- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đoàn Thanh S và đồng phạm - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? 1/ Căn cứ Điểm khoản 1 Điều 355 và điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự;
- Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 52 Bộ luật Hình sự
| TẠI ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 532/2022/HS-PT Ngày: 15-12-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:
ông Lê Phước Thanh
Các thẩm phán:
ông Nguyễn Cường
ông Trần Quốc Cường
- Thư ký phiên tòa: ông Phạm Minh Hoàng, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Lê Ra, Kiểm sát viên.
Vào ngày 15 tháng 12 năm 2022 tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên, Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 482/2022/TLPT-HS ngày 24 tháng 10 năm 2022 đối với cáo Đoàn Thanh S b xét xử về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Do có kháng cáo của b cáo đối với Bản án hình sự s thẩm số 25/2022/HS-ST ngày 12/9/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên.
Bị cáo có kháng cáo:
1. Đoàn Thanh S, sinh năm 1978; tại tỉnh Phú Yên. N i cư trú: tỉnh Phú Yên; Nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa học vấn : 7 12; giới t nh: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc t ch: Việt Nam; con ông Đoàn X, sinh năm 1940 và à Trần Th X, sinh năm 1945; tiền án:
- Ngày 01 7 2005, TAND Cấp cao tại Đà Nẵng xét xử phúc thẩm tuyên phạt 09 năm tù về tội Cướp giật tài sản. Chưa chấp hành xong phần bồi thường dân sự;
- Ngày 29 3 2017, TAND huyện M, tỉnh Đắk Lắk xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Ngày 05 7 2017, TAND huyện S, tỉnh Phú Yên xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, tổng hợp hình phạt chung với bản án ngày 29 3 2017 của TAND huyện M là 03 năm tù. Chấp hành xong 02 bản án ngày 27 5 2019.
Nhân thân:
- Ngày 07 8 1996, Công an th trấn P, huyện T cũ , xử phạt hành ch nh 50.000 đồng về hành vi Trộm cắp tài sản; - Ngày 26 11 2003, Công an huyện T cũ , xử phạt hành ch nh, 200.000 đồng về hành vi Trộm cắp tài sản; - Ngày 28 11 2003, Công an huyện T cũ , Phú Yên xử phạt hành ch nh 200.000 đồng về hành vi chống người thi hành công vụ;
- Ngày 20 11 2002, TAND tỉnh Phú Yên xử phạt 09 tháng tù về tội trộm cắp tài sản; tạm giam từ ngày 30 12 2021 đến nay tại Tại tạm giam Công an tỉnh Phú Yên- Có mặt.
2. Lê Ngọc Quỳnh N, sinh năm 1997; tại tỉnh Phú Yên. N i cư trú: thành phố T, tỉnh Phú Yên; Nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hóa học vấn : 7 12; giới t nh: Nữ; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc t ch: Việt Nam; con ông Lê Văn T, sinh năm 1962 và à Phan Th M, sinh năm 1964; có chồng Trần Thanh P, sinh năm 1994 và có 01 con, sinh năm: 2021; tiền án, tiền sự: Không; cáo tại ngoại- Có mặt..
3. Lê Văn T, sinh năm 1999; tại tỉnh Phú Yên. N i cư trú: thành phố T, tỉnh Phú Yên; Nghề nghiệp: Thợ cắt tóc; trình độ văn hóa học vấn : 6 12; giới t nh: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc t ch: Việt Nam; con ông Lê Văn T, sinh năm 1962 và à Phan Th M, sinh năm 1964; tiền án, tiền sự: Không. B bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 15 01 2021 đến ngày 13 7 2021. B cáo tại ngoại- Có mặt.
- Người bào chữa của bị cáo Đoàn Thanh S:
1. Luật sư Nguyễn Hư ng Q – Luật sư Công ty Luật TNHH MTV P, Đoàn luật sư Phú Yên- Có mặt.
2. Luật sư Nguyễn Hồng Q – Luật sư Công ty Luật TNHH T, Đoàn luật sư thành phố Hà Nội- Vắng mặt.
- Người bào chữa của bị cáo Lê Ngọc Quỳnh N: Luật sư Trần Th N T – Luật sư Văn phòng luật sư D, Đoàn Luật sư tỉnh Phú Yên- Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắc như sau:
Khoảng đầu tháng 10 2020, Lê Ngọc Quỳnh N biết Đoàn Thanh S án ma túy nên đã liên hệ mua ma túy của S để án kiếm lời. Tại quán Bar Tlouger ở Phường 7, TP. T, N đã 02 lần mua ma túy của S, mỗi lần mua 02 viên thuốc lắc và 02 chấm ma túy Khay, tổng cộng 4.600.000 đồng, N án số ma túy này cho 05 người chưa xác đ nh), thu lợi được 1.000.000 đồng. Đến tháng 11 2020, N gọi điện cho S đặt mua 30 viên ma túy thuốc lắc và ½ hộp 5 ma túy Khay, với giá 10.500.000 đồng. S đồng ý và nói N đến nhà S để lấy ma túy nên N điều khiển xe mô tô 78C1-55447 đến nhà S ở khu phố 5, phường P, TP. T nhận 30 viên ma túy thuốc lắc và ½ hộp 5 ma túy Khay rồi đưa cho S 10.500.000 đồng. N án số ma túy này cho Nguyễn Xuân T, Phan Tài P và 03 người khác gồm T, M và một phụ nữ chưa xác đ nh 21 viên thuốc lắc và 06 chấm ma túy với tổng số tiền 13.800.000 đồng. Ngày 19 12 2020, N tiếp tục gọi điện cho S đặt mua 200 viên thuốc lắc và 04 hộp 10 ma túy Khay, S nói nếu lấy 400 viên thuốc lắc và 04 hộp 10 ma túy Khay, tổng cộng 128.000.000 đồng, S sẽ bớt 8.000.000 đồng, còn 120.000.000 đồng. N đồng ý, S cho N số tài khoản 040098771011 của S, để chuyển tiền, khoảng 18 giờ ngày 21 12 2020, N đến cửa hàng V ở đường N, TP. T chuyển 30.000.000 đồng vào tài khoản của S để trả tiền mua ma túy. Khoảng 17 giờ ngày 24 12 2020, N đi xe taxi đến nhà S lấy 400 viên thuốc lắc dạng nén màu hồng, màu xanh và 04 hộp 10 ma túy Khay và trả tiếp cho S 15.000.000 đồng tiền mua ma túy. Sau đó, S nhắn tin cho N nói chuyển tiền mua ma túy cho S vào số tài khoản 03712848601 tên Tr nh Th Anh T. Khoảng 19 giờ ngày 24/12/2020, N đến cửa hàng V ở đường N, TP. T chuyển vào tài khoản của T 30.000.000 đồng để trả tiền mua ma túy theo yêu cầu của S. Tổng cộng N đã trả cho S 75.000.000 đồng, còn nợ S 45.000.000 đồng tiền mua ma túy. Sau khi mua ma túy của S, N đem về nhà cất giấu rồi án lại cho Lê Thanh B, T, Ngh và 02 người khác chưa xác đ nh . Quá trình án ma túy, N đã 02 lần nhờ Lê Văn T (em ruột N đi án ma túy cho N 02 lần cụ thể: lần thứ 1, khoảng đầu tháng 01 2021, N nói T lấy 01 viên thuốc lắc và 01 chấm ma túy Khay trong cốp xe mô tô 78C1-579.15, đem đến trước quán karaoke P án cho người phụ nữ chưa xác đ nh