- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội "Trộm cắp tài sản" - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Nguyễn Văn H phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 138 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BUÔN HỒ TỈNH ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 55/2017/HSST Ngày 08-11-2017 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BUÔN HỒ, TỈNH ĐẮK LẮK
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Kim Chung
Các hội thẩm nhân dân:
1. Bà Hoàng Vạn Sinh.
2. Ông Nguyễn Văn Thức.
Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Văn Khanh– Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Buôn Hồ, tỉnh Đắk Lắk.
Đại diện VKSND thị xã Buôn Hồ, tỉnh Đăk Lăk tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Toản - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 11 năm 2017, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Buôn Hồ, tỉnh Đắk Lắk tiến hành xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 56/2017/HSST ngày 09 tháng 10 năm 2017, đối với bị cáo:
NGUYỄN VĂN H, sinh ngày 04-9-1991, tại tỉnh Đắk Lắk; nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: Tổ dân phố X, phường A, thị xã B, tỉnh Đắk Lắk; nơi cư trú: Không ổn định; dân tộc: Kinh; nghề nghiệp: Thợ sơn; trình độ học vấn: 6/12; con ông Nguyễn Văn Đ, con bà Huỳnh Thị H; bị cáo sống chung như vợ chồng với chị Hoàng Thị H và có 01 con sinh năm 2011; tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Tại bản án số 47/2013/HSST, ngày 25/9/2013 của Tòa án nhân dân thị xã Buôn Hồ, tỉnh Đắk Lắk xử phạt bị cáo 06 tháng tù về tội trộm cắp tài sản, ngày 13/12/2013 chấp hành xong hình phạt.
Bị bắt tạm giam từ ngày 14-8-2017 cho đến nay - Có mặt tại phiên tòa.
* Ngƣời bị hại: Ông Nguyễn Quang T, sinh năm 1954, có mặt
Địa chỉ: Số Y đường K, TDP Z, phường B, thị xã B, Đắk Lắk.
* Ngƣời làm chứng:
- Anh Nguyễn Quang L, sinh năm 1985, có mặt
Địa chỉ: TDP Z, phường B, thị xã B, Đắk Lắk.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài tiệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 12 giờ ngày 14/8/2017 Nguyễn Văn H, bắt xe Buýt đi từ thành phố Buôn Ma Thuột về thị xã Buôn Hồ, khi đi H mang theo 01 vam phá khóa hình chữ T bằng kim loại với mục đích trộm cắp xe máy bán lấy tiền tiêu xài. Khoảng 13 giờ cùng ngày, H xuống xe Buýt tại TDP 9, phường An Bình, thị xã Buôn Hồ rồi đi bộ dọc theo đường Hùng Vương hướng từ thị xã Buôn Hồ đi thành phố Buôn Ma Thuột đến ngã ba giao nhau giữa đường Hùng Vương và đường An Dương Vương cạnh cây xăng Lộc Nhung, H quan sát thấy dãy nhà trọ của bà Nguyễn Thị L có một chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream biển số 47H1-6274 của ông Nguyễn Quang T đang dựng trước hành lang của dãy trọ không có người trông coi. Lúc này H lén lút đi đến chiếc xe đang dựng thấy xe không khóa cổ thì dắt ra đến cổng rồi dùng vam phá khóa mở khóa điện nổ máy và điều khiển xe chạy vể hướng thành phố Buôn Ma Thuột để tẩu thoát và tìm nơi tiêu thụ. Sau đó, H điều khiển xe mô tô đi vào tiệm vá lốp của ông Trần Đình Th tại TDP M, phường B, thị xã B hỏi bán chiếc xe vừa trộm cắp với giá 2.000.000 đồng thì gặp anh Nguyễn Quang L là con trai ông Nguyễn Quang T đang ngồi chơi ở quán, thấy chiếc xe mô tô giống xe của bố mình nên anh L đề nghị H cho mượn xe mô tô chạy thử thì H đồng ý. Anh L liền điều khiển xe về nhà bố mình tại phường B, thị xã B rồi gọi điện cho ông T thì được ông T cho biết mới bị mất chiếc xe mô tô. Nghe vậy anh L đến Công an phường B trình báo sự việc. Sau đó lực lượng Công an phường B đến tiệm vá lốp của ông Th mời H về trụ sở làm việc.
