- Tranh chấp gì? Tranh chấp về cung ứng dịch vụ — án kinh doanh thương mại — "tranh chấp về cung ứng dịch vụ"
- Tòa quyết gì? Một phần bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật như sau:
- Căn cứ chính? Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 29 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 55/2023/KDTM-PT Ngày 26-01-2024 V/v tranh chấp hợp đồng dịch vụ |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đào Minh Đa
Các Thẩm phán: Ông Phan Trí Dũng
Ông Huỳnh Văn Luật
- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Kim Thoa – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương.
- Đa i diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Ngọc Tuyền - Ki m sát vi n.
Ngày 26 tháng 01 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bình Dương xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 46/2023/TLPT-KDTM ngày 06/11/2023 về việc “tranh chấp hợp đồng dịch vụ”.
Do Bản án kinh doanh, thương mại sơ thẩm số 25/2023/KDTM-ST ngày 25/9/2023 của Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Bình Dương bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 47/2023/QĐXXPT-KDTM ngày 15/11/2023, Quyết định hoãn phi n tòa số 40/2023/QĐ-PT ngày 13/12/2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Công ty Cổ phần G1; trụ sở: 417/49/32, Q, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1982; địa chỉ liên hệ: 600, đường P, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương (văn bản uỷ quyền ngày 20/10/2022); có mặt.
- Bị đơn: Công ty Trách nhiệm hữu hạn A2; trụ sở: A39F, khu phố B, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương.
Người đại diện hợp pháp của bị đơn: bà Vũ Thị T, sinh năm 1998; địa chỉ liên hệ: số B, đường G, khu phố T, phường Đ, thành phố D, tỉnh Bình Dương (văn bản uỷ quyền ngày 28/3/2023); có mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: ông Mai Tiến L-Luật sư thuộc Đoàn Luật sư tỉnh B; địa chỉ: Công ty L1 – số B, đường G, khu phố T, phường Đ, thành phố D, tỉnh Bình Dương.
- Người kháng cáo: nguy n đơn Công ty Cổ phần G1, bị đơn Công ty Trách nhiệm hữu hạn A2.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, quá trình tố tụng, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày:
Ngày 27/11/2020, Công ty Cổ phần G1 (gọi tắt là Công ty G1) và Công ty Trách nhiệm hữu hạn A2 (gọi tắt là Công ty A2) ký “Hợp đồng xây dựng cung ứng di động”, phụ lục kèm theo hợp đồng và phụ lục sửa đổi, bổ sung hợp đồng ngày 31/3/2021 (hai b n thừa nhận phụ lục năm 2021 nhưng ghi nhầm thành năm 2020). Nội dung và phụ lục hợp đồng với những điều khoản chính như sau:
Công ty G1 đặt hàng cho Công ty A2 “thiết kế và viết phần mềm ứng dụng tr n nền tảng Android, iOs và W”; phần mềm dùng đ công ty G1 sử dụng trong việc quản lý, điều hành tài xế, vận chuy n hàng hóa… nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của công ty; tổng giá trị hợp đồng là 1.050.000.000 đồng, thanh toán làm 05 đợt, cụ th :
- Đợt 1: Thanh toán 24% (bằng 250.000.000 đồng), đặt cọc chi phí thiết kế giao diện….
- Đợt 2: Thanh toán 19% (bằng 200.000.000 đồng), đặt cọc chi phí phát tri n mã nguồn.
- Đợt 3: Thanh toán 19% (bằng 200.000.000 đồng), đặt cọc chi phí sau khi b n bán giao đầy đủ mã nguồn gốc.
- Đợt 4: Thanh toán 19% (bằng 200.000.000 đồng), đặt cọc chi phí sau khi b n bán chỉnh sửa những lỗi phát sinh trong quá trình thử nghiệm.
- Đợt 5: Thanh toán 19% (bằng 200.000.000 đồng), sau khi b n bán bàn giao toàn bộ mã nguồn gốc của toàn bộ dự án, không còn phát sinh lỗi đảm bảo đúng tiến độ hợp đồng.
Hai b n không thỏa thuận thời đi m cụ th của các đợt tạm ứng tiền nhưng có thỏa thuận thanh toán theo khối lượng công việc có bi n bản bàn giao, ki m tra, chạy thử và nghiệm thu.
Thời gian thực hiện là 193 ngày không tính ngày lễ, thứ 7, chủ nhật và không bao gồm thời gian thiết kế bản vẽ giao diện App (trong đó chưa bao gồm 07 ngày đ cho Công ty D dự án); thời gian bảo hành là 12 tháng k từ ngày nghiệm thu sản phẩm.
Ngày 07/12/2020, Công ty G1 đã tạm ứng cho Công ty A2 số tiền 250.000.000 đồng.
Công ty A2 có bàn giao thiết kế bản vẽ giao diện App nhưng đại diện Công ty G1 không nhớ thời gian. Tuy nhiên, khi nguy n đơn ki m tra thì thiết kế giao diện Công ty A2 bàn giao chưa đạt y u cầu và nguy n đơn có y u cầu Công ty A2 sửa chữa. Sau khi sửa chữa thiết kế Công ty A2 bàn giao lại thiết kế đã sửa chữa nhưng khi nguy n đơn đưa vào chạy thử nghiệm thì không chạy được.
Ngày 01/4/2021, Công ty G1 tiếp tục tạm ứng số tiền 150.000.000 đồng; ngày 26/5/2021 tạm ứng số tiền 50.000.000 đồng và ngày 14/6/2021 tạm ứng tiếp số tiền 70.000.000 đồng.
Tổng cộng, Công ty G1 đã tạm ứng cho Công ty A2 số tiền 520.000.000 đồng nhưng Công ty A2 không khắc phục, sửa chữa thiết kế và thực hiện các phần tiếp theo của hợp đồng.
Các bi n bản bàn giao mà Công ty A2 cung cấp do nhân viên Công ty G1 ký nhận (ông Dương Minh Q ký) không phải là khối lượng công việc của đợt 2, đợt 3 theo thỏa thuận trong hợp đồng.
Mặc dù, Công ty A2 không thực hiện đúng tiến độ như thỏa thuận trong hợp đồng nhưng Công ty G1 vẫn tiếp tục tạo điều kiện cho Công ty A2 thực hiện Hợp đồng th hiện qua việc 02 b n kí phụ lục hợp đồng và Công ty G1 tiếp tục thanh toán tạm ứng chi phí nhưng Công ty A2 vẫn không thực hiện được hợp đồng. Do đó, ngày 21/10/2022, Công ty G1 ban hành Thông báo về việc chấm dứt hợp đồng 001/HĐXDUNDĐ ngày 27/11/2020 gửi Công ty A2, y u cầu Công ty A2 phải trả lại toàn bộ số tiền tạm ứng chi phí đã nhận (520.000.000 đồng) và bồi thường thiệt hại nhưng nhưng Công ty A2 không thiện chí đ thảo luận giải quyết hậu quả của hợp đồng.
Nay, Công ty G1 yêu cầu huỷ Hợp đồng xây dựng ứng dụng di động số 001/HĐXDUDDĐ ngày 27/11/2020 và 02 Phụ lục hợp đồng đã ký giữa Công ty G1 với Công ty A2; buộc Công ty A2 trả cho Công ty G1 số tiền đã nhận là 520.000.000 đồng và tiền phạt do vi phạm hợp đồng là 41.600.000 đồng (8%x 520.000.000 đồng), tiền bồi thường thiệt hại là 1.165.000.000 đồng.
