vanban.org

Bản án 54/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Châu Thành, tỉnh An Giang Tuyên án 27/09/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Mai Công D phạm tội “Tổ chức đánh bạc”.

Xử phạt: Bị cáo Mai Công D 60.000.000 đồng (Sáu mươi triệu đồng). Hình phạt bổ sung: Không áp dụng đối với bị cáo. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Mai Công D phạm tội tổ chức đánh bạc k1 Điều 322 - phạm tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc (điều 322 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLH…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Mai Công D phạm tội “Tổ chức đánh bạc”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHÂU THÀNH
TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 54/2023/HS-ST
Ngày: 27-9-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hà Thị Mỹ Linh

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trần Thành Hiệp

2. Ông Nguyễn Hoàng Tiến

- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Anh Đào - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành tham gia phiên tòa: Ông Hồ Hoàng Vũ - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 48/2022/TLST-HS ngày 11 tháng 9 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 49/2023/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 9 năm 2023, đối với bị cáo:

Mai Công D (Danh Què), sinh năm 1983; Nơi sinh: tại An Giang; Nơi cư trú: Ấp V, xã V, huyện C, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Không; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Đạo Phật; quốc tịch: Việt Nam; trình độ học vấn: Không biết chữ; con ông Mai Công Đ, sinh năm 1965 và bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1963; anh chị em ruột có 06 người, bị cáo là người thứ hai trong gia đình; bị cáo có vợ là Lê Thị Út H, sinh năm 1994 và một người con, sinh năm 2013.

* Quá trình nhân thân: Từ nhỏ đến lớn sống cùng gia đình tại ấp V, xã V, huyện C, tỉnh An Giang, không đi học.

+ Ngày 20/7/2015, Mai Công D bị Công an huyện C, tỉnh An Giang ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính 7.500.000 đồng, về hành vi tổ chức đánh bạc trái phép bằng hình thức đá gà được thua bằng tiền, ngày 22/7/2015 đóng phạt xong.

+ Ngày 12/12/2016, Mai Công D bị Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh An Giang ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính 10.000.000 đồng, về hành vi tổ chức hoạt động cá cược ăn tiền trái phép (cá độ bóng đá), ngày 13/12/2016 đóng phạt xong.

+ Ngày 30/7/2020, Mai Công D bị Công an xã V, huyện C, tỉnh An Giang ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính 2.000.000 đồng, về hành vi đánh bạc trái phép bằng hình thức đá gà, lắc tài xỉu được thua bằng tiền, ngày 07/9/2020 đóng phạt xong.

- Tiền án: Không.

- Tiền sự: Ngày 10/5/2022, Mai Công D bị Công an huyện C, tỉnh An Giang ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính 2.000.000 đồng, về hành vi đánh bạc trái phép bằng hình thức lắc tài xỉu được thua bằng tiền, ngày 19/5/2022 đóng phạt xong.

- Bị can Mai Công D bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/6/2023, đến ngày 08/9/2023, được hủy bỏ biện pháp tạm giam và bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cứ trú cho đến nay.

Bị cáo tại ngoại và có mặt tại phiên tòa.

- Người bào chữa cho bị cáo Mai Công D là: Bà Phạm Thanh Ái D1, sinh năm 1981 - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước. Địa chỉ: 8 đường L, phường M, thành phố L, An Giang, (có mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Anh Trương Văn C, sinh năm 1995 (vắng mặt);

Cư trú: Ấp V, xã V, huyện C, tỉnh An Giang.

2. Anh Nguyễn Văn N1, sinh năm 1991 (vắng mặt);

Cư trú: Ấp T, xã T, huyện C, tỉnh An Giang.

3. Anh Nguyễn Phước T, sinh năm 1988 (vắng mặt);

Cư trú: Ấp L, xã L, huyện C, tỉnh An Giang.

4. Anh Nguyễn Văn T1, sinh năm 1993 (vắng mặt);

Cư trú: Số B L, khóm E, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang.

5. Anh Lê Văn H1, sinh năm 1978 (vắng mặt);

Cư trú: Ấp T, xã V, huyện T, tỉnh An Giang.

6. Anh Nguyễn Văn P, sinh năm 1976 (vắng mặt);

Cư trú: Ấp T, xã T, huyện C, tỉnh An Giang.

- Người làm chứng:

1. Anh Nguyễn Văn O, sinh năm 1945 (vắng mặt);

Cư trú: Ấp T, xã T, huyện C, tỉnh An Giang.

2. Anh Nguyễn Văn G, sinh năm 1983 (vắng mặt);

Cư trú: Ấp V, xã V, huyện C, tỉnh An Giang.