Vật chứng vụ án Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Buôn Hồ thu giữ gồm: 01 dụng cụ phá khóa bằng kim loại hình chữ T, phần tay nắm dài 10,5cm, phần phá khóa dài 12cm, đầu phá khóa lưỡi hình dẹp đường kính 8mm; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream biển số 47H1 – 6274, số khung C100M-8180181, số máy C100ME-8180181; 01 giấy đăng ký mô tô, xe máy số AO 139157 mang tên Lê T, hiện nay Cơ quan điều tra đã trả lại xe mô tô và và giấy đăng ký cho ông Nguyễn Quang T là người quản lý và sử dụng hợp pháp.
Bản kết luận định giá tài sản số: 303/HĐĐG ngày 14/8/2017 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự, kết luận: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream biển số 47H1 – 6274, số khung C100M-8180181, số máy C100ME-8180181 có giá trị là 7.000.000 đồng.
Quá trình điều tra, bị cáo Nguyễn Văn H đã khai nhận hành vi phạm tội của mình.
Tại bản cáo trạng số 57/KSĐT – HS, ngày 09 tháng 10 năm 2017 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Buôn Hồ đã truy tố bị cáo về tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Buôn Hồ phân tích, chứng minh hành vi phạm tội, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội đối với hành vi phạm tội của bị cáo và giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng khoản 1 Điều 138; điểm g, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 của BLHS, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.
* Về các biện pháp tƣ pháp:
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 41 Bộ luật hình sự và điểm a khoản 2 Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên tịch thu và tiêu huỷ 01 dụng cụ phá khóa bằng kim loại hình chữ T, phần tay nắm dài 10,5cm, phần phá khóa dài 12cm, đầu phá khóa lưỡi hình dẹp đường kính 8mm, đây là công cụ bị cáo sử dụng vào việc phạm tội không có giá trị sử dụng.
Áp dụng khoản 2 Điều 41 Bộ luật hình sự và điểm b khoản 2 Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Buôn Hồ đã trả lại xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream, biển số 47H1-6274, số khung C100M-8180181, số máy C100ME- 8180181 và giấy đăng ký mô tô, xe máy số AO 139157 mang tên Lê T cho ông Nguyễn Quang T là người quản lý và sử dụng hợp pháp.
Tại phiên tòa, bị cáo không có tranh luận, bào chữa gì nhất trí với nội dung của bản cáo trạng và luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Buôn Hồ truy tố bị cáo về tội Trộm cắp tài sản. Người bị hại không có yêu cầu gì về phần trách nhiệm dân sự và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Trong phần nói lời sau cùng, bị cáo chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Căn cứ vào các chứng cứ và các tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện, chứng cứ, ý kiến kiểm sát viên, của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như hành vi mà Viện kiểm sát nhân dân thị xã Buôn Hồ, tỉnh Đắk Lắk truy tố bị cáo theo nội dung bản cáo trạng. Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Buôn Hồ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Buôn Hồ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người bị hại không có người nào có ý kiến hoặc kH nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người bị hại, người làm chứng và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập có trong hồ sơ vụ án.
Vào khoảng 13 giờ ngày 14/8/2017, Nguyễn Văn H đã có hành vi trộm cắp 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream biển số 47H1 – 6274, số khung C100M-8180181, số máy C100ME-8180181 có giá trị là 7.000.000 đồng của ông Nguyễn Quang T tại tổ dân phố C, phường A, thị xã B.
Xét quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Buôn Hồ tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt được áp dụng đối với bị cáo là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận
Như vậy đã có đủ cơ sở kết luận rằng hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự.
Khoản 1 Điều 138 BLHS quy định:
Người nào trộm cắp tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.