Tại phi n tòa sơ thẩm, Công ty G1 rút một phần y u cầu khởi kiện về tiền phạt do vi phạm hợp đồng và tiền bồi thường thiệt hại.
- Trong đơn phản tố, quá trình tham gia tố tụng và tại phiên tòa người đại diện hợp pháp của Công ty A2 trình bày:
Thống nhất với lời trình bày của Công ty G1 về việc hai b n ký “Hợp đồng xây dựng ứng dụng di động số 001/HĐXDUDDĐ ngày 27/11/2020”, phụ lục kèm theo hợp đồng và phụ lục sửa đổi, bổ sung hợp đồng ngày 31/3/2021; tổng giá trị của hợp đồng 1.050.000.000 đồng, thời gian thực hiện hợp đồng 193 ngày (không tính ngày lễ, chủ nhật); số tiền Công ty G1 đã chi tạm ứng chuy n cho Công ty A2 là 520.000.000đồng.
Công ty A2 thiết kế giao diện theo y u cầu của Công ty G1, đã ký biên bản bàn giao thiết kế ngày 18/5/2021, ngày 26/5/2021, ngày 12/6/2021; bi n bản ngày 18/5/2021, đại diện Công ty G1 chưa ký nhưng đây là thời đi m bàn giao thiết kế giao diện. Công ty G1 chuy n khoản thanh toán sau khi đã ki m duyệt các thiết kế, tính năng, source đầy đủ, đồng ý và ký bi n bản bàn giao rồi mới chuy n khoản thanh toán.
Theo nội dung Phụ lục hợp đồng (sửa đổi Điều 2 của hợp đồng) thì hợp đồng này được chia thành 05 đợt thanh toán tương ứng với 05 giai đoạn thực hiện hợp đồng như nguy n đơn đã trình bày.
Tuy nhi n, đợt 1 thanh toán 24% tương đương 250.000.000 đồng sau khi tư vấn và báo giá ngày 27/11/2020 nhưng đến ngày 07/12/2020, Công ty A2 mới nhận được tiền đặt cọc theo nội dung của đợt 1( đặt cọc chi phí thiết kế giao diện).
Khi nhận được tiền cọc, Công ty A2 tiến hành thu thập dữ liệu và lấy ý kiến phác thảo hàng tuần gửi đến Công ty G1 đ báo cáo, trao đổi, cập nhật bản thiết kế giao diện và hoàn thành vào cuối tháng 12/2020, trong vòng 4 tuần (01 tháng) sau khi ký hợp đồng. Khi bàn giao nghiệm thu thì Công ty G1 yêu cầu chỉnh sửa lại bản thiết kế và phát sinh phụ lục số 02 ngày 31/03/2021 y u cầu kèm th m các tính năng trong thiết kế: tính năng booking xe, thủ tục hải quan, vận chuy n Bắc Nam làm kéo dài th m thời gian và chậm nghiệm thu giai đoạn 01 đến ngày 18/05/2021 thiết kế giao diện app mới được duyệt và bàn giao. Mặc dù giao diện phần book cước tàu/máy bay, xuất nhập tồn, quản lý KPI/nhân sự, kế toán tr n CMS không nằm trong y u cầu của đợt 1 theo phụ lục số 02 nhưng Công ty A2 vẫn phải thực hiện hết các phần n u tr n theo y u cầu của phía Công ty G1.
Như vậy, giai đoạn thiết kế bản vẽ giao diện App đã mất 115 ngày làm việc (05 tháng 11 ngày) và đây là thời gian không được tính trong thời hạn hợp đồng đã ký. Trong giai đoạn này, Công ty G1 đã cố ý làm chậm nghiệm thu và trì hoãn từng đợt thanh toán.
Trong khi vừa phải chỉnh sửa thiết kế giao diện vừa phát tri n mã nguồn (source) song song cho các tính năng hoạt động theo phụ lục. Đầu tháng 04/2021, Công ty G1 chỉ thanh toán cho Công ty A2 số tiền 150.000.000 đồng thay vì 200.000.000 đồng như thỏa thuận của hợp đồng (thanh toánh đợt 2) với lý do là thiếu một vài tính năng mặc dù tr n file thiết kế-figma đã có và muốn chỉnh sửa lại thiết kế. Công ty A2 một lần nữa phải chỉnh sửa lại thiết kế và chức năng mã nguồn giao diện app đ phù hợp với thiết kế theo y u cầu của phía Công ty G1.
Ngày 18/05/2021, Công ty G1 mới ký bi n bản bàn giao thiết kế giao diện và nhận mã nguồn (source) tính năng hoạt động, chạy được của giao diện trên ứng dụng và tr n website quản lý. Đến ngày 26/5/2021, bi n bản bàn giao được ký khi phía Công ty A2 giao tiếp mã nguồn (source) lập trình xử lý chi tiết, kết nối server cho các tính năng hoạt động, chạy được theo phụ lục.
Ngày 28/5/2021, Công ty A2 mới nhận th m được 50.000.000 đồng còn lại của Công ty G1 thanh toán đợt 2 (chậm 06 ngày từ ngày 18/5/2021 đến 28/5/2021).
Sau thời đi m tháng 5/2021 là giai đoạn Thành phố Hồ Chí Minh thực hiện giãn cách xã hội do dịch Covid-19. Công ty A2 cập nhật, chỉnh sửa, xử lý lập trình mã nguồn cho các chức năng còn lại hoạt động theo y u cầu và quản lý kỹ thuật trực tiếp bàn giao phần mã nguồn (source) ứng dụng và chạy thử nghiệm tr n mapbox toàn bộ dịch vụ của ứng dụng tr n 01 máy macbook của ông Dương Minh H1 (đại diện Công ty G1). Hai b n đã ký bi n bản bàn giao ngày 12/6/2021, đại diện Công ty G1 là anh Dương Minh Q ký có sự chứng kiến của ông Tổng giám đốc Dương Minh H1. Hai ngày sau (ngày 14/6/2021), Công ty A2 chỉ nhận được 70.000.000 đồng tiền thanh toán đợt 3 (lẽ ra là 200.000.000đồng) của Công ty G1 với lý do Công ty G1 yêu cầu sửa đổi , chuy n đổi ngôn ngữ sang golang.
Mặc dù trong hợp đồng không y u cầu chỉ định sử dụng lập trình ngôn ngữ nào nhưng Công ty A2 vẫn chuy n đổi theo đúng y u cầu mong muốn của Công ty G1. Thời gian Công ty A2 thực hiện giai đoạn 03 được tính từ ngày 26/5/2021, ngày hai b n ký bi n bản bàn giao hoàn thành xử lý lập trình mã nguồn cho toàn bộ tính năng của ứng dụng hoạt động và backend đến ngày 12/6/2021. Như vậy thời gian thực hiện đợt 03 là 10 ngày tính từ ngày 28/5/2021 – 12/6/2021. Công ty A2 đã chỉnh sửa và hoàn thành theo y u cầu nhưng Công ty G1 vẫn không thanh toán số tiền còn lại là 130.000.000 đồng ở giai đoạn này.
