vanban.org

Bản án 54/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh Tuyên án 31/07/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Hồ Thị Hồng L phạm tội “Buôn bán hàng cấm”.

Xử phạt bị cáo Hồ Thị Hồng L nộp phạt số tiền 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng). Về vật chứng: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "mua bán hàng cấm bị cáo Hồ Thị Hồng l - phạm tội sản xuất, buôn bán hàng cấm (điều 190 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Hồ Thị Hồng L phạm tội “Buôn bán hàng cấm”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CẦU NGANG
TỈNH TRÀ VINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 54/2023/HS-ST.
Ngày 31/7/2023.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦU NGANG TỈNH TRÀ VINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lý Thanh Lâm.

Các Hội thẩm nhân dân: - Ông Nguyễn Văn Hoành.

- Ông Đường Thế Biền.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Đầy, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Đẳng, Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 54/2023/TLST-HS, ngày 23 tháng 6 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 55/2023/QĐXXST-HS, ngày 13 tháng 7 năm 2023 và Thông báo dời ngày xét xử số: 03/TB-TA, ngày 21/7/2023 đối với:

- Bị cáo Hồ Thị Hồng L, sinh ngày 01 tháng 01 năm 1964, nơi sinh tại tỉnh Lâm Đồng. Nơi cư trú: Ấp L, xã L, huyện C, tỉnh Trà Vinh; nghề nghiệp: Mua bán; trình độ học vấn 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hồ T (chết) và bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1935; chồng tên Lâm Văn M, sinh năm 1962; có 03 người, lớn nhất sinh năm 1986, nhỏ nhất sinh năm 1999. Anh, chị, em ruột có 04 người (kể cả bị cáo), lớn nhất sinh năm 1957, nhỏ nhất sinh năm 1979. Tiền án: Không; tiền sự: 01 lần, ngày 07/7/2022 bị Đội Quản lý thị trường S thuộc Cục Quản lý thị trường tỉnh T xử phạt vi phạm hành chính về hành vi buôn bán hàng cấm là thuốc lá điếu nhập lậu với số tiền 2.000.000 đồng, đã chấp hành nộp phạt xong ngày 08/7/2022; nhân thân: Có tiền sự; Bị cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 29/3/2023 cho đến nay. Bị cáo có mặt.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

- Ông Lâm Văn M, sinh năm 1962. Có mặt.

- Anh Lâm Hoàng T1, sinh năm 1986. Có mặt.

Cùng cư trú: Ấp L, xã L, huyện C, tỉnh Trà Vinh.

Vật chứng cần đưa ra xem xét tại phiên tòa gồm: Thuốc lá điếu nhập lậu 1.483 (một nghìn bốn trăm tám mươi ba) bao. Trong đó: 878 (tám trăm bảy mươi tám) bao nhãn hiệu HERO; 602 (sáu trăm lẽ hai) bao nhãn hiệu JÉT và 03 (ba) bao nhãn hiệu SCOTT, được niêm phong trong thùng giấy C.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bị cáo Hồ Thị Hồng L làm nghề kinh doanh mua bán hàng tạp hoá ngụ ấp L, xã L, huyện C, tỉnh Trà Vinh. Vào khoảng 16 giờ ngày 01/02/2023 có một người thanh niên (không rõ họ tên, địa chỉ) đến cửa hàng của bị cáo trao đổi về việc mua bán thuốc lá điếu nhập lậu nhãn hiệu HERO, JET để bán lại cho người khác, mục đích kiếm lời, bị cáo đồng ý.

Đến khoảng 04 giờ ngày 02/02/2023, người thanh niên trên chở thuốc lá điếu nhập lậu đến cửa hàng của bị cáo với số lượng 1400 bao (một ngàn bốn trăm bao) gồm thuốc lá điếu nhập lậu nhãn hiệu HERO, JET (bị cáo không nhớ số lượng từng loại cụ thể). Bị cáo nhận số thuốc lá điếu nhập lậu này và trả cho người thanh niên số tiền khoảng 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng).

Sau khi mua được số thuốc lá nhập lậu, bị cáo đem vào cửa hàng cất giấu nhằm mục đích nếu có khách đến hỏi mua bị cáo sẽ bán lại kiếm lời. Đến khoảng 12 giờ cùng ngày, có một người thanh niên (không rõ họ tên, địa chỉ) đến hỏi mua của bị cáo 10 bao thuốc lá nhãn hiệu HERO, trong lúc bị cáo đang cầm số thuốc lá giao cho người thanh niên thì bị lực lượng Công an huyện C đến kiểm tra phát hiện. Sau đó, bị cáo tự nguyện giao nộp 1473 (một ngàn bốn trăm bảy mươi ba) bao thuốc lá nhập lậu đang cất giữ trong cửa hàng gồm: 868 (tám trăm sáu mươi tám) bao thuốc lá nhãn hiệu HERO; 602 (sáu trăm lẻ hai) bao thuốc lá nhãn hiệu JET; 03 (ba) bao thuốc lá nhãn hiệu SCOTT. Công an tiến hành lập biên bản tạm giữ, niêm phong vật chứng nêu trên để xử lý theo quy định của pháp luật.

