- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Quang T chống người thi hành công vụ - phạm tội chống người thi hành công vụ (điều 257 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Trần Quang T phạm tội “Chống ngƣời thi hành công vụ”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NINH BÌNH TỈNH NINH BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số 54/2021/HSST Ngày 13/5/2021 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NINH BÌNH - TỈNH NINH BÌNH
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Bích Thủy
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Tươi
Bà Hoàng Thị Kim Phượng
-Thƣ ký phiên toà: Bà Phạm Thanh Mai, Thư ký Toà án nhân dân thành phố Ninh Bình - tỉnh Ninh Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình - tỉnh Ninh Bình tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Thùy, Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 5 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 34/2021/HSST ngày 19 tháng 3 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 38/2021/QĐXXST-HS ngày 16/4/2021, Quyết định hoãn phiên tòa số 03/ 2021/HSST ngày 29 tháng 4 năm 2021 đối với bị cáo:
Trần Quang T - sinh năm 1982. Tại Ninh Bình. Nơi cư trú: Số nhà 34/119, phố Phúc Thịnh, phường P, thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ văn hóa: 12/12. Dân tộc: Kinh. Giới tính: Nam. Tôn giáo: Không.Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Quang T1 và bà Lưu Thị L. Vợ: Đỗ Thị H. Con có 01 con riêng sinh năm 2003.
Tiền án: Bản án số 162/2016/HSST ngày 23/12/2016 của Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình xử phạt 42 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Ra trại ngày 09/10/2019.
Tiền sự: Chưa có.
Về nhân thân:
Ngày 26/11/2015 bị Công an phường Tân Thành xử phạt hành chính phạt tiền 500.000đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.
Ngày 23/6/2016 bị Công an thành phố Ninh Bình xử phạt hành chính phạt tiền 1.000.000đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.
Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 16/02/2021, chuyển tạm giam ngày 19/02/2021 tại Trại tạm giam Công an tỉnh Ninh Bình đến nay. Có mặt.
Người bào chữa cho bị cáo: Ông Phạm Cao Nha, luật sư thuộc Văn phòng luật sư Hồng Phong, đoàn Luật sư tỉnh Ninh Bình. Có mặt.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Anh Nguyễn Đình C, sinh năm 1990. Có mặt.
Nơi làm việc: Công an phường P, thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình.
- Anh Nguyễn Đức D, sinh năm 1994.Có mặt.
Nghề nghiệp: Công an phường P, thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình.
- Chị Đỗ Thị H, sinh năm 1979. Có mặt.
Trú tại: Số nhà 34/119, phố Phúc Thịnh, phường P, thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình.
Người làm chứng:
Anh Trần Quang L. Có mặt.
Ông Đặng Văn M. Có mặt.
Bà Hoàng Thị C. Có mặt.
Bà Hoàng Thị C1. Có mặt.
Bà Hoàng Thị T1 Có mặt.
