vanban.org

Bản án 55/2025/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

hình sự đối với bị cáo Lê Anh Minh T.

Xử phạt: bị cáo Lê Anh Minh T 07 (bảy) năm 9 (chín) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 04/12/2024.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Anh Minh T "Tổ chức sử dụng trái phép chát ma túy" - phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (điều 255 Luật sửa đổi, bổ sung một s…"
  • Tòa quyết gì? hình sự đối với bị cáo Lê Anh Minh T.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 1 - KHÁNH HÒA
-------------------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 55/2025/HS-ST
Ngày 12-8-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - KHÁNH HÒA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Võ Thị Mai Phương

Các Hội thẩm nhân dân: ông Nguyễn Xuân Vinh

bà Nguyễn Thị Lý

- Thư ký phiên tòa: bà Phạm Hồng Phương Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân

khu vực 1 - Khánh Hòa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Khánh Hòa tham gia phiên

tòa: bà Nguyễn Thị Như Hạnh - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 8 năm 2025, Tòa án nhân dân khu vực 1 - Khánh Hòa xét xử

sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 186/2025/TLST-HS ngày 21 tháng 5

năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 19/2025/QĐXXST-HS ngày 14

tháng 7 năm 2025 đối với bị cáo:

Lê Anh Minh T - sinh ngày 27/11/1993 tại Khánh Hòa; Nơi đăng ký nhân

khẩu thường trú: thôn P - xã P - thành phố N - Khánh Hòa (nay là thôn P - phường

Nam N - Khánh Hòa); Nghề nghiệp: lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Dân

tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê

Văn V (1964) và bà Lê Thị Xuân H (1970); Có vợ là Nguyễn Thị Mỹ Y (2003) và

có một con sinh năm 2021; Tiền sự, tiền án: không; Tạm giữ, tạm giam từ ngày

04/12/2024; Có mặt tại phiên tòa.

- Người tham gia tố tụng khác:

+ Người làm chứng: Nguyễn Văn H - sinh năm 1992; Vắng mặt.

Vũ Việt Q - sinh năm 1995; Vắng mặt.

Nguyễn Duy A - sinh năm 1998; Vắng mặt.

Nguyễn Thị Mỹ N - sinh năm 1997; Vắng mặt.

Nguyễn Thị Ngọc B - sinh năm 1998; Vắng mặt.

Phan Thị Thảo M - sinh năm 1998; Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ

án được tóm tắt như sau:

Khoảng 00 giờ 45 phút, ngày 20/12/2019, tổ công tác của Phòng quản lý

hành chính về trật tự xã hội - Công an tỉnh Khánh Hòa phối hợp với Đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy - Công an thành phố N, Công an phường V tiến hành kiểm tra hành chính quán karaoke X (87 đường D - phường V - thành phố N). Lúc này tại phòng Super VIP 05 có các đối tượng: Lê Anh Minh T, Nguyễn Tấn K, Trần Nhật A, Nguyễn Văn H, Vũ Việt Q, Nguyễn Thị Mỹ N, Nguyễn Thị Ngọc B, Phan Thị Thảo M, Nguyễn Quang D, thu giữ trên bàn: 01 đĩa sứ hình tròn màu trắng; 01 tờ tiền polimer mệnh giá 10.000đ được cuộn tròn; 01 thẻ card nhựa; 01 bịch nylon kích thước (3x6)cm, bên trong chứa chất bột màu trắng (ký hiệu A); 01 bịch nylon kích thước (3x6)cm, bên trong chứa chất bột màu trắng (ký hiệu B); 01 bịch nylon kích thước (4x4) cm, bên trong chứa chất bột màu trắng (ký hiệu C); 01 bịch nylon kích thước (3x6)cm, bên trong có 01 viên nén màu xanh, một mặt dập nổi ký hiệu hình vương miện (ký hiệu D). Tổ công tác tiến hành niêm phong, thu giữ tang vật và đưa các đối tượng về trụ sở làm việc.