3. Anh Đặng Văn T2, sinh năm 1978 (vắng mặt);

Cư trú: Ấp T, xã V, huyện T, tỉnh An Giang.

4. Anh Nguyễn Thành P1, sinh năm 1984 (vắng mặt);

Cư trú: Ấp T, xã T, huyện C, tỉnh An Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 13 giờ ngày 19/01/2023, nhận được tin báo của quần chúng nhân dân, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện C đến khu vực ấp T, xã T, huyện C, tỉnh An Giang phát hiện, bắt quả tang Mai Công D và Trương Văn C có hành vi tổ chức đánh bạc trái phép bằng hình thức đá gà, lắc tài xỉu được thua bằng tiền cho Nguyễn Văn N1, Nguyễn Phước T, Lê Văn H1, Nguyễn Văn T1 tham gia đánh bạc.

Quá trình điều tra xác định: Ngày 18/01/2023, Mai Công D điều khiển xe mô tô 03 bánh biển số: 67C1 - 430.31 chở Trương Văn C đến nhà Nguyễn Văn P tại ấp T, xã T, huyện C, tỉnh An Giang hỏi mượn phần đất trống phía sau nhà P để D tổ chức đánh bạc bằng hình thức đá gà, lắc tài xỉu được thua bằng tiền để thu tiền xâu thì P đồng ý. Sau đó, D đưa tiền cho C đi mua dụng cụ, chuẩn bị địa điểm tổ chức đánh bạc.

Khoảng 11 giờ ngày 19/01/2023, D điều khiển xe mô tô 03 bánh biển số: 67C1

- 430.31 chở C đem dụng cụ phục vụ cho việc tổ chức đánh bạc đến địa điểm đã chuẩn bị để tổ chức đánh bạc. D cung cấp băng keo, cựa sắt tổ chức cho những người nam (không rõ họ tên, địa chỉ) đá 01 độ gà giữa con gà trống điều xanh và con gà trống điều đỏ, với số tiền đặt cược là 600.000 đồng, kết thúc trận gà D thu tiền xâu 100.000 đồng. Cùng lúc này, D đưa cho C 1.200.000 đồng và bộ D2 lắc tài xỉu gồm: 03 hột xí ngầu, 01 nắp nhựa, 01 chén sành để C làm cái lắc tài xỉu. C làm cái lắc tài xỉu được được 03 ván cho nhiều người nam (không rõ họ tên, địa chỉ) tham gia đặc cược, 02 ván đầu mở tài, thắng 30.000 đồng, ván thứ 03 mở xỉu, thua 10.000 đồng. C chuẩn bị lắc tài xỉu ván kế tiếp và các đối tượng đang cáp độ gà thứ hai nhưng chưa thả đá thì bị lực lượng Công an bắt quả tang. Quá trình điều tra, D bỏ trốn bị Cơ quan điều tra ra Quyết định truy nã, đến ngày 19/6/2023, D đến Công an xã V đầu thú.

Ngày 22/5/2023, Mai Công D bị Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện C khởi tố để điều tra.

* Vật chứng thu giữ:

- 03 hột xí ngầu; 01 chén sành; 01 nắp nhựa; 01 tấm bạc màu xanh - cam có dán băng keo chữ “T - X”; 01 tấm bạc có sọc trắng - xanh - đỏ; 01 tấm nhựa trong suốt; 01 cặp cựa bằng kim loại; 01 cân đồng hồ; 01 hộp băng keo vải.

- 01 xe mô tô biển số: 67C1 - 430.31, nhãn hiệu: Honda, số loại: Wave Alpha, màu sơn: Xanh - đen - bạc, số máy: JA39E0018591, số khung: RLHJA3905HY019629; 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Samsung, màu trắng; 3.650.000 đồng (thu giữ của Mai Công D).

- 01 xe mô tô biển số: 67N4 - 1285, nhãn hiệu: ZINDA, số loại: C110, màu sơn: Đỏ - xám, số máy: 00182560, số khung: 182560 (đã trao trả cho Lê Văn H1).

- 01 xe mô tô biển số: 67B1 - 696.14, nhãn hiệu: Hongda, số loại: 110, màu sơn: Xanh, số máy: VLVN252FMH0067337, số khung: VTTPCG002YVN0066337 (đã trao trả cho Nguyễn Văn T1).

- 01 điện thoại di động, nhãn hiệu SamSung A13, màu xám; 6.050.000 đồng (đã trao trả cho Nguyễn Phước T 5.500.000 đồng).

- 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Oppo, màu xanh đen; 540.000 đồng (đã trao trả cho Nguyễn Văn N1 01 điện thoại di động).