Ông Trần Quang T2. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 16/02/2021,Trần Quang T đi ăn sáng và uống rượu cùng với bạn bè, đến khoảng 11 giờ trưa, T về nhà trọ tại số nhà 69, đường P, phố Phúc Nam, phường P, thành phố Ninh Bình thì xảy ra mâu thuẫn với vợ là chị Đỗ Thị H, hai người lời qua tiếng lại. T chửi vợ “Đ. mẹ mày, mày cút đi”. Chị H sợ chạy sang quán tạp hóa nhà ông Đặng Văn M là hàng xóm ở số nhà 68, đường P, phố phúc Nam, phường P, thành phố Ninh Bình (đối diện bên kia đường) nói “chú ơi, cứu cháu với”. T đuổi theo chị H vào nhà ông M, bắt được túm tóc lôi chị H ra và dơ tay tát chị H một cái vào mặt, chửi “Đ. mẹ mày có về không”. Ông M vào can ngăn và yêu cầu hai người ra khỏi nhà. Chị H sợ không dám về nhà còn T về nhà đập phá bàn ghế nhựa của vợ chồng để ở ngoài hè và sau đó lại tiếp tục sang đứng trước cửa nhà ông M chỉ tay vào nhà ông M liên tục chửi chị H “Đ. mẹ mày có về không”. Chị H sợ nên nhờ ông M báo công an. Thấy T có hành vi chửi bới gây mất an ninh trật tự nên ông M gọi điện báo cho Công an phường P xuống để giải quyết. Nhận được tin báo, lãnh đạo Công an phường P đã cử đồng chí công an Nguyễn Đình C và Nguyễn Đức D là cán bộ cơ sở được phân công trực ngày 16/02/2021 xuống xác minh giải quyết vụ việc. Khi xuống đến nơi, thấy T vẫn đang tiếp tục hò hét, chửi bới chị H, đồng chí D và đồng chí C yêu cầu T bĩnh tĩnh không chửi bới. Ông M từ trong nhà ra giới thiệu đây là các đồng chí Công an phường P xuống giải quyết thì T tiến đến chửi hai đồng chí “Công an thì làm cái Đ. gì hả”, “Công an chúng mày làm cái đ.gì”, “bố mày thích làm sao đấy, hả”, “Tao thích làm sao đấy” “chúng mày định làm gì bố mày, hả”. Đồng chí C bảo đồng chí D lấy điện thoại di động để quay lời nói hành động của T để làm căn cứ báo cáo sự việc. Khi đồng chí D đang quay thì Trần Quang T tiến đến phía đồng chí D với thái độ hung hăng và nói “quay cái Đ.mẹ mày à” và dùng tay đập vào tay đồng chí D hất văng chiếc điện thoại di động trên tay xuống đường làm vỡ mặt kính điện thoại. Đồng chí C can ngăn, ôm T lại. Lúc đó anh Nguyễn Quang L (là bạn của T) kéo T về nhà trọ của T (cách đó khoảng 20m). Trên đường đi về phòng trọ, T tiếp tục chửi vợ “Đ, mẹ mày, về đây tao đánh chết”. Đồng chí D và đồng chí C đi theo nhắc nhở T bình tĩnh không gây mất trật tự. T vào nhà lấy một con dao phay thái thịt bán hàng của vợ kích thước dài 35cm, bản rộng 9,5cm chuôi gỗ, chạy ra ngoài sân nhà trọ giáp mặt các anh công an thì ngay sau đó anh L giật dao lại đem cất đi và kéo T vào trong nhà. T tiếp tục quay ra cởi áo, trừng mắt chửi bới to tiếng với hai đồng chí công an. Anh L tiếp tục đẩy T vào trong nhà, chốt khóa ngoài đóng cửa lại. Sau đó đồng chí C điện báo chỉ huy. Công an phường P triển khai bắt giữ T, thu giữ tại phòng trọ của T con dao nói trên rồi đưa T về trụ sở Công an phường P lập biên bản phạm tội quả tang. Sau khi sự việc xẩy ra, cơ quan điều tra Công an thành phố Ninh Bình đã tổ chức khám nghiệm hiện trường, trích xuất dữ liệu camera tại nhà ông M và thu giữ chiếc điện thoại oppoF5 Red của đồng chí D, trích xuất dữ liệu trong máy điện thoại gửi đi giám định đồng thời trưng cầu định giá tài sản hư hỏng mặt kính chiếc điện thoại oppoF5 Red.
Tại bản kết luận giám định số 239 ngày 12/3/2021 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Bình kết luận không phát hiện dấu vết cắt ghép chỉnh sửa nội dung hình ảnh trong hai tệp tin video được lưu trữ trong hai USB gửi giám định.
Tại Kết luận định giá tài sản số 15 ngày 23/02/2021 của Hội đồng định giá tài sản Ủy ban nhân dân thành phố Ninh Bình trong tố tụng hình sự kết luận chiếc màn hình điện thoại oppoF5 Red trị giá 800.000đồng.
Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc điện thoại cho đồng chí Nguyễn Đức D. Gia đình Trần Quang T đã bồi thường cho đồng chí D trị giá chiếc màn hình điện thoại là 800.000đồng.