Đợt 4 (tháng 7/2021) vào thời đi m cả nước thực hiện giãn cách xã hội do dịch Covid-19. Mặc dù phần tiền giai đoạn 03 chưa được thanh toán hết như thỏa thuận nhưng đ đảm bảo tiến độ của hợp đồng được nhanh chóng không chậm trễ n n Công ty A2 vẫn tranh thủ chỉnh sửa lỗi phát sinh trong quá trình chạy thử nghiệm ban đầu ở đợt 03 và thực hiện giai đoạn 04 này trong thời gian đại dịch Covid-19 xảy ra khi cả nước thực hiện giãn cách xã hội. Ngày 14/7/2021 các tính năng của ứng dụng như thỏa thuận tr n hợp đồng đã được A và G duyệt cho thương mại nhưng Công ty G1 vẫn không thanh toán số tiền 200.000.000 đồng cho giai đoạn này.
Đây là A1 về vận tải phải y u cầu sử dụng bản đồ và G2 là dịch vụ chỉ định sử dụng tài khoản của Công ty G1 và trong nội dung hợp đồng cũng không có y u cầu Công ty A2 phải cung cấp dịch vụ này. Vì Google quản lý theo app id mà ứng dụng đứng t n Công ty G1 nên chủ ứng dụng có trách nhiệm thỏa thuận với b n thứ ba là Google M. Công ty G1 là người sử dụng ứng dụng phải có trách nhiệm mua dung lượng và thanh toán với Google M. Thế nhưng phía Công ty G1 lại y u cầu phía Công ty A2 phải cung cấp dịch vụ google map và không chịu thỏa thuận với G2 nên phía Công ty A2 buộc phải sử dụng tài khoản cá nhân dùng đ lập trình và chạy thử nghiệm đẩy nhanh tiến độ hoàn thành app đưa l n trình Appstore duyệt. Sau nhiều lần chỉnh sửa và không được duyệt, cuối cùng ngày 14/7/2021 Appstore cũng đã duyệt các tính năng như trong nội dung hợp đồng và theo các bi n bản bàn giao mà Công ty G1 đã ký ngày 18/5/2021, 26/5/2021 và 12/6/2021. Mặc dù, Công ty G1 đã nhận source và nhận bi n bản bàn giao nhưng vẫn không thanh toán số tiền cho giai đoạn 04 là 200.000.000 đồng khi A1 đã được A, G duyệt và các tính năng đã hoạt động như nội dung hợp đồng. Tính đến ngày app được A và G duyệt ngày 14/7/2021 thì Công ty A2 đã thực hiện giai đoạn 04 trong thời gian 23 ngày từ ngày 12/6/2021 đến 14/7/2021.
Như vậy, Công ty G1 là bên vi phạm hợp đồng.
Đợt 5: Thanh toán 19% tương đương 200.000.000 đồng ; giai đoạn bàn giao mã nguồn (source) cập nhật chỉnh sửa lỗi lần cuối. Công ty G1 đã nhận source đầy đủ qua 03 lần bàn giao có bi n bản. Ngay sau khi A1 được A và G duyệt Công ty A2 vẫn theo dõi li n lạc, chỉnh sửa lỗi cập nhật tình hình app hoạt động và sắp xếp chuẩn bị hướng dẫn kỹ thuật khi công ty G1 chạy thực nghiệm.
Trong thời gian tháng 7/2021 và tháng 8/2021 do việc giãn cách xã hội lâu, ảnh hưởng đến tình hoạt động kinh doanh n n Công ty A2 không còn đủ kinh phí đ duy trì. Vì vậy, n n Công ty A2 có y u cầu Công ty G1 thanh toán phần tiền nợ tr n nhưng phía Công ty G1 vẫn không thanh toán và đưa ra những y u cầu phải hoàn thành cho những hạng mục không nằm trong thỏa thuận hợp đồng, bao gồm: Yêu cầu gọi điện có tiếng và hình và cho đây là tính năng phải làm nhưng không có trong phụ lục hợp đồng. Phụ lục nêu rõ Công ty A2 chỉ cung cấp chat text; phải lập trình toàn bộ xử lý bằng ngôn ngữ golang, tính năng này cũng không có trong hợp đồng; phải chạy ứng dụng trên dịch vụ bản đồ Google Map, theo hợp đồng và phụ lục không có chi tiết kỹ thuật này; riêng yêu cầu chuyển đổi nhà cung cấp bản đồ Google Map, buộc Công ty A2 phải bỏ nhiều thời gian lập trình lại toàn bộ ứng dụng trên iOS và android để chạy trên Google M. Khi phía Công ty G1 chưa ký kết được với Google M, phía Công ty A2 vẫn hỗ trợ đàm phán mua lưu lượng với G2.
Tới đầu tháng 12/2021, nhân vi n kỹ thuật của Công ty A2 có đến công ty D1 vào máy của ông Dương Minh H1 bản cập nhật source lần cuối chạy trên mapbox. Cùng lúc đó, phía Công ty A2 cũng cho ông Dương Minh H1 xem bản demo chạy thử nếu đưa app vào Google M mặc dù tính năng này không nằm trong hợp đồng nhưng Công ty G1 yêu cầu Công ty A2 phải có trách nhiệm cung cấp. Việc mua lưu lượng sử dụng cho G2 không được thống nhất n n bi n bản bàn giao source cập nhật lần cuối chạy tr n mapbox không được ký nhận. Ngay sau đó Công ty A2 đã bị chặn toàn bộ tài khoản được cung cấp đ phát tri n ứng dụng tr n cả hai tài khoản A, G cùng server và chặn mọi li n lạc. B n kỹ thuật của Công ty A2 là ông Đinh Minh Q1 có gọi điện trực tiếp cho ông Dương Minh H1 đ y u cầu mở lại, nhưng phía ông Dương Minh H1 - đại diện nhân viên Đ trả lời: “làm ở ngoài đi, khi nào được thì cho vào lại”. Vì Công ty A2 đã bị chặn toàn bộ tài khoản được cung cấp đ phát tri n ứng dụng tr n cả hai tài khoản A và G sau khi app được duyệt và cùng với chặn tài khoản vps: 45.117.168.132 mua tại paviet. Toàn bộ dữ liệu nằm tr n các tài khoản tr n đều bị khóa n n Công ty A2 không th tiếp tục bảo trì hay giám sát chạy thử nghiệm. Kỹ thuật Công ty A2 cố gắng li n lạc mọi cách qua điện thoại, email và group Zalo nhằm duy trì app chạy ổn định nhưng không nhận được phản hồi. Công ty A2 luôn cố gắng đ đảm bảo tiến độ hợp đồng, ngay cả khi phía Công ty G1 có những y u cầu không nằm trong thỏa thuận hợp đồng thế nhưng Công ty G1 luôn gây khó khăn và cản trở Công ty A2. Việc cản trở của Công ty G1 đã gây thiệt hại nặng nề cho Công ty A2.
Mặc dù, Công ty A2 đã hoàn thành nội dung công việc theo thỏa thuận hợp đồng và bàn giao ứng dụng nhưng Công ty G1 vẫn không thanh toán số tiền còn thiếu cho Công ty A2 là 530.000.000 đồng.