Qua điều tra, xác định được như sau: khoảng 23 giờ 00 phút, ngày

19/12/2019, sau khi "nhậu" xong, Lê Anh Minh T, Nguyễn Tấn K, Trần Nhật A cùng rủ nhau đến quán karaoke X (87 đường D - phường V - thành phố N) để thuê phòng, hát karaoke. Sau khi thuê phòng VIP 05 thì có một thanh niên (chưa rõ lai lịch) đi vào phòng hỏi "có sử dụng ma túy không" thì T, K, A cùng thống nhất mua 01 chấm ma túy "khay" và 03 viên ma túy "thuốc lắc" với giá 1.900.000đ để sử dụng. T ứng trả tiền trước, K, A trả lại sau. Khoảng 15 phút sau, đối tượng bán ma túy đem ma túy mà cả nhóm đã mua để lên bàn cho cả nhóm sử dụng. Sau đó, T, K, A rủ Nguyễn Văn H, Nguyễn Quang D, Nguyễn Thị Ngọc B đến chơi. H rủ Vũ Việt Q, D rủ Phan Thị Thảo M, My rủ thêm Nguyễn Thị Mỹ N. Sau đó, tất cả có mặt tại quán, thấy trên bàn có sẵn ma túy nên lấy sử dụng. Trong đó, T sử dụng 1/2 viên ma túy "thuốc lắc", từ 2 - 3 đường ma túy "khay"; K sử dụng 1/2 viên ma túy "thuốc lắc", 2 đường ma túy "khay"; A sử dụng 1/2 viên ma túy "thuốc lắc", 2 đường ma túy "khay"; M sử dụng 1/4 viên ma túy "thuốc lắc", 2 "đường" ma túy "khay"; D sử dụng 1/4 viên ma túy "thuốc lắc", 2 đường ma túy "khay"; B sử dụng 01 đường ma túy "khay"; H sử dụng 02 đường ma túy "khay". Riêng N và Q không sử dụng ma túy. Đến khoảng 00 giờ 45 phút, ngày 20/12/2019 thì bị phát hiện, bắt giữ như trên.

Tại bản kết luận giám định số 33/GĐTP/2020 ngày 31/12/2019 của Phòng

kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Khánh Hòa kết luận: tinh thể màu trắng trong mẫu ký hiệu A gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,1978g, loại Ketamine; tinh thể màu trắng, trong mẫu ký hiệu B gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,3898g, loại Ketamine; tinh thể mà trắng trong mẫu ký hiệu C gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,1545g, loại Ketamine; viên nén màu xanh trong mẫu ký hiệu D gửi giám định là ma túy có khối lượng 0,3456g loại MDMA.

Tại bản cáo trạng số 158/CT-VKSNT ngày 16/5/2025, VKSND thành phố N

(nay là VKSND khu vực 1 - Khánh Hòa) truy tố Lê Anh Minh T về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - tỉnh Khánh Hòa

giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị áp điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s

khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Lê Anh Minh T, xử phạt bị

cáo T từ 07 năm tù đến 07 năm 6 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất

ma túy”. Về vật chứng và án phí: đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định

của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã

được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Quá trình giải quyết vụ án, các Cơ quan tiến hành tố tụng và những

người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục tố tụng

theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Các bị cáo và những người tham gia tố

tụng khác trong vụ án không có khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ

quan tiến hành tố tụng và những người tiến hành tố tụng.

[2] Về thủ tục tố tụng: tại phiên tòa, những người làm chứng đã được triệu

tập hợp lệ nhưng vắng mặt, tuy nhiên, hồ sơ thể hiện rõ lời khai của họ nên Hội

đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt.

[3] Về tội danh: Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo T đã thừa nhận hành vi phạm

tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của người làm

chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở để xác định

khoảng 00 giờ 45 phút, ngày 20/12/2019, tại phòng Super VIP05, quán karaoke X

(số 87 đường D - phường N - Khánh Hòa), tổ công tác của Phòng quản lý hành

chính về trật tự xã hội - Công an tỉnh Khánh Hòa phối hợp với Đội cảnh sát điều

tra tội phạm về ma túy - Công an thành phố N và Công an phường V phát hiện, bắt

tang Lê Anh Minh T, Nguyễn Tấn K, Trần Nhật A đang tổ chức cho Nguyễn Văn

H, Phan Thị Thảo M, Nguyễn Quang D, Nguyễn Thị Ngọc B sử dụng trái phép

chất ma túy. Hành vi này của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng

trái phép chất ma túy”. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Khánh Hòa truy

tố bị cáo với tội danh nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp

luật.