Đối với 01 con dao phay cán gỗ dài 35 cm, bản rộng 9,5cm thu giữ được Cơ quan điều tra chuyển đến chi cục Thi hành án dân sự thành phố Ninh Bình để giải quyết trong vụ án.
Tại bản Cáo trạng số 33/CT-VKS ngày 19/3/2021 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình đã truy tố bị cáo Trần Quang T về tội “Chống người thi hành công vụ” theo khoản 1 Điều 330 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quyết định truy tố xác định bị cáo Trần Quang T có hành vi liên tục chửi bới to tiếng lăng mạ, trừng mắt đối với hai đồng chí công an Nguyễn Đình C và Nguyễn Đức D khi các đồng chí thực hiện công vụ giải quyết an ninh trật tự công cộng, hất chiếc điện thoại trên tay đồng chí D khi đồng chí D đang quay, đây là một trong những thủ đoạn khác chống người thi hành công vụ. Đề nghị: Hội đồng xét xử tuyên bố: bị cáo Trần Quang T phạm tội “Chống người thi hành công vụ”. Áp dụng khoản 1 Điều 330; điểm b,s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo T từ 09 đến 12 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt giữ 16/02/2021. Về xử lý vật chứng: áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Trả lại con dao phay cán gỗ kích thước dài 35 cm, bản rộng 9,5cm cho chị Đỗ Thị H. Về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra giải quyết do bị cáo đã bồi thường thiệt hại xong giá trị mặt kính điện thoại cho anh Nguyễn Đức D và anh D không có yêu cầu gì nữa. Bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.
Ý kiến bị cáo: Xác định do uống rượu say nên bị cáo đã có hành vi chửi bới đuổi đánh chị H (vợ bị cáo) gây mất trật tự công cộng, khi các đồng chí công an C và D xuống giải quyết yêu cầu giữ trật tự, bị cáo đã vô cớ chửi bới thô tục đối với các đồng chí công an, đã hất điện thoại trên tay anh công an làm vỡ màn hình điện thoại, việc bị cáo có cầm dao ra mục đích để gọi vợ về nhưng đã bị anh L bạn bị cáo giật lại, bị cáo chưa có hành động gì với các anh công an. Đại diện Viện kiểm sát kết luận về hành vi của bị cáo và truy tố bị cáo về tội Chống người thi hành công vụ, bị cáo công nhận là đúng và không tranh luận gì; Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt vì bị cáo là lao động chính trong nhà.
Người bào chữa cho bị cáo trình bày: bị cáo Trần Quang T không phạm tội Chống người thi hành công vụ, hành vi của bị cáo chỉ cần xử lý hành chính về hành vi gây rối trật tự công cộng là phù hợp.
Ý kiến chị Đỗ Thị H (vợ bị cáo): Không đề nghị định giá bàn ghế nhựa do bị cáo T đập phá, không đề nghị xử lý bị cáo T về việc hủy hoại tài sản vì là tài sản chung của vợ chồng, tài sản đã cũ; đối với hành vi bị cáo T vô cớ chửi bới hai anh công an là do chồng chị có rượu trong người, đề nghị cơ quan tiến hành tố tụng xem xét tạo điều kiện để chồng bị cáo trở thành người tốt. Về con dao mà bị cáo T mang ra, chị xin được trả cho chị vì đó là tài sản của cá nhân chị phục vụ cho việc bán hàng của chị.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về tố tụng:
Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, cơ quan điều tra Công an thành phố Ninh Bình, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình, Điều tra viên và kiểm sát đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra bị cáo đã có bản tự khai, bản kiểm điểm, đã được lấy lời khai, hỏi cung. Bị cáo đã được đọc và công nhận đúng lời khai của mình. Bản thân bị cáo xác định không bị ép cung, ngược đãi hành hạ, đánh đập và không có khiếu nại gì. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thành phố Ninh Bình, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình, Điều tra viên và kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.
Đối với người bào chữa: Tại giai đoạn điều tra, truy tố, bị cáo không nhờ người bào chữa. Tại giai đoạn chuẩn bị xét xử, người bào chữa của bị cáo xuất trình thủ tục đăng ký bào chữa do bị cáo có đơn đề nghị nhờ người bào chữa. Tòa án đã làm thủ tục thông báo người bào chữa tham gia tố tụng. Luật sư đã được thực hiện các quyền và nghĩa vụ của người bào chữa theo quy định của pháp luật.