Kết quả kiểm tra, xác minh lý lịch nhân thân bị cáo: Vào ngày 07/7/2022 bị cáo đã bị Đội Quản lý thị trường S thuộc Cục Quản lý thị trường tỉnh T xử phạt vi phạm hành chính về hành vi buôn bán hàng cấm là thuốc lá điếu nhập lậu với số tiền 2.000.000 đồng, bị cáo đã chấp hành nộp phạt xong vào ngày 08/7/2022 thì đến ngày 02/02/2023 bị cáo tiếp tục thực hiện hành vi mua bán thuốc lá điếu nhập lậu nêu trên.

Ngày 29/3/2023 Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện C ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị cáo Hồ Thị Hồng L và ra Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 29/3/2023 cho đến nay.

Vật chứng của vụ án:

- Ngày 22/5/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã trả lại cho bị cáo 01 giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh số 58F8 002298, tên hộ kinh doanh Hồ Thị Hồng L do không liên quan đến vụ án.

- Thuốc lá điếu nhập lậu 1483 (một nghìn bốn trăm tám mươi ba) bao, trong đó 878 (tám trăm bảy mươi tám) bao nhãn hiệu HERO; 602 (sáu trăm lẻ hai) bao nhãn hiệu JET và 03 (ba) bao nhãn hiệu SCOTT, được niêm phong trong thùng giấy C (Hiện còn đang quản lý);

Đối với người thanh niên – người đã bán cho bị cáo 1400 bao thuốc lá điếu nhập lậu, do bị cáo khai không rõ họ tên, địa chỉ cụ thể của người thanh niên này nên chưa mời làm việc, khi nào mời làm việc được có đủ cơ sở sẽ xử lý sau.

Đối với ông Lâm Văn M là chồng của bị cáo và anh Lâm Hoàng T1 là con của bị cáo đều biết bị cáo buôn bán hàng cấm là thuốc lá điếu nhập lậu, mặt dù đã can ngăn nhưng bị cáo vẫn thực hiện. Tuy nhiên, ông M và anh T1 không có tham gia giúp sức cho bị cáo thực hiện hành vi này, nên không xem xét xử lý.

Tại bản Cáo trạng số: 37/CT-VKS-HS, ngày 22/6/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh, quyết định truy tố bị cáo Hồ Thị Hồng L về tội “Buôn bán hàng cấm” quy định tại điểm e khoản 1 Điều 190 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo Hồ Thị Hồng L khai nhận: Khoảng 04 giờ sáng, ngày 02/02/2023 bị cáo có mua 1400 bao thuốc lá điếu nhập lậu nhãn hiệu HERO, JET của một người thanh niên không rõ họ tên, địa chỉ cụ thể đem bán cho bị cáo, đến khoảng 12 giờ cùng ngày, bị cáo đang bán 10 bao thuốc lá điếu nhập lậu nhãn hiệu HERO cho một người thanh niên không rõ họ tên, địa chỉ cụ thể thì bị lực lượng Công an đến kiểm tra phát hiện, lập biên bản tạm giữ 1483 bao thuốc lá điếu nhập lậu bao gồm 878 bao nhãn hiệu HERO, 602 bao nhãn hiệu JET và 03 (ba) bao nhãn hiệu SCOTT.

Bị cáo khai nhận: Ngày 07/7/2022 bị Đội Quản lý Thị trường S thuộc Cục Quản lý Thị trường tỉnh T xử phạt vi phạm hành chính về hành vi buôn bán hàng cấm là thuốc lá điếu nhập lậu với số tiền 2.000.000 đồng, bị cáo đã chấp hành nộp phạt xong số tiền vào ngày 08/7/2022. Bị cáo biết 1483 bao thuốc lá điếu nhập lậu là hàng cấm, không cho mua bán, do hoàn cảnh khó khăn nên bị cáo mua để bán lại kiếm tiền lời.

Các biên bản ghi lời khai, biên bản hỏi cung bị cáo khai là tự nguyện, đúng sự thật, không ai ép buộc, bị cáo thống nhất nội dung bản Cáo trạng, không có ý kiến bổ sung hay khiếu nại gì về nội dung bản Cáo trạng, mà hoàn toàn thống nhất với quyết định truy tố của Viện kiểm sát.