[4] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, làm ảnh hưởng đến tình

hình an ninh trật tự tại địa phương. Bị cáo biết rõ các chất ma túy, trong đó có

MDMA và Ketamine là chất gây nghiện, hướng thần do Nhà nước độc quyền quản

lý, mọi hành vi tàng trữ, sử dụng, cung cấp ma túy cho người khác sử dụng mà

không được phép của Nhà nước đều bị nghiêm cấm nhưng bị cáo vẫn cùng với

Nguyễn Tấn K, Trần Nhật A tổ chức những người khác cùng sử dụng ma túy.

Hành vi của bị cáo thể hiện thái độ xem thường kỷ cương, pháp luật của Nhà nước

nên cần xử phạt bị cáo mức hình phạt thật nghiêm khắc mới đảm bảo tính giáo dục,

răn đe và phòng ngừa chung cho xã hội.

[5] Tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm

nay, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bản thân bị cáo chưa có tiền sự, tiền án. Đây là những tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự nên cần xem xét giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo để bị cáo nhận thấy được chính sách khoan hồng của Nhà nước mà yên tâm cải tạo trở thành người công dân có ích cho xã hội.

[6] Nguyễn Văn H, Nguyễn Quang D, Phan Thị Thảo M không cùng góp

tiền mua ma túy với T, K, A. Nguyễn Văn H rủ Nguyễn Thị Ngọc B và Vũ Việt Q; Nguyễn Quang D rủ Phan Thị Thảo M, My rủ Nguyễn Thị Mỹ N đến karaoke X để hát karaoke. B, Q, D, M, N cũng thừa nhận điều này (bút lục 48, 57, 70, 80, 94). Do đó, không có cơ sở xem xét trách nhiệm hình sự đối với H, D và M.

[7] Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Nguyễn Văn H, Phan

Thị Thảo M, Nguyễn Quang D, Nguyễn Thị Ngọc B, Cơ quan cảnh sát - Công an thành phố N đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính.

[8] Đối với hành vi của Nguyễn Tấn K, Trần Nhật A: Cơ quan Công an đã ra

Quyết định khởi tố bị can, Quyết định truy nã. Ngày 24/4/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Khánh Hòa đã ra Quyết định tách vụ án hình sự số 4951/QĐ-CSĐT-MT (Đ3) về việc tách hành vi "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy" đối với các bị can Nguyễn Tấn K, Trần Nhật A.

[9] Về vật chứng: Toàn bộ số ma túy thu giữ được tại hiện trường (ký hiệu

A, B, C, D) đã được sử dụng hết trong quá trình giám định (bút lục 25).

01 đĩa sứ hình tròn màu trắng và 01 thẻ card bằng nhựa, bị cáo sử dụng vào

việc phạm tội, không còn giá trị sử dụng nên tịch thu, tiêu hủy.

01 tờ tiền polymer mệnh giá 10.000đ, bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên

cần tịch thu nộp ngân sách Nha nước.

[10] Về án phí: bị cáo T phải nộp án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật

hình sự đối với bị cáo Lê Anh Minh T.

Xử phạt: bị cáo Lê Anh Minh T 07 (bảy) năm 9 (chín) tháng tù về tội “Tổ

chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 04/12/2024.

Về vật chứng: Áp dụng Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự;

Tịch thu, tiêu hủy 01 (một) đĩa sứ hình tròn màu trắng, 01 (một) thẻ card

bằng nhựa.

(Tình trạng, đặc điểm vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng ngày

21/5/2025 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Khánh Hòa với Chi cục thi hành án dân sự thành phố N - nay là Phòng thi hành án dân sự khu vực 1 Khánh Hòa).

Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước 01 tờ tiền mệnh giá 10.000đ (Mười nghìn

đồng) theo giấy nộp tiền mặt vào Kho bạc Nhà nước khu vực XIII thông qua Ngân

hàng thương mại cổ phần đầu tư Việt Nam - chi nhánh Khánh Hòa ngày 07/5/2025

(Người nộp tiền: Phan Nhật Linh).

Về án phí: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết

326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định

về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Bị cáo Lê Anh Minh T nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự

sơ thẩm.

Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày

tuyên án sơ thẩm.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