. Về hành vi phạm tội:
Vào khoảng 13 giờ ngày 16/02/2021, tại khu vực đường P, phố Phúc Nam, phường P, thành phố Ninh Bình, thành phố Ninh Bình, Trần Quang T do uống rượu say khi đi ăn sáng về dẫn đến vợ chồng xảy ra xô sát tại phòng trọ tại số nhà 69, chị Đỗ Thị H là vợ bị cáo phải chạy sang nhà ông M là hàng xóm (ở số nhà 68) nhờ cứu giúp, Trần Quang T đã đuổi theo chị H, túm tóc và tát vợ ngay trong nhà của ông M, chửi bới vợ to tiếng, đập phá tài sản của vợ chồng gây mất trật tự an ninh công cộng. Chị H đã phải nhờ ông M báo công an nên ông M đã điện báo cho Công an phường P xuống can thiệp giải quyết. Khi các đồng chí Nguyễn Đình C và đồng chí Nguyễn Đức D là công an phường P xuống xác minh giải quyết đã yêu cầu bị cáo giữ trật tự. Bị cáo T đã được giới thiệu, nhưng bị cáo không chấp hành giữ trật tự mà còn liên tục chửi bới với các lời lẽ thô tục thách thức xúc phạm đối với hai đồng chí công an như “Công an thì làm cái Đ. gì hả”, “Công an chúng mày làm cái đ.gì”, “bố mày thích làm sao đấy, hả”, “Tao thích làm sao đấy” “chúng mày định làm gì bố mày, hả”. Khi đồng chí D sử dụng điện thoại để ghi lại hành động lời nói của bị cáo thì bị cáo T lại hung hăng tiến đến chỗ đồng chí D chửi “quay cái Đ. mẹ mày à” “quay cái Đ. mẹ mày à” đồng thời đập vào tay đồng chí D làm văng chiếc điện thoại trên tay rơi xuống, làm vỡ màn hình điện thoại. Khi bị cáo được anh L (bạn của bị cáo) đưa về phòng trọ của gia đình, trên đường về bị cáo vẫn tiếp tục chửi bới vợ, đồng chí C và đồng chí D đi theo nhắc nhở T giữ trật tự nhưng khi về đến phòng trọ của mình T lại tiếp tục xông ra trừng mắt với các đồng chí Công an với thái độ thách thức. Bị cáo đã bị Công an phường P bắt giữ và lập biên bản về hành vi phạm tội quả tang.
Lời khai của bị cáo Trần Quang T phù hợp với lời khai người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án, lời khai người làm chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản trích xuất dữ liệu camera nhà ông M, biên bản trích xuất dữ liệu điện thoại di động của đồng chí D và các tài liệu khác trong hồ sơ đã thể hiện bị cáo Trần Quang T đã có những lời nói chửi bới thô tục xúc phạm, thách thức đối với hai đồng chí Công an trong khi đang thực hiện nhiệm vụ yêu cầu giữ trật tự công cộng, bị cáo có hành động hung hăng hất chiếc điện thoại của đồng chí Công an khi đang làm nhiệm vụ. Đối chiếu với các quy định của pháp luật có đủ cơ sở kết luận: hành vi của bị cáo Trần Quang T đã phạm tội Chống người thi hành công vụ. Tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 330 Bộ luật hình sự mà Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình đã truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan sai.
