 1 tỉnh Lạng Sơn), xử phạt Trương Công H 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản của công dân quy định tại khoản 1 Điều 155 BLHS năm 1985. Bị cáo đã chấp hành xong toàn bộ bản án ngày 30/01/1990.

+ Tại Bản án số 685/1993/HSST ngày 30/1/1993, Tòa án nhân dân huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội (nay là Tòa án nhân dân khu vực 5, thành phố Hà Nội), xử phạt Trương Công H 12 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản của công dân quy định tại khoản 1 Điều 155 BLHS năm 1985. Bị cáo đã chấp hành xong toàn bộ bản án.

+ Ngày 12/10/1995, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội, xử phạt Trương Công H 30 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản của công dân quy định tại khoản 1 Điều 155 BLHS năm 1985. Bị can đã chấp hành xong toàn bộ bản án.

+ Tại Bản án số 29/1999/HSST ngày 24/3/1999, Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh xử phạt Trương Công H 05 năm tù về tội Trộm cắp tài sản của công dân quy định tại khoản 2 Điều 155 BLHS năm 1985. Bị cáo đã chấp hành xong toàn bộ bản án.

+ Tại Bản án số 71/2004/HSST ngày 17/11/2004, Tòa án nhân dân huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên (nay là Tòa án nhân dân khu vực 5, tỉnh Thái Nguyên) xử phạt Trương Công H 54 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản quy định tại khoản 2 Điều 155 BLHS năm 1999. Bị cáo đã chấp hành xong toàn bộ bản án.

+ Ngày 19/9/2022, Trương Công H bị UBND xã Đ, huyện Y (nay là UBND xã Y) tỉnh Bắc Ninh theo quyết định số 475 áp dụng biện pháp xử lý hành chính Giáo dục tại xã, phường, thị trấn, thời hạn 03 tháng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”. H đã chấp hành xong quyết định.

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo có 01 tiền án: Tại Bản án số 158/2023/HS-ST ngày 19/10/2023, Tòa án nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh (nay là Tòa án nhân dân khu vực 7, tỉnh Bắc Ninh), xử phạt Trương Công H 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 BLHS năm 2015. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 21/4/2024, bản án này chưa được xoá án tích nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

- Tiền sự: Ngày 21/7/2023, Trương Công H bị UBND xã T, huyện Y tỉnh Bắc Ninh (nay là UBND xã T, tỉnh Bắc Ninh) ra quyết định số 217 xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản”, hình thức phạt tiền, số tiền 2.500.000 đồng. H chưa chấp hành quyết định.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo đã đầu thú, khắc phục hậu quả và thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải với hành vi phạm tội của bản thân. Do vậy, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xét thấy, cần phải có một mức hình phạt nghiêm khắc và cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian đủ để cải tạo, giáo dục các bị cáo trở thành công dân tốt cho xã hội. Tuy nhiên, quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo đã đầu thú, khắc phục hậu quả và thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải với hành vi phạm tội của bản thân nên cũng cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Bị cáo không có việc làm và thu nhập ổn định, không có tài sản riêng, vì vậy miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.

[5] Về trách nhiệm dân sự:

Bị hại là chị Nguyễn Thị Thanh H1 đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Ngày 23/6/2025, Công an xã Y, huyện Y (nay là Công an xã V) tỉnh Bắc Ninh tiến hành xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể Trương Công H. Kết quả: H dương tính với ma túy, vi phạm khoản 1 Điều 23 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hôị. Ngày 26/6/2025, Công an xã Y, huyện Y (nay là Công an xã V) tỉnh Bắc Ninh ban hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Trương Công H bằng hình thức “Cảnh cáo” là phù hợp.

[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Trương Công H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự; khoản 1, 3 Điều 329; Điều 136, 331, 332, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự ; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội qui định về án phí, lệ phí Toà án;

Xử phạt: Trương Công H 12 (Mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 23/6/2025.

Quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày xét xử sơ thẩm (19/9/2025) để đảm bảo thi hành án.

Về trách nhiệm dân sự: Không.

Về vật chứng: Áp dụng điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy:

+ 01 áo cộc tay màu đen.

+ 01 quần ngố vải màu xám ghi.

+ 01 mũ cối màu xanh.

+ 02 chiếc dép tổ ong mặt trên màu vàng, đế màu xanh.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 20/8/2025 giữa Công an tỉnh B với Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh).

Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