Tại phiên tòa ông Lâm Văn M trình bày: Ông là chồng của bị cáo L, trước đây bị cáo có bán thuốc lá điếu nhập lậu, ông có ngăn cản và không cho bán nữa. Ngày 02/02/2023 bị cáo mua thuốc lá điếu nhập lậu, bị cáo nhận thuốc và giao tiền cho người thanh niên thì ông hoàn toàn không biết, vì không có trao đổi bàn bạc với ông. Ngoài ra ông không có trình bày gì thêm.

Tại phiên tòa anh Lâm Hoàng T1 trình bày: Anh là con ruột bị cáo. Ngày 02/02/2023 bị cáo mua thuốc lá điếu nhập lậu, bị cáo nhận thuốc và giao tiền cho người thanh niên thì anh không biết, vì không có trao đổi bàn bạc với anh.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên ông Nguyễn Văn Đ1 đại diện cho Viện kiểm sát nhân dân huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng đã nêu.

Về trách nhiệm hình sự: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Hồ Thị Hồng L phạm tội “Buôn bán hàng cấm”. Căn cứ điểm e khoản 1 Điều 190; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 35 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Hồ Thị Hồng L nộp phạt số tiền từ 100.000.000 đồng đến 150.000.000 đồng.

Ngoài ra Kiểm sát viên còn đề nghị xử lý vật chứng và buộc bị cáo nộp án phí hình sự theo quy định pháp luật.

Bị cáo Hồ Thị Hồng L nói lời sau cùng: Bị cáo thừa nhận hành vi buôn bán hàng cấm là thuốc lá điếu nhập lậu nêu trên là vi phạm pháp luật, bị cáo ăn năn hối cải và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án, đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Hồ Thị Hồng L khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản Cáo trạng mô tả, phù hợp với lời khai, biên bản hỏi cung của bị cáo khai tại Cơ quan điều tra, lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cùng các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện:

Ngày 02/02/2023 tại cửa hàng của bị cáo Hồ Thị Hồng L ngụ ấp L, xã L, huyện C, tỉnh Trà Vinh, bị cáo có mua 1400 bao thuốc lá điếu nhập lậu nhãn hiệu HERO, JET của một người thanh niên không rõ họ tên, địa chỉ đem bán cho bị cáo với số tiền khoảng 20.000.000 đồng. Đến khoảng 12 giờ cùng ngày, khi bị cáo đang bán 10 bao thuốc lá điếu nhập lậu nhãn hiệu HERO cho một người thanh niên không rõ họ tên, địa chỉ cụ thể thì bị lực lượng Công an kiểm tra phát hiện, lập biên bản tạm giữ 1483 (Một nghìn bốn trăm tám mươi ba) bao thuốc lá điếu nhập lậu, trong đó 878 bao nhãn hiệu HERO, 602 bao nhãn hiệu JET và 03 bao nhãn hiệu SCOTT.

Xét thấy hành vi của bị cáo buôn bán hàng cấm là thuốc lá điếu nhập lậu có số lượng 1483 (dưới 1.500 bao) là chưa đủ định lượng để truy cứu trách nhiệm hình sự về hành vi buôn bán hành cấm, do bị cáo có 01 tiền sự, ngày 07/7/2022 bị cáo bị Đội Quản lý Thị trường S thuộc Cục Quản lý thị trường tỉnh T xử phạt vi phạm hành chính về hành vi buôn bán hàng cấm là thuốc lá điếu nhập lậu với số tiền 2.000.000 đồng, bị cáo đã chấp hành nộp phạt xong số tiền vào ngày 08/7/2022, tiền sự vẫn còn thì đến ngày 02/02/2023 bị cáo lại tiếp tục thực hiện hành vi buôn bán hành cấm là thuốc lá điếu nhập lậu và bị Công an lập biên bản niêm phong số lượng 1.483 bao thuốc lá điếu nhập lậu.

Từ đó, có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Hồ Thị Hồng L phạm tội “Buôn bán hàng cấm” quy định tại điểm e khoản 1 Điều 190 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 như kết luận của Kiểm sát viên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.