Việc người bào chữa của bị cáo cho rằng hành vi của Trần Quang T không phạm tội Chống người thi hành công vụ là không đúng.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm đến việc thực hiện nhiệm vụ của những người đang thi hành công vụ và thông qua đó xâm phạm đến hoạt động của nhà nước về quản lý hành chính trong lĩnh vực thi hành nhiệm vụ công, bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện, do vậy bị cáo phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự trước pháp luật.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo là người đã bị kết án tại Bản án số 162/2016/HSST ngày 23/12/2016 của Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình xử phạt 42 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, chưa được xóa án tích nên hành vi phạm tội lần này là tái phạm thuộc tình tiết tăng nặng quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự; về nhân thân bị cáo đã bị xử phạt hành chính phạt tiền về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để tu dưỡng bản thân vẫn có thái độ coi thường pháp luật. Do vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải xử lý bị cáo hình phạt nghiêm minh cách ly ra khỏi xã hội một thời gian để bị cáo có điều kiện cải tạo thành công dân có ích cho xã hội đồng thời cũng nhằm để giáo dục răn đe và phòng ngừa chung.
Về tình tiết giảm nhẹ: Sau khi phạm tội, bị cáo đã nói với gia đình để gia đình bồi thường thiệt hại cho đồng chí công an Nguyễn Đức D giá trị màn hình chiếc điện thoại thể hiện bị cáo tự nguyện khắc phục hậu quả; quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Bị cáo có bố đẻ là thương binh hạng 4/4, cả bố và mẹ đẻ có nhiều thành tích trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước được tặng thưởng Huân chương chiến công, Huân chương chiến thắng; về hoàn cảnh gia đình: bản thân bị cáo T và vợ (chị H) đang nuôi 03 con nhỏ đang tuổi ăn học (01 con riêng của T và 02 con riêng của vợ), hiện chị H vợ bị cáo đang mang thai; bị cáo là lao động chính trong nhà. Đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Do vậy Hội đồng xét xử xét thấy cần giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt để bị cáo có điều kiện cải tạo thành công dân có ích cho xã hội và sớm trở về chăm lo cuộc sống với gia đình.
.Các vấn đề khác:
- Về xử lý vật chứng: Công an thành phố Ninh Bình thu giữ con dao phay dài 35cm, bản rộng 9,5cm, cán gỗ do T mang ra nhưng chưa đủ căn cứ xác định việc T dùng dao đe dọa các đồng chí công an, chị H vợ bị cáo có đề nghị xin được trả lại vì đây là con dao của chị dùng để thái thịt bán hàng hàng ngày. Do vậy căn cứ Điều 106 Bộ luật hình sự cần trả lại con dao nói trên cho chị Đỗ Thị H.
Đối với chiếc điện thoại Oppo F5 red mà đồng chí công an Nguyễn Đức D giao nộp, cơ quan điều tra xác định chiếc điện thoại của đồng chí D nên cơ quan điều tra đã trả lại cho đồng chí D.
- Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Trần Quang T đã bồi thường thiệt hại giá trị chiếc màn hình điện thoại là 800.000đồng cho anh Nguyễn Đức D. Anh D không có ý kiến đề nghị gì nữa nên vấn đề trách nhiệm dân sự, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
- Trần Quang T đập phá các tài sản gồm 01 bàn nhựa và 03 chiếc ghế nhựa, đây là các tài sản chung của vợ chồng bị cáo, chị H không yêu cầu định giá và không đề nghị giải quyết, do vậy Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án được quyền kháng cáo trong thời gian luật định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1.Áp dụng khoản 1 Điều 330; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h, khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Trần Quang T phạm tội “Chống ngƣời thi hành công vụ”.
Xử phạt Trần Quang T 07 (bẩy) tháng tù.
Thời hạn tù tính từ ngày bắt 16/02/2021.
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Trả lại cho chị Đỗ Thị H 01 con dao phay kích thước dài 35cm, bản rộng 9,5cm, cán gỗ.
(Vật chứng có đặc điểm, số lượng theo như Biên bản giao nhận vật chứng ngày 26 tháng 3 năm 2021 giữa Công an thành phố Ninh Bình và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Ninh Bình).
3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Trần Quang T phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Ninh Bình - VKSND thành phố Ninh Bình - Công an thành phố Ninh Bình - Chi cục THA. DS thành phố Ninh Bình - Thi hành án HS - Bị cáo, người bào chữa - NCQLNVLQ đến vụ án. - Lưu hồ sơ - Lưu VP - (Thông báo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Nguyễn Thị Bích Thủy |