- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Chí T - Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? 1/ Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Chí T và kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thị xã NH, sửa bản án hình sự sơ thẩm về hình phạt.
- Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KH Bản án số: 55/2018/HSPT | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
Ngày: 14/5/2018
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà LÂM VƯƠNG MỸ LINH
Các Thẩm phán:
1/ Ông LÊ THÀNH TRUNG
2/ Bà BÙI THỊ NGHĨA
- Thư ký phiên tòa: Bà LÊ THỊ QUỲNH TRANG – Thư ký Tòa án, Tòa án
nhân dân tỉnh KH
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh KH tham gia phiên tòa: Ông PHẠM
BAI - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 5 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh KH xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 40/2018/HSPT ngày 08 tháng 3 năm 2018 đối với bị cáo Nguyễn Chí T, do có kháng cáo của bị cáo và kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thị xã NH, tỉnh KH đối với bản án hình sự sơ thẩm số 07/2018/HSST ngày 23-24/01/2018 của Tòa án nhân dân thị xã NH, tỉnh KH.
- Bị cáo có kháng cáo và bị kháng nghị:
NGUYỄN CHÍ T - Sinh năm 1996 tại KH
Nơi cư trú: Thôn HPB 2, xã NP, thị xã NH, tỉnh KH.
Nghề nghiệp: công nhân; Trình độ văn hoá: 9/12; Dân tộc: Kinh;
Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam
Con ông: chưa xác định và bà: Nguyễn Thị V – Sinh năm: 1973
Chưa có vợ con
Tiền án, tiền sự: Không
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt tại phiên toà.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Sáng ngày 30/6/2017, Nguyễn Chí T đi xe môtô đến nhà bà Nguyễn Thị H ở Tổ dân phố PĐ1, phường NĐ gửi rồi đi xe đưa đón công nhân đến Công ty TNHH tàu biển HV thuộc thôn MG, xã NP, thị xã NH để làm việc. Khoảng 8 giờ cùng ngày T xin về sớm, khi ra trước cổng thấy bãi giữ xe của Công ty không có người trông coi thì nảy sinh ý định chiếm đoạt, T đi vào trong lấy chìa khóa của mình mở khóa xe mô tô biển số 79R2-3774 của ông Đặng Ngô Trung H dắt ra ngoài rồi nổ máy chạy về nhà bà H gửi, sau đó lấy xe của mình đi về. Đến ngày 07/7/2017 T đang liên hệ với người khác để bán xe trộm cắp thì bị phát hiện.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 63/KL-HĐĐG ngày 14/7/2017 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã NH kết luận xe mô tô biển số 79R2-3774 có giá trị là 4.725.000 đồng.
Bản án hình sự sơ thẩm số 07/2018/HSST ngày 23-24/01/2018 của Tòa án nhân dân thị xã NH, tỉnh KH đã quyết định: Căn cứ khoản 1 điều 138, điểm g, h, p khoản 1, khoản 2 điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999, xử phạt Nguyễn Chí T 6 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Ngày 29/01/2018, bị cáo Nguyễn Chí T có đơn kháng cáo xin được hưởng án treo.
Ngày 05/01/2018 Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thị xã NH có quyết định kháng nghị đề nghị xét xử phúc thẩm vụ án theo hướng cho bị cáo Nguyễn Chí T được hưởng án treo. Ngày 09/5/2018, Viện kiểm sát nhân dân thị xã NH có thông báo đính chính số 08/CV-VKS với nội dung: do sai sót trong đánh máy nên đính chính ngày kháng nghị theo quyết định kháng nghị phúc thẩm số 92/QĐ-VKS-HS là ngày 05/2/2018.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Chí T giữ nguyên nội dung kháng cáo. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ninh Hòa, chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Chí T, xem xét các tình tiết giảm nhẹ: bị cáo phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đồng thời xem xét việc bị cáo có nơi ở ổn định, có nhân thân tốt để sửa bản án sơ thẩm, cho bị cáo được hưởng án treo.
Tại lời nói sau cùng, bị cáo Nguyễn Chí T xin Hội đồng xét xử xem xét hoàn cảnh gia đình của bị cáo, cho bị cáo được hưởng án treo.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, của bị cáo,
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tính hợp pháp của kháng cáo, kháng nghị:
Đơn kháng cáo được bị cáo nộp trực tiếp cho Tòa án nhân dân thị xã NH vào ngày 29/01/2018 và quyết định kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thị xã NH được ban hành vào ngày 05/2/2018, được Tòa án nhân dân thị xã NH tiếp nhận ngày 07/02/2018. Theo quy định tại Điều 333, Điều 337 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, đơn kháng cáo của bị cáo và kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân thị xã NH là hợp pháp, do đó, Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm chấp nhận xem xét giải quyết đơn kháng cáo của bị cáo và kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân thị xã NH theo trình tự phúc thẩm.
Về trách nhiệm hình sự của bị cáo:
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Chí T thừa nhận toàn bộ hành vi bị cáo đã thực hiện như nội dung bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân thị xã NH. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Có đủ cơ sở để xác định rằng, vào ngày 30/6/2017, lợi dụng lúc không có người quan sát, bị cáo đã có hành vi lén lút chiếm đoạt chiếc xe máy biển kiểm soát 79R2-3774 của anh Đặng Ngô Trung H. Như vậy, hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội danh và hình phạt được quy định tại khoản 1 điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999.
Về nội dung kháng cáo của bị cáo:
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự ở địa phương. Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Nguyễn Chí T như: sau khi phạm tội, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo là thanh niên mới lớn, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, tài sản được thu hồi và đã trả lại cho chủ sở hữu, gây thiệt hại không lớn, theo các điểm g, h, p khoản 1 và khoản 2 điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999 là đầy đủ và phù hợp với quy định của pháp luật. Tuy nhiên, xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu và có nơi cư trú ổn định nên không cần phải bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù mà cần thiết cho bị cáo được hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách và buộc bị cáo thực hiện các nghĩa vụ trong thời gian thử thách theo quy định của pháp luật. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo và kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân thị xã NH, sửa án sơ thẩm, cho bị cáo được hưởng án treo.
Về án phí: Bị cáo Nguyễn Chí T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời gian kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm b khoản 1 điều 355, điểm e khoản 1 điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
1/ Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Chí T và kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thị xã NH, sửa bản án hình sự sơ thẩm về hình phạt.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Chí T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 138; điểm g, h, p khoản 1, khoản 2 Điều 46, điều 60 Bộ luật Hình sự năm 1999; điều 135, điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; khoản 2 điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
Xử phạt bị cáo NGUYỄN CHÍ T 6 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 1 năm, kể từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Giao bị cáo Nguyễn Chí T cho Ủy ban nhân dân xã NP – thị xã NH – tỉnh KH theo dõi giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 điều 69 Luật Thi hành án hình sự.
2/ Về án phí: Bị cáo Nguyễn Chí T không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.
3/ Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh KH - Công an TX NH - VKSND TX NH - Chi cục THADS TX NH - TAND TX NH - Sở Tư pháp tỉnh KH - Vụ GDDKT1 - TANDTC - Bị cáo - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) LÂM VƯƠNG MỸ LINH |