Bị cáo Nguyễn Văn H là người có đầy đủ năng lực pháp luật và năng lực hành vi, có khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi của bản thân trong cuộc sống. Bị cáo biết được rằng tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ. Mọi hành vi trái pháp luật xâm phạm đến tài sản thuộc quyền sở hữu của người khác đều bị pháp luật hình sự trừng trị, nhưng vì với bản chất lười lao động lại muốn có tiền để tiêu xái cá nhân, bị cáo đã chuẩn bị phương tiện để thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến tài sản của công dân, xâm hại đến tình hình trật tự trị an tại địa phương, gây bức xúc trong dư luận. Do vậy, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự do hành vi của mình gây ra.
Bị cáo có nhân thân xấu, tại bản án số 47/2013/HSST, ngày 25/9/2013 của Tòa án nhân dân thị xã Buôn Hồ, tỉnh Đắk Lắk xử phạt bị cáo 06 tháng tù về tội trộm cắp tài sản, quá trình chấp hành xong hình phạt tù khi hòa nhập lại với cộng đồng bị cáo đã không chịu sửa chữa, tu dưỡng để trở thành người công dân có ích cho xã hội, mà bị cáo còn tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội.
Tuy nhiên, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, thể hiện sự ăn năn hối cải; phạm tội gây thiệt hại không lớn; tài sản đã được trao trả cho người bị hại và được người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm g, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự.
Về xử lý vật chứng: Cần tịch thu và tiêu huỷ 01 dụng cụ phá khóa bằng kim loại hình chữ T, phần tay nắm dài 10,5cm, phần phá khóa dài 12cm, đầu phá khóa lưỡi hình dẹp đường kính 8mm, đây là công cụ bị cáo sử dụng vào việc phạm tội không có giá trị sử dụng, là phù hợp điểm a khoản 1 Điều 41 Bộ luật hình sự và điểm a khoản 2 Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự
Việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Buôn Hồ đã trả lại xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream, biển số 47H1-6274, số khung C100M-8180181, số máy C100ME- 8180181 và giấy đăng ký mô tô, xe máy số AO 139157 mang tên Lê T, cho ông Nguyễn Quang T là người quản lý và sử dụng hợp pháp, là phù hợp khoản 2 Điều 41 Bộ luật hình sự và điểm b khoản 2 Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự, nên cần chấp nhận.
Về án phí: Bị cáo H phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Nguyễn Văn H phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 138; điểm g, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt tại giam ngày 14-8-2017.
* Về các biện pháp tƣ pháp:
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 41 Bộ luật hình sự và điểm a khoản 2 Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự: Tuyên tịch thu và tiêu huỷ 01 dụng cụ phá khóa bằng kim loại hình chữ T, phần tay nắm dài 10,5cm, phần phá khóa dài 12cm, đầu phá khóa lưỡi hình dẹp đường kính 8mm, đây là công cụ bị cáo sử dụng vào việc phạm tội không có giá trị sử dụng.
Áp dụng khoản 2 Điều 41 Bộ luật hình sự và điểm b khoản 2 Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự: Chấp nhận việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Buôn Hồ đã trả lại xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream, biển số 47H1-6274, số khung C100M-8180181, số máy C100ME- 8180181 và giấy đăng ký mô tô, xe máy số AO 139157 mang tên Lê T cho ông Nguyễn Quang T là người quản lý và sử dụng hợp pháp.
* Về án phí: Căn cứ Điều 99 BLTTHS; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Nguyễn Văn H phải chịu 200.000 đồng án phí HSST.
* Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người bị hại được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Đắk Lắk; - TAND tỉnh Đắk Lắk; - Sở tư pháp tỉnh Đắk Lắk; - VKSND thị xã Buôn Hồ; - Công an thị xã Buôn Hồ; - Chi cục THADS thị xã Buôn Hồ; - Bị cáo; đương sự liên quan; - Lưu HSVA, VPCQ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Trƣơng Kim Chung |