Công ty A2 đã thực hiện xong các giai đoạn 1, 2, 3 và 4 theo hợp đồng các b n ký kết. Tuy nhi n sau khi thực hiện xong giai đoạn 4, Công ty G1 không ký xác nhận bàn giao và không cho Công ty A2 đăng nhập vào phần mềm đ thực hiện giai đoạn 5 n n Công ty A2 không thực hiện được giai đoạn 5. Các bi n bản bàn giao là do Công ty A2 lập tr n cơ sở ý kiến của Công ty G1 và sau đó đưa Công ty G1 ký xác nhận.
Sau một thời gian dài im lặng và không li n hệ hay giao dịch, mặc dù Công ty A2 đã nhiều lần li n hệ y u cầu Công ty G1 thanh toán số tiền còn thiếu và tiếp tục thực hiện hợp đồng. Đến tháng 05/2022 một lần nữa phía Công ty G1 có yêu cầu Công ty A2 giao th m ứng dụng giai đoạn 05 mà không có trong thỏa thuận hợp đồng. Mặc dù thế, phía Công ty A2 vẫn gửi thư báo kế hoạch chi tiết. Nhưng sau đó phía Công ty G1 gọi điện và gửi thư phản hồi thông báo của Công ty A2 là không nhận ứng dụng nữa y u cầu Công ty A2 trả lại tiền nếu không thì sẽ khởi kiện với lời nói đe dọa.
Ngày 17/6/2022, ông Dương Minh H1 có nhắn tin cho ông Đinh Minh Q1, y u cầu chốt thanh lý hợp đồng nếu kéo dài sẽ gây thiệt hại lớn hơn. Hai ngày sau đó tức là ngày 20/06/2022 Công ty A2 nhận được công văn thanh lý hợp đồng và y u cầu bồi thường với tổng số tiền là 1.165.000.000 đồng (Một tỷ một trăm sáu mươi lăm triệu đồng) và buộc Công ty A2 thanh toán trước ngày 25/06/2022. Nhận thấy y u cầu bồi thường của Công ty G1 là không có cơ sở và mang tính cưỡng ép khi Công ty G1 đang nợ tiền thanh toán và cản trở việc thực hiện chạy thử nhiệm, không hợp tác đ Công ty A2 hoàn thành nghiệm thu hợp đồng đúng thời hạn lại y u cầu bồi thường. Vì những lý do n u tr n, Công ty A2 không đồng ý đối với y u cầu khởi kiện của Công ty G1 và y u cầu Tòa án giải quyết các y u cầu sau:
- Y u cầu Công ty cổ phần G1 tiếp tục thực hiện hợp đồng xây dựng ứng dụng di động số: 001/HĐXDUDDĐ ngày 27/11/2020 và 02 (hai) phụ lục hợp đồng đã ký giữa Công ty cổ phần G1 và Công ty TNHH A2.
- Y u cầu Công ty Cổ phần G1 trả cho Công ty TNHH A2 số tiền còn thiếu là: 530.000.000 đồng (Năm trăm ba mươi triệu đồng).
- Y u cầu Công ty Cổ phần G1 trả cho Công ty TNHH A2 số tiền chậm thanh toán đến ngày xét xử với mức lãi suất 10%/năm là 107.340.700 đồng. Cụ th : Tính từ ngày 12/6/2021 tr n số tiền l30.000.000 đồng chưa thanh toán đợt 3; số tiền 200.000.000 đợt 4 chưa thanh toán tính từ ngày 14/7/2021 và số tiền 200.000.000 đồng đợt 05 tính từ ngày 30/11/2021.
Bản án kinh doanh, thương mại sơ thẩm số 25/2023/KDTM-ST ngày 25/9/2023 của Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Bình Dương đã quyết định:
1. Đình chỉ giải quyết đối với y u cầu khởi kiện của nguy n đơn Công ty cổ phần G1 về việc buộc Công ty TNHH A2 trả cho Công ty cổ phần G1 số tiền phạt vi phạm là 41.600.000 đồng và buộc Công ty TNHH A2 bồi thường do vi phạm hợp đồng cho Công ty Cổ phần G1 số tiền 1.165.000.000 đồng.
2. Chấp nhận một phần y u cầu khởi kiện của nguy n đơn Công ty cổ phần G1 đối với bị đơn Công ty TNHH A2.
Huỷ Hợp đồng xây dựng ứng dụng di động số 001/HĐXDUDDĐ ngày 27/11/2020 và 02 Phụ lục hợp đồng đã ký giữa Công ty cổ phần G1 với Công ty TNHH A2.
3. Không chấp nhận y u cầu khởi kiện của nguy n đơn Công ty cổ phần G1 về việc buộc Công ty TNHH A2 trả cho Công ty Cổ phần G1 số tiền đã nhận là 520.000.000 đồng.
4. Chấp nhận một phần y u cầu phản tố của bị đơn Công ty TNHH A2 đối với nguy n đơn Công ty Cổ phần G1.
Buộc Công ty Cổ phần G1 có trách nhiệm thanh toán cho Công ty TNHH A2 số tiền nợ 130.000.000 đồng và 29.564.600 đồng tiền lãi.
5. Không chấp nhận y u cầu phản tố của bị đơn Công ty TNHH A2 về việc y u cầu buộc Công ty Cổ phần G1 tiếp tục thực hiện hợp đồng ngày 27/11/2020 và các phụ lục hợp đồng; buộc Công ty cổ phần G1 thanh toán số tiền 400.000.000 đồng và 77.776.100 đồng tiền lãi.
Ngòai ra, bản án còn quyết định về án phí và tuy n quyền kháng cáo cho hai b n đương sự.
Ngày 26/9/2023, nguy n đơn Công ty Cổ phần G1 kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm và ngày 06/10/2023, bị đơn Công ty TNHH A2 kháng cáo một phần bản án sơ thẩm.
Tại phi n tòa,
Nguy n đơn giữ nguy n y u cầu khởi kiện và y u cầu kháng cáo, bị đơn xác định nội dung kháng cáo là chỉ kháng cáo một phần bản án sơ thẩm về việc bản án sơ thẩm không chấp nhận y u cầu buộc nguy n đơn phải thanh toán cho bị đơn số tiền 330.000.000 đồng (thanh toán đợt 3 và đợt 4).
Hai b n không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Ý kiến người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn:
Hợp đồng xây dựng ứng dụng di động số 001/HĐXDƯDĐ ngày 27/11/2020 là hợp đồng thực hiện theo từng giai đoạn. Ngày 07/12/2020, Công ty G1 đã thanh toán 250.000.000 đồng đ dảm bảo cho quá trình thiết kế ứng dụng theo nội dung hợp đồng.Đối với các đợt thanh toán tiếp theo, Công ty G1 đều thanh toán sau khi nhận bàn giao và ki m tra nội dung công việc mà Công ty A2 đã thực hiện.
Sau khi Công ty A2 thiết kế xong giao diện ứng dụng và bàn giao, Công ty G1 yêu cầu phải kèm theo các tính năng n n chưa duyệt giao diện ứng dụng; ngày 21/3/2021, hai b n ký phụ lục hợp đồng. Ngày 01/4/2021, Công ty G1 thanh toán 150.000.000 đồng đ Công ty A2 xây dựng các tính năng của ứng dụng. Ngày 26/5/2021, sau khi nhận bàn giao phần tính năng vận tải bắc nam, thủ tục hải quan, book cước tàu/máy bay, xuất nhập… ngày 28/5/2021, Công ty G1 thanh toán 50.000.000 đồng còn lại của giai đoạn 2.