Tại phiên tòa hôm nay Hội đồng xét xử đã thẩm tra các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và hành vi của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử thấy rằng các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và hành vi của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đều đúng quy định pháp luật. Những người tham gia tố tụng không có khiếu nại hoặc có ý kiến nào khác phản đối các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và hành vi của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng nên các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và hành vi của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bởi vì thuốc lá điếu nhập lậu sản xuất tại nước ngoài là hàng hóa mà Nhà nước cấm kinh doanh, bị cáo biết rất rõ điều này, nhưng chỉ vì muốn có tiền thu nhập cao, bị cáo đã bất chấp và xem thường pháp luật, cố ý thực hiện hành vi buôn bán hàng cấm với số lượng 1.483 bao thuốc lá điếu nhập lậu (trong đó có 878 bao nhãn hiệu HERO, 602 bao nhãn hiệu JET và 03 bao nhãn hiệu SCOTT) thì bị Công an lập biên bản, từ đó đã dẫn bị cáo đến con đường phạm tội.

- Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

- Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra vụ án cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; người thân của bị cáo có công với cách mạng. Đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Xét tính chất của vụ án là nghiêm trọng, bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, tội phạm hoàn thành, hậu quả đã xảy ra. Bị cáo có nghề nghiệp kinh doanh bán tạp hóa và được cấp giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh số 58F8 002298, tên hộ kinh doanh Hồ Thị Hồng L, nhưng bị cáo không biết quý trọng nghề nghiệp để mua bán, kinh doanh các mặt hàng được cấp phép, có thu nhập chính đáng để lo cuộc sống gia đình, đàng này bị cáo nhận thức và biết thuốc lá điếu nhập lậu là hàng cấm, nhưng vẫn mua để bán lại kiếm tiền lời là thu nhập bất chính, bị cáo đã mua bán một cách công khai, với số lượng lớn, làm bất ổn thị trường trong nước, khi đưa hàng gian, hàng lậu vào buôn bán, gây thiệt hại và thất thu thuế cho Nhà nước, ảnh hưởng đến công tác đấu tranh phòng chống buôn lậu nhằm bảo vệ thị trường trong nước. Hành vi của bị cáo cần phải xử lý nghiêm để phòng ngừa chung cho xã hội.

Tuy nhiên xét thấy bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, có điều kiện kinh tế ổn định, trong thời gian thực hiện Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú bị cáo luôn chấp hành tốt việc cam đoan, không vi phạm, bị cáo hiện tại đã 60 tuổi, theo Phiếu khám bệnh đề ngày 17/7/2023 xác nhận sức khỏe bị cáo không tốt, có nhiều chứng bệnh cần phải điều trị. Xét thấy việc không bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù cũng không ảnh hưởng gì đến nguy hại cho xã hội. Căn cứ vào tính chất của vụ án, các tình tiết nêu trên, để thể hiện tính nhân đạo của pháp luật xã hội chủ nghĩa, do đó không cần thiết áp dụng hình phạt tù có thời hạn để xử phạt bị cáo, mà áp dụng hình phạt tiền để xử phạt bị cáo Hồ Thị Hồng L cũng đủ sức răn đe giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt.

. Về xử lý vật chứng: Xét thấy thuốc lá điếu nhập lậu 1.483 (một nghìn bốn trăm tám mươi ba) bao. Trong đó: 878 (tám trăm bảy mươi tám) bao nhãn hiệu HERO; 602 (sáu trăm lẽ hai) bao nhãn hiệu JÉT và 03 (ba) bao nhãn hiệu SCOTT, được niêm phong trong thùng giấy C. Đây là thuốc lá điếu nhập lậu, cấm lưu hành. Hội đồng xét xử quyết định tuyên tịch thu tiêu hủy.

. Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Hồ Thị Hồng L có nghĩa vụ nộp theo quy định pháp luật.

. Xét lời luận tội của Kiểm sát viên trình bày về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt, xử lý vật chứng và án phí hình sự sơ thẩm nêu trên là có căn cứ và được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Hồ Thị Hồng L phạm tội “Buôn bán hàng cấm”.

Căn cứ điểm e khoản 1 Điều 190; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 35 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Hồ Thị Hồng L nộp phạt số tiền 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng).

2. Về vật chứng:

Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

- Tuyên tịch thu tiêu hủy: Thuốc lá điếu nhập lậu 1.483 (một nghìn bốn trăm tám mươi ba) bao. Trong đó: 878 (tám trăm bảy mươi tám) bao nhãn hiệu HERO; 602 (sáu trăm lẽ hai) bao nhãn hiệu JÉT và 03 (ba) bao nhãn hiệu SCOTT, được niêm phong trong thùng giấy C.

3. Về án phí hình sự sơ thẩm:

Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc các bị cáo Hồ Thị Hồng L nộp 200.000 đồng.

4. Về quyền kháng cáo:

Bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 02 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưởng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6; 7, 7a, 7b và Điều 9 của Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”./.

Cỡ chữ