- 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Oppo, màu xanh đen (đã trao trả cho Đặng Văn T2).

- Số tiền 830.000 đồng (đã trao trả cho Nguyễn Văn G).

- Số tiền 300.000 đồng (đã trao trả cho Đặng Thiện T3).

Tại cáo trạng số 50/CT-VKSCT-HS ngày 09/9/2023 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang truy tố để xét xử bị cáo Mai Công D về tội “Tổ chức đánh bạc” theo khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Lời khai của những người làm chứng và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Trương Văn C, Nguyễn Văn N1, Nguyễn Phước T, Nguyễn Văn T1, Lê Văn H1, Nguyễn Văn P trong quá trình điều tra đều phù hợp với nội dung vụ án đã nêu. (Bút lục số: 36 - 39, 41 - 42, 52 - 53; 56 - 57; 82 - 83, 146 - 147 ).

Tại phiên tòa: Bị cáo Mai Công D khai nhận hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng đã nêu.

Đại diện Viện kiểm sát trình bày nội dung luận tội tại phiên tòa: Giữ nguyên nội dung cáo trạng truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 322, điểm p, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Mai Công D từ 60.000.000 đồng đến 80.000.000 đồng về tội “Tổ chức đánh bạc”.

Không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung.

- Về vật chứng: Căn cứ Điều 46, Điều 47 và Điều 48 của Bộ Luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 và Điều 106 của Bộ Luật Tố tụng Hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét:

Tịch thu tiêu hủy 03 hột xí ngầu; 01 chén sành; 01 nắp nhựa; 01 tấm bạc màu xanh - cam có dán băng keo chữ “T - X”; 01 tấm bạc có sọc trắng - xanh - đỏ; 01 tấm nhựa trong suốt; 01 cặp cựa bằng kim loại; 01 cân đồng hồ; 01 hộp băng keo vải đã qua sử dụng, do liên quan đến việc phạm tội.

Trao trả cho bị cáo: 01 xe mô tô biển số: 67C1 - 430.31, nhãn hiệu: Honda, số loại: Wave Alpha, màu sơn: Xanh - đen - bạc, số máy: JA39E0018591, số khung: RLHJA3905HY019629; 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Samsung, màu trắng; do xe và điện thoại không sử dụng vào việc phạm tội.

Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước:

- Tiền ngân hàng N2 là 3.650.000 đồng của bị cáo sử dụng vào việc phạm tội;

- Tiền ngân hàng N2 là 540.000 đồng của Nguyễn Văn N1 và số tiền 550.000 đồng của Nguyễn Phước T do những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan sử dụng vào việc đánh bạc.

Trong phần tranh luận, bị cáo không có ý kiến tranh luận, đồng ý theo quyết định truy tố và quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát, không có ý kiến khác.

Những người có quyền lời nghĩa vụ liên quan cùng những người làm chứng đều vắng mặt tại phiên tòa, nhưng quá trình điều tra có lời khai phù hợp với lời khai của bị cáo và những tình tiết vụ án.

Bà Phạm Thanh Ái D1 - Trợ giúp viên pháp lý nhà nước tỉnh An Giang trình bày quan điểm bào chữa cho bị cáo Mai Công D:

- Về tội danh: Thống nhất với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát đối với tội danh.

- Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ sau:

+ Tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, do trình độ học vấn thấp; thuộc thành phần lao động nghèo, bị cáo là người khuyết tật nặng, không được giáo dục tốt, bản thân bị cáo chưa có tiền án;

+ Đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo ở mức 60.000.000 đồng cũng đủ để răn đe bị cáo.

Lời nói sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để bị cáo có điều kiện lo cho gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về thủ tục tố tụng:

Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện C, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm: Trương Văn C, Nguyễn Văn N1, Nguyễn Phước T, Nguyễn Văn T1, Lê Văn H1, Nguyễn Văn P, những người làm chứng Nguyễn Văn O, Nguyễn Văn G, Đặng Văn T2, Nguyễn Thành P1 đã được triệu tập hợp lệ những vẫn vắng mặt. Xét thấy, những người này đã có lời khai trong hồ sơ vụ án nên việc vắng mặt của họ không gây cản trở cho việc xét xử. Căn cứ Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.

Về nội dung: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Mai Công D khai nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung Cáo trạng mà đại diện Viện kiểm sát đã công bố. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra, truy tố; lời khai của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 11 giờ ngày 19/01/2023, bị cáo điều khiển xe mô tô 03 bánh biển số: 67C1 - 430.31 chở C đem dụng cụ đã được chuẩn bị sẵn đến phần đất trống phía sau nhà Nguyễn Văn P để tổ chức đánh bạc. Bị cáo đã tổ chức đá 01 độ gà, với số tiền đặt cược là 600.000 đồng, thu tiền xâu 100.000 đồng. Cùng lúc này, bị cáo đưa cho C 1.200.000 đồng và bộ dụng cụ lắc tài xỉu để C làm cái lắc được 03 ván: 02 ván đầu thắng 30.000 đồng, ván thứ 03 thua 10.000 đồng. C chuẩn bị lắc tài xỉu ván kế tiếp và các đối tượng đang cáp độ gà thứ hai nhưng chưa thả đá thì bị lực lượng Công an bắt quả tang cùng những người tham gia đánh bạc gồm: Nguyễn Văn N1, Nguyễn Phước T, Lê Văn H1, Nguyễn Văn T1.

Bản thân bị cáo có một tiền sự về hành vi đánh bạc trái phép bằng hình thức lắc tài xỉu được thua bằng tiền vào ngày 10/5/2022, bị Công an huyện C, tỉnh An Giang ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính 2.000.000 đồng. Ngày 19/5/2022 đóng phạt xong, nhưng chưa hết thời hiệu được xem là chưa bị xử phạt hành chính. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức đánh bạc” theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

“Khoản 1 Điều 322 quy định: Tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc.

1. Người nào tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc trái phép thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a)…….

…….

đ) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi quy định tại Điều này hoặc hành vi quy định tại Điều 321 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 321 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm.

2. …

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang đã truy tố bị cáo về tội danh, điều luật như trên là đúng người, đúng tội và phù hợp với quy định pháp luật.

Đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội:

Bị cáo là người đã trưởng thành, có năng lực trách nhiệm hình sự đầy đủ, có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình, biết rõ hành vi tổ chức đánh bạc dưới hình thức đá gà, lắc tài xỉu được thua bằng tiền là vi phạm pháp luật, nhưng vì bản tính nghiện cờ bạc, vì lòng tham, muốn có tiền mà không bỏ công sức lao động chính đáng nên đã bất chấp quy định pháp luật, vẫn cố ý thực hiện hành vi tổ chức đánh bạc cho các đối tượng khác tham gia đánh bạc, để thu lợi bất chính.

Bản thân bị cáo có một tiền sự về hành vi đánh bạc, lẽ ra bị cáo phải biết sửa chữa sai lầm, lo làm việc chân chính, để trở thành người công dân tốt, giúp ích cho xã hội. Ngược lại, bị cáo tiếp tục phạm tội, điều này thể hiện bị cáo xem thường pháp luật và ý thức sửa đổi bản thân kém. Hành vi của các bị cáo không chỉ xâm phạm đến trật tự công cộng mà còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự địa phương. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm, phù hợp tính chất và mức độ phạm tội mà bị cáo gây ra nhầm mục đích răn đe, giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích. Qua đó, cũng nhầm mục đích giáo dục người khác tôn trọng pháp luật, đấu tranh phòng và chống loại tội phạm này đang diễn ra phổ biến tại địa phương.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo tỏ rõ thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo không biết chữ, nhận thức pháp luật còn hạn chế và là người khuyết tật nặng. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng điểm p, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để xem xét giảm nhẹ cho bị cáo khi lượng hình như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.

Mặt khác, bị cáo D là người mất khả năng đi lại, việc di chuyển phải cần có người phụ giúp. Xét, điều kiện sức khỏe và khả năng tự cải tạo của bị cáo, Hội đồng xét xử không cần thiết cách ly bị cáo với bên ngoài xã hội, áp dụng hình phạt chính là phạt tiền đối với bị cáo Mai Công D cũng đủ tác dụng giáo dục, răn đe, cải tạo bị cáo trở thành người công dân có ích cho xã hội.

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng:

- 03 hột xí ngầu; 01 chén sành; 01 nắp nhựa; 01 tấm bạc màu xanh - cam có dán băng keo chữ “T - X”; 01 tấm bạc có sọc trắng - xanh - đỏ; 01 tấm nhựa trong suốt; 01 cặp cựa bằng kim loại; 01 cân đồng hồ; 01 hộp băng keo vải.

Các vật chứng nêu trên không có giá trị sử dụng, căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định tịch thu và tiêu hủy.

- Trao trả cho bị cáo: 01 (một) xe mô tô biển số: 67C1 - 430.31, nhãn hiệu: Honda, số loại: Wave Alpha, màu sơn: Xanh - đen - bạc, số máy: JA39E0018591, số khung: RLHJA3905HY019629; 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Samsung, màu trắng do xe và điện thoại bị cáo không sử dụng vào việc phạm tội;

- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền 3.650.000 đồng của bị cáo D sử dụng vào việc phạm tội; số tiền 540.000 đồng của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Nguyễn Văn N1 và số tiền 550.000 đồng của Nguyễn Phước T sử dụng vào việc đánh bạc;

(Theo Quyết định chuyển vật chứng số 41/QĐ-VKSCT-HS ngày 09/9/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành).

- 01 (một) xe mô tô biển số: 67N4 - 1285, nhãn hiệu: ZINDA, số loại: C110, màu sơn: Đỏ - xám, số máy: 00182560, số khung: 182560; 01 (một) xe mô tô biển số: 67B1 - 696.14, nhãn hiệu: Honda, số loại: 110, màu xanh: Xanh, số máy: VLVN252FMH0067337, số khung: VTTPCG002YVN0066337; 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu SamSung A13, màu xám; 02 (hai) điện thoại di động, nhãn hiệu Oppo, màu xanh đen; Xét thấy các vật chứng này không có liên quan đến việc phạm tội, trong quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã trả lại cho các chủ sở hữu là có căn cứ.

- Tiền Việt Nam gồm: 830.000 đồng của Nguyễn Văn G; 300.000 đồng của Đặng Thiện T3; 5.500.0000 đồng của Nguyễn Phước T. Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã trả lại cho Nguyễn Văn G, Đặng Thiện T3, Nguyễn Phước T là có cơ sở.

Về các vấn đề khác: Đối với Trương Văn C, Nguyễn Phước T, Nguyễn Văn N1, Lê Văn H1 và Nguyễn Văn T1 đã có hành vi “Đánh bạc” nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự nên Công an huyện C đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính là phù hợp và có căn cứ.

Nguyễn Văn P có hành vi cho bị cáo mượn phần đất thuộc quyền sở hữu, quản lý của P để bị cáo tổ chức đánh bạc, P không có tiền án, tiền sự, hành vi của P chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự nên Công an huyện C đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính là đúng quy định.

Nguyễn Văn G, Đặng Thiện T3 và Đặng Văn T2 không tham gia chơi đánh bạc nên Công an huyện C không xử phạt vi phạm hành chính là phù hợp.

Đề nghị của Viện kiểm sát: Xét ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa về tội danh, điều khoản, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Mai Công D và các vấn đề khác trong vụ án là phù hợp và có căn cứ nên được chấp nhận.

Về án phí:

Bị cáo là người khuyết tật nặng và có đơn xin miễn án phí nên Hội đồng xét xử chấp nhận cho bị cáo được miễn nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Mai Công D phạm tội “Tổ chức đánh bạc”.

Căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 322; Điều 35, Điều 50, điểm p, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

- Xử phạt: Bị cáo Mai Công D 60.000.000 đồng (Sáu mươi triệu đồng).

Hình phạt bổ sung: Không áp dụng đối với bị cáo.

Căn cứ vài các Điều 46, 47 và 48 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu và tiêu hủy: 03 hột xí ngầu; 01 chén sành; 01 nắp nhựa; 01 tấm bạc màu xanh - cam có dán băng keo chữ “T - X”; 01 tấm bạc có sọc trắng - xanh - đỏ; 01 tấm nhựa trong suốt; 01 cặp cựa bằng kim loại; 01 cân đồng hồ; 01 hộp băng keo vải.

Trao trả cho bị cáo: 01 xe mô tô biển số: 67C1 - 430.31, nhãn hiệu: Honda, số loại: Wave Alpha, màu sơn: Xanh - đen - bạc, số máy: JA39E0018591, số khung: RLHJA3905HY019629; 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Samsung, màu trắng;

Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền 3.650.000 đồng (Ba triệu, sáu trăm năm mươi nghìn đồng) của bị cáo D; số tiền 540.000 đồng (Năm trăm bốn mươi nghìn đồng) của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Nguyễn Văn N1 và số tiền 550.000 đồng (Năm trăm năm mươi nghìn đồng) của Nguyễn Phước T;

(Theo Quyết định chuyển vật chứng số 41/QĐ-VKSCT-HS ngày 09/9/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành).

Căn cứ khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333, Điều 336 và Điều 337 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy Ban thường vụ Quốc Hội khóa 14 ngày 30/12/2016: Bị cáo Mai Công D được miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáođược quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, để yêu cầu xét xử phúc thẩm.

Đối với những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, sự tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án.

Cỡ chữ