Ngày 14/6/2021, sau khi hai b n ký bi n bản bàn giao các tính năng còn lại của ứng dụng và phần chính sửa hoàn thiện những sai sót của các tính năng thì Công ty G1 thanh toán 70.000.000 đồng của đợt 3, trước khi Công ty A2 tiến hành upload l n GooglePlay và A1 store beta pulic. Theo dự tính Công ty G1 sẽ thanh toán số tiền còn lại của đợt 3 (130.000.000đồng) sau khi Công ty A2 tiến hành upload ứng dụng, thế nhưng sau khi Công ty A2 tiến hành upload ứng dụng l n googleplay và A1 store beta pulic thành công thì Công ty G1 đã không thanh toán số tiền còn lại của đợt 3 mà y u cầu Công ty A2 phải thực hiện tiếp nội dung của đợt 4.
Như vậy, ngoài số tiền đặt cọc đợt 1, đợt 2 thì các lần thanh toán tiếp theo của Công ty G1 đều thanh toán sau khi Công ty A2 hoàn thành công việc của giai đoạn đó và tiến hành bàn giao cho Công ty G1. Việc bàn giao từng phần công việc theo đúng hợp đồng của công ty A2, công ty G1 đã nhận và sử dụng theo chứng cứ được ghi nhận tại Vi bằng lập ngày 13/7/2023 của Văn phòng T1.
Hợp đồng thanh toán theo từng đợt tương ứng với từng giai đoạn nên theo quy định tại khoản 1 Điều 519 của Bộ luật Dân sự năm 2015 và khoản 1 Điều 85 của Luật Thương mại năm 2005. Công ty G1 phải thanh toán số tiền 520.000.000 đồng cho Công ty A2 đúng thời hạn theo từng đợt thanh toán như đã thỏa thuận. Trường hợp hủy hợp đồng theo khoản 2 Điều 314 của Luật Thương mại năm 2005 thì Công ty A2 có quyền đòi lại lợi ích do việc đã thực hiện nghĩa vụ.
Từ căn cứ tr n, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị đơn, sửa bản án sơ thẩm, buộc Công ty G1 thanh toán thêm cho Công ty A2 số tiền còn thiếu của đợt 3 và đợt 4 là 330.000.000 đồng.
Ý kiến đại diện Viện Ki m sát nhân dân tỉnh Bình Dương:
Về tố tụng: Những người tiến hành tố tụng và tham gia tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung:
Căn cứ Hợp đồng và phụ lục hợp đồng, công việc thực hiện dự án phần mềm ứng dụng di động cũng như nghĩa vụ của các b n gắn liền với 05 đợt thanh toán theo thỏa thuận tại phụ lục hợp đồng ngày 31/03/2021 (bút lục 33-35) như sau: Đợt 1 là đặt cọc chi phí thiết kế giao diện và các tính năng, đợt 2 là đặt cọc chi phí phát tri n mã nguồn ứng dụng, đợt 3 là đặt cọc chi phí sau khi bị đơn bàn giao mã nguồn gốc tr n app..., đợt 4 là chi phí sau khi chỉnh sửa lỗi phát sinh và đợt 5 là giá trị dự án sau khi bàn giao toàn bộ mã nguồn gốc của toàn bộ dự án và không còn lỗi phát sinh. Thực hiện hợp đồng, các b n đã thực hiện và thanh toán xong đợt 1 và đợt 2. Tại phi n tòa phúc thẩm, bị đơn xác định bi n bản bản giao ngày 12/6/2021 (bút lục 89) là bi n bản khắc phục những phần còn thiếu chưa bàn giao tại bi n bản bàn giao ngày 26/5/2021 (bút lục 87). Đối chiếu hợp đồng kèm phụ lục hợp đồng thì bi n bản bàn giao ngày 12/6/2021 là công việc bị đơn thực hiện tại đợt 3 Điều 1 phụ lục hợp đồng ngày 31/3/2021, vì công việc của đợt 1và đợt 2 là thiết kế và phát tri n mã nguốn, không phải công việc bàn giao mã nguồn gốc ứng dụng (không mã hóa) của giao diện và các tính năng.
Như vậy, căn cứ bi n bản bàn giao ngày 12/6/2021 được hai b n đồng ý ký xác nhận; trang cuối của bi n bản bàn giao có dòng chữ in đậm “tất cả chi nhận source cms…”,đồng thời tại phi n tòa nguy n đơn thừa nhận “có nhận”, bị đơn thừa nhận “có giao” theo nội dung bi n bản này n n có cơ sở xác định bị đơn thực hiện xong công việc đợt 3 Điều 1 phụ lục hợp đồng ngày 31/3/2021.
Tại cấp phúc thẩm, nguy n đơn có đề cử một Kỹ sư phần mềm đ Tòa án lấy lời khai vào ngày 12/12/2023( người được lấy lời khai y u cầu giữ bí bật thông tin cá nhân); kỹ sư có Bằng cử nhân Kỹ thuật phần mềm do Hiệu trường trường Đại học F cấp ngày 17/03/2020, qua ki m tra căn cước công dân và bảng phụ lục hợp đồng lao động ngày 01/7/2023 do kỹ sư cung cấp có căn cử xác định vị kỹ sư đang làm việc tại Công ty T2 có chức năng xuất bản phần mềm, lập trình máy tính với mức lương là 36.670.000 đồng/tháng; ngoài ra không có tài liệu gì khác đ xác định ông là một “chuyên gia” trong lĩnh vực phần mềm, n n chưa đủ cơ sở vũng chắc xác định tư cách của ông là một chuyên gia trong lĩnh vực phần mềm. Do vậy, ý kiến của vị kỹ sư phần mềm chỉ mang tính chất tham khảo giúp Tòa án biết hi u rõ hơn về phần mềm ứng dụng di động đang tranh chấp đ xem xét trong quá trình giải quyết vụ án, không phải là chứng cứ giải quyết vụ án.
Từ chứng cứ tr n, có căn cứ xác định bị đơn đã thực hiện công việc đã thỏa thuận tại hợp đồng, phụ lục hợp đồng đến đợt 4. Tòa án cấp sơ thẩm xác định bị đơnđã thực hiện hợp đồng đến đợt 3 và buộc nguy n đơn thanh toán cho bị đơn đủ chi phí đợt 3, bác y u cầu của bị đơn về việc thanh toán đợt 4 là không phù hợp. Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm sửa một phần bản án sơ thẩm chấp nhận kháng cáo của bị đơn, không chấp nhận kháng cáo của nguy n đơn, buộc nguy n đơn tiếp tục thanh toán cho bị đơn số tiền đợt 4 của Hợp đồng là 200.000.000 đồng và lãi suất chậm thanh toán; giữ nguy n nội dung còn lại của bản án sơ thẩm.
Sau khi nghi n cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ và được thẩm tra tại phi n tòa; căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phi n tòa, ý kiến của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn, ý kiến của Ki m sát vi n;
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về tố tụng:
Tại phi n tòa phúc thẩm;
Nguy n đơn xác định kháng cáo bản án sơ thẩm đối với việc bản án sơ thẩm không chấp nhận y u cầu của nguy n đơn buộc bị đơn trả lại cho nguyên đơn 520.000.000đồng và đồng thời buộc nguy n đơn phải trả thanh toán cho bị đơn số tiền 130.000.000đồng và lãi suất chậm trả cho lần thanh toán đợt 3 (theo hợp đồng) cho bị đơn.
Bị đơn xác định kháng cáo bản án về việc không buộc nguy n đơn thanh toán đợt 4 với số tiền 200.000.000đồng và lãi suất chậm trả.
Tòa án cấp phúc thẩm xét xử vụ án trong phạm vi kháng cáo của hai bên đương sự theo quy định tại Điều 293 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Nguy n đơn Công ty G1 đặt hàng cho bị đơn Công ty A2 “thiết kế và viết phần mềm ứng dụng tr n nền tảng Android, iOs và W”. Hợp đồng có điều khoản ràng buộc Công ty A2 “Đảm bảo bản quyền sản phẩm, không chuyển giao sản phẩm cho đơn vị khác, và không được kinh doanh hoặc bán hệ thống giống mô hình này trên thị trường”. Theo quy định tại đi m m khoản 1 Điều 14 và Điều 22, Điều 36 của Luật Sở hữu trí tuệ thì chương trình phần mềm do Công ty A2 thiết kế theo hợp đồng là chương trình máy tính, chủ sở hữu chương trình máy tính này (sau khi hoàn thành) là Công ty G1. Do chương trình chưa hoành thành, chưa sử dụng được và đăng ký bảo hộ thì xảy ra tranh chấp n n cần áp dụng các quy định tương ứng của của Luật Thương mại và Bộ luật Dân sự đ giải quyết vụ án.
Hợp đồng giữa hai b n có nội dung tương tự quy định về hợp đồng gia công (gia công phần mềm vi tính) được quy định tại Điều 178 của Luật Thương mại và từ Điều 542 đến Điều 553 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Tòa án cấp sơ thẩm xác định quan hệ pháp luật tranh chấp của vụ án là “ tranh chấp về hợp đồng dịch vụ” là chưa chính xác.
Về nội dung:
Ngày 27/11/2020 và phụ lục hợp đồng ngày 31/3/2021 (hai b n thống nhất ghi nhầm ngày 31/3/2020), giữa Công ty G1 và Công Aina có các nội dung chính như sau:
Công ty G1 đặt hàng cho Công ty A2 “thiết kế và viết phần mềm ứng dụng tr n nền tảng Android, I và W”; phần mềm dùng đ Công ty G1 sử dụng trong việc quản lý, điều hành tài xế, vận chuy n hàng hóa… nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của công ty; tổng giá trị hợp đồng là 1.050.000.000 đồng; thời gian thực hiện hợp đồng là 193 ngày (không tính ngày lễ, chủ nhật và thời gian thiết kế giao diện);thanh toán làm 05 đợt theo kết quả thực hiện từng phần như đã n u tại phần nội dung (không ghi thời gian cụ th ), trách nhiệm khi bàn giao, nghiệm thu và thanh toán tiền được quy định:
Tại Điều III của hợp đồng ghi “Hai bên tiến hành tổng kết nghiệm thu trên cơ sở các công việc trong hợp đồng thiết kế phần mềm đã hoàn thiện, yêu cầu bổ sung chỉnh sửa đã hoàn tất, không còn yêu cầu phát sinh”.
Điều V của hợp đồng ghi “bên B (Công ty A2) có trách nhiệm bàn giao sản phẩm đúng tiêu chuẩn, chất lượng…Việc bàn giao phải được lập thành biên bản có chữ ký của đại diện hai bên...bên A (Công ty G1) chỉ đồng ý việc bàn giao sản phẩm phần mềm sau khi đã nghiệm thu và phần mềm đạt tiêu chuẩn, điều kiện như đã thỏa thuận…”
Ngày 07/12/2020, Công ty G1 đã tạm ứng cho Công ty A2 số tiền 250.000.000 đồng (đợt 1).
Bị đơn Công ty A2 chưa làm xong và bàn giao thiết kế giao diện nhưng nguy n đơn Công ty G1 vẫn thanh toán số tiền đợt 2 là 150.000.000 đồng( theo thỏa thuận đợt 2 là 200.000.000đồng) vào ngày 01/4/2021.
Bị đơn khai ngày 18/5/2021, bị đơn bàn giao thiết kế giao diện theo bi n bản bàn giao cùng ngày, đại diện nguy n đơn ki m tra và thống nhất nghiệm thu nhưng không ký bi n bản bàn giao; nguy n đơn thừa nhận có bàn giao thiết kế giao diện nhưng chưa đạt y u cầu, bị đơn phải chỉnh sửa lại nhưng vẫn không đạt, nguy n đơn không ký bi n bản bàn giao. Đối chiếu với thỏa thuận tại Điều 3 và Điều 5 của hợp đồng (đã trích dẫn ở tr n) thì bị đơn chưa hoàn thành việc “bàn giao thiết kế giao diện”. Tuy nhi n, nếu theo đúng ý kiến bị đơn đã bàn giao thiết kế giao diện ngày 18/5/2021 thì thời gian còn lại đ thực hiện hợp đồng là 193 ngày( không k thứ 7, chủ nhật và ngày nghỉ lễ).
Ngày 26/5/2021, hai b n ký bi n bản bàn giao ứng dụng và backend; bị đơn ký nhận và ghi vào tất cả các hạng mục bàn giao từ “Chưa”, chưa bàn giao, chưa hướng dẫn giải thích,“chưa hoàn thiện, chưa hoàn tất, yêu cầu phát sinh chưa thực hiện”. Tiếp đó, ngày 12/6/2023, hai b n ký bi n bản bàn giao ứng dụng và backend, phần cuối các hạng mục bàn giao có nội dung “tất cả chỉ nhận source cms, chưa kiểm tra được và run cms thử”.
Với nội dung hai b n đã thỏa thuận tại Điều 3, Điều 5 của Hợp đồng thì rõ ràng bị đơn Công ty A2 đã vi phạm hợp đồng,vì phần bàn giao chưa được thử nghiệm, nghiệm thu và xác nhận hoàn thành….Đ làm rõ về chuy n môn “phần mềm ứng dụng theo nội dung hợp đồng”, Tòa án có Thông báo cho 02 bên đương sự mời chuy n gia chuy n viết phần mềm đến Tòa đ làm rõ nội dung bi n bản bàn giao có tương ứng với các đợt thanh toán mà hai b n đã thỏa thuận hay không?
Tại văn bản ngày 19/12/2023, bị đơn trả lời Tòa án là không mời được chuyên gia.
Nguy n đơn có mời chuy n gia viết phần mềm là kỹ sư Lê Nguyễn Hoàng M1( làm việc tại công ty TNHH I1); tại bi n bản ghi lời khai ngày 12/12/2023, sau khi nghe Tòa án giải thích và xem các bi n bản bàn giao ngày 26/5/2021 và 12/6/2021 (có chữ ký và thừa nhận của hai b n), phụ lục hợp đồng ghi tiến độ thanh toán theo nội dung bàn giao, anh M trình bày:
“Phần mềm các bên tranh chấp là sản phẩm trí tuệ, ứng dụng trong sản xuất kinh doanh; phần mềm theo hợp đồng là một thể thống nhất không thể tách rời; thiết kế giao diện xem như được, nghiệm thu được; hai biên bản bàn giao chỉ là một phần tính năng mã nguồn nhưng chưa hoàn thành, chưa sử dụng được; nội dung bàn giao chỉ nằm ở phần thanh toán đợt 1 nhưng vẫn chưa hoàn chỉnh, chưa sử dụng được; từ đợt 2 trở đi không thấy biên bản bàn giao”.
Như vậy, đối chiếu với hợp đồng, phụ lục hợp đồng ngày 31/3/2021 và 02 bi n bản bàn giao có chữ ký của hai b n (26/5/2021 và 12/6/2021) và giải thích của chuy n gia độc lập thì có căn cứ xác định Công ty A2 vi phạm hợp đồng, chưa thực hiện đúng và đầy đủ tiến độ, nội dung theo quy định tại Điều 3 và Điều 5 của Hợp đồng; do đó, không có căn cứ xác định nguy n đơn có lỗi về điều khoản thanh toán được quy định tại phụ lục hợp đồng ngày 31/3/2021.
Đến ngày 20/6/2022, nguy n đơn gửi văn bản cho bị đơn y u cầu thanh lý hợp đồng và đến ngày 21/10/2022, nguy n đơn gửi văn bản y u cầu bị đơn chấm dứt hợp đồng, trả lại tiền đã nhận và bồi thường thiệt hại cho nguy n đơn.
Như đã n u tại mục 2.2 thời gian 193 ngày bắt đầu từ ngày 18/5/2021, đến ngày 20/6/2021 là 395 ngày, trừ ngày nghỉ lễ, thứ 7 và chủ nhật 115 ngày còn 250 ngày; nếu tính đến ngày 21/10/2022 là 413 ngày(trừ ngày nghĩ lễ và thứ 7, chủ nhật còn 298 ngày). Do đó, có căn cứ rõ ràng bị đơn công ty A2 đã vi phạm tiến độ thực hiện hợp đồng.
Bị đơn chứng minh nguy n đơn sử dụng sản phẩm của mình bằng vi bằng do Văn phòng T1 lập ngày 13/7/2023. Tuy nhi n, vi bằng mà bị đơn đưa ra đ làm bằng chứng có nội dung chưa rõ ràng. Bị đơn cho rằng nguy n đơn đang sử dụng phần mềm do bị đơn thiết kế( theo hợp đồng) nhưng lại dùng tài khoản của bị đơn đăng nhập vào phần mềm này là không phù hợp, bỡi lẽ nguy n đơn sử dụng phầm mềm cho mục đích kinh doanh ri ng thì phải có mật khẩu ri ng, không phải bất kỳ ai cũng đăng nhập từ tài khoản của cá nhân mình được. Vi bằng do bị đơn giao nộp không phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ (hợp đồng, phụ lục hợp đồng và 02 bi n bản bàn giao), không phù hợp thực tế n n không có giá trị chứng minh cho lời khai của bị đơn.
So sánh đối chiếu giữa nội dung hợp đồng,phụ lục hợp đồng và 02 bi n bản giao nhận có chữ ký của hai b n thì bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ cơ bản của hợp đồng(thời gian trễ hạn theo hợp đồng từ 52 ngày đến 100 ngày, 02 bi n bản giao nhận chưa hoàn thành, chưa nghiệm thu…), vi phạm của bị đơn là “sự vi phạm hợp đồng của một bên gây thiệt hại cho bên kia( nguyên đơn) đến mức làm cho bên kia không đạt được mục đích của việc giao kết hợp đồng” (khoản 13 Điều 3 của Luật Thương mại). Do đó, nguy n đơn y u cầu hủy bỏ hợp đồng là đúng quy định tại đi m a khoản 4 Điều 312 của Luật Thương mại.
Dù chưa hoàn chỉnh nhưng bị đơn đã thực hiện một phần hợp đồng và bàn giao cho nguy n đơn. Tòa án cấp sơ thẩm xử hủy hợp đồng, hai b n chấp nhận và không kháng cáo; hậu quả của hợp đồng bị hủy trong trường hợp này,
Điều 314 của Luật Thương mại quy định:
“1. Trừ trường hợp quy định tại Điều 313 của Luật này, sau khi hủy bỏ hợp đồng, hợp đồng không có hiệu lực từ thời điểm giao kết, các bên không phải tiếp tục thực hiện các nghĩa vụ đã thỏa thuận trong hợp đồng, trừ thỏa thuận về các quyền và nghĩa vụ sau khi hủy bỏ hợp đồng và về giải quyết tranh chấp.
2. Các bên có quyền đòi lại lợi ích do việc đã thực hiện phần nghĩa vụ của mình theo hợp đồng; nếu các bên đều có nghĩa vụ hoàn trả thì nghĩa vụ của họ phải được thực hiện đồng thời; trường hợp không thể hoàn trả bằng chính lợi ích đã nhận thì bên có nghĩa vụ phải hoàn trả bằng tiền.
3. Bên bị vi phạm có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại theo quy định của Luật này.
Sau khi hủy bỏ hợp đồng, hợp đồng không có hiệu lực từ thời điểm giao kết…các bên hoàn trả cho nhau những gì đã nhận...trường hợp không hoàn trả được lợi ích đã nhận thì phải hoàn trả bằng tiền.
Về Hợp đồng gia công, Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định:
Điều 548 về trách nhiệm chịu rủi ro: Cho đến khi giao sản phẩm cho bên đặt gia công, bên nào là chủ sở hữu của nguyên vật liệu thì phải chịu rủi ro đối với nguyên vật liệu hoặc sản phẩm được tạo ra từ nguyên vật liệu đó, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
Khi bên nhận gia công chậm giao sản phẩm mà có rủi ro đối với sản phẩm gia công thì phải bồi thường thiệt hại xảy ra cho bên đặt gia công.
Khoản 1 Điều 550 quy định: Trường hợp bên nhận gia công chậm giao sản phẩm thì bên đặt gia công có thể gia hạn; nếu hết thời hạn đó mà bên nhận gia công vẫn chưa hoàn thành công việc thì bên đặt gia công có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng và yêu cầu bồi thường thiệt hại.
Hợp đồng giữa hai bên là “ Hợp đồng gia công phần mềm”, nguyên vật liệu chính là sản phẩm trí tuệ của bên nhận gia công( công ty A2), bên nhận gia công phải chịu rủi ro đối với sản phẩm không sử dụng được.
Bị đơn có lỗi do vi phạm nghĩa vụ cơ bản của hợp đồng, nguy n đơn có quyền hủy bỏ hợp đồng, yêu cầu bị đơn trả lại tiền bồi thường thiệt hại;bị đơn có quyền yêu cầu nguy n đơn thanh toán lại phần lợi ích đã nhận. Tuy nhi n, nguyên đơn đã rút y u cầu bồi thường thiệt hại, nguy n đơn không sử dụng được lợi ích đối với sản phẩm bị đơn đã bàn giao và cũng không th giao trả lại cho bị đơn “phầm mềm chưa hoàn thành” theo hợp đồng.
Mặt khác, một sản phẩm trí tuệ phải là một sản phẩm hoàn chỉnh và sử dụng, ứng dụng được. Công ty A2 vi phạm hợp đồng về tiến độ bàn giao, nghiệm thu, không hoàn thành một chương trình máy tính đ ứng dụng vào thực tế; Công ty G1 không sử dụng được, không ứng dụng được.Khi hợp đồng bị hủy bỏ, Công ty G1 cũng không th hoàn trả cho Công ty A2 một phần mềm máy tính chưa hoàn chỉnh mà Công ty A2 bàn giao. Tòa án cấp sơ thẩm tuy n hủy bỏ hợp đồng là đúng nhưng giải quyết hậu quả của hợp đồng chưa đúng với tính chất của hợp đồng. Trong trường hợp này, quyền sở hữu đối với “ ứng dụng phần mềm” chưa hoàn chỉnh do Công ty A2 thiết kế vẫn thuộc quyền sở hữu của Công ty A2; do đó, áp dụng quy định về hậu quả của Hợp đồng vô hiệu tại Luật Thương mại và quy định tương tự của Luật sở hữu trí tuệ, cần phải cấm Công ty G1 ứng dụng hoặc phát tri n ứng dụng tr n nền tảng giao diện phần mềm mà Công ty A2 đã thiết kế và bàn giao cho Công ty G1 theo hợp đồng.
Với phân tích tr n, Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của nguy n đơn Công ty G1; không chấp nhận kháng cáo của bị đơn Công ty A2.
Ý kiến của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn Công ty A2 chưa đúng với nội dung, tính chất của hợp đồng và các chứng cứ có trong hồ sơ.
Đại diện Viện Ki m sát nhân dân tỉnh Bình Dương đề nghị Hội đồng xét xử sửa bản án sơ thẩm, chấp nhận kháng cáo của bị đơn, không chấp nhận kháng cáo của nguy n đơn là chưa phù hợp.
Án phí kinh doanh, thương mại sơ thẩm: Các b n phải chịu theo quy định của pháp luật.
Án phí kinh doanh, thương mại phúc thẩm: Do sửa bản án kinh doanh, thương mại sơ thẩm n n người kháng cáo không phải chịu.
Vì các lẽ tr n;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều: 147, khoản 2 Điều 148, đi m c khoản 2 Điều 203,khoản 2 Điều 308, Điều 309 và Điều 313 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Khoản 13 Điều 3, Điều 178, đi m a khoản 4 Điều 312, Điều 314 của Luật Thương mại;
Điều 427, Điều 548, khoản 1 Điều 550 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ khoản 2 Điều 29 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Khóa XIV quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Một phần bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật như sau:
1.1. Đình chỉ giải quyết đối với y u cầu khởi kiện của nguy n đơn Công ty Cổ phần G1 về việc buộc bị đơn Công ty Trách nhiệm hữu hạn A2 trả cho Công ty Cổ phần G1 số tiền phạt vi phạm là 41.600.000 đồng và buộc Công ty Trách nhiệm hữu hạn A2 bồi thường do vi phạm hợp đồng cho Công ty Cổ phần G1 số tiền 1.165.000.000 đồng.
1.2. Huỷ Hợp đồng xây dựng ứng dụng di động số 001/HĐXDUDDĐ ngày 27/11/2020 và 02 Phụ lục hợp đồng đã ký giữa Công ty Cổ phần G1 với Công ty Trách nhiệm hữu hạn A2.
Không chấp nhận y u cầu phản tố của Công ty Trách nhiệm hữu hạn A2 về việc buộc Công ty Cổ phần G1 phải thanh toán đợt 5 (theo Hợp đồng số 001/HĐXDUDDĐ ngày 27/11/2020) với số tiền 200.000.000 đồng và lãi suất chậm thanh toán 38.888.000 đồng.
2. Chấp nhận y u cầu kháng cáo của nguy n đơn Công ty Cổ phần G1;
Sửa một phần Bản án kinh doanh, thương mại sơ thẩm số 25/2023/KDTM-ST ngày 25/9/2023 của Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Bình Dương như sau:
2.1. Xác định quan hệ pháp luật tranh chấp giữa nguy n đơn Công ty Cổ phần G1 đối với bị đơn Công ty Trách nhiệm hữu hạn A3 là “tranh chấp về hợp đồng gia công”.
2.2. Chấp nhận y u cầu khởi kiện của nguy n đơn Công ty Cổ phần G1 đối với bị đơn Công ty Trách nhiệm hữu hạn A2.
Buộc Công ty Trách nhiệm hữu hạn A2 phải trả lại cho Công ty Cổ phần G1 số tiền đã nhận là 520.000.000 đồng (năm trăm hai mươi triệu đồng).
Cấm Công ty Cổ phần G1 ứng dụng hoặc phát tri n ứng dụng tr n nền tảng giao diện phần mềm mà Công ty A2 đã thiết kế và bàn giao cho Công ty G1 theo Hợp đồng xây dựng ứng dụng di động số 001/HĐXDUDDĐ ngày 27/11/2020 (phần thực hiện tại 02 bi n bản bàn giao ngày 26/5/2021 và ngày 12/6/2021).
K từ ngày có đơn y u cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, b n phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
3. Không chấp nhận y u cầu kháng cáo của bị đơn Công ty Trách nhiệm hữu hạn A2;
Không chấp nhận y u cầu phản tố của bị đơn Công ty Trách nhiệm hữu hạn A2 về việc buộc nguy n đơn Công ty Cổ phần G1 tiếp tục thanh toán tiền đợt 3 cho Công ty Trách nhiệm hữu hạn A2 số tiền là 130.000.000 đồng + lãi chậm thanh toán là 29.564.600 đồng và thanh toán tiền đợt 4 là 200.000.000 đồng + lãi chậm thanh toán là 38.888.000 đồng.
4. Án phí kinh doanh, thương mại sơ thẩm:
Công ty Trách nhiệm hữu hạn A2 phải chịu 39.553.578 đồng (ba mươi chín triệu, năm trăm năm mươi ba ngàn, năm trăm bảy mươi tám đồng), được khấu trừ vào số tiền 14.880.608 đồng (mười bốn triệu, tám trăm tám mươi ngàn, sáu trăm lẻ tám đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Bi n lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004497 ngày 10/5/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố T, tỉnh Bình Dương. Công ty Trách nhiệm hữu hạn A2 còn phải chịu 24.672.970 đồng (hai mươi bốn triệu, sáu trăm bảy mươi hai ngàn, chín trăm bảy mươi đồng).
Công ty Cổ phần G1 không phải chịu. Chi cục Thi hành án dân sự thành phố T trả lại cho Công ty Cổ phần G1 34.899.000 đồng (ba mươi bốn triệu, tám trăm chín mươi chín ngàn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Bi n lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004001 ngày 20/02/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố T, tỉnh Bình Dương.
5. Án phí kinh doanh, thương mại phúc thẩm: Công ty Cổ phần G1, Công ty Trách nhiệm hữu hạn A2 không phải chịu. Chi cục Thi hành án dân sự thành phố T trả lại cho Công ty G1, Công ty Trách nhiệm hữu hạn A2, mỗi công ty 2.000.000 đồng (hai triệu đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo các Bi n lai thu số 0013249 ngày 18/10/2023, 0001703 ngày 26/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố T, tỉnh Bình Dương.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền y u cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7A và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật k từ ngày tuy n án./.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Bình Dương; - Chi cục THADS thành phố T; - TAND thành phố T; - Các đương sự (đ thi hành); - Lưu: Hồ sơ, Tổ Hành chính Tư pháp; Tòa Kinh tế. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Đào Minh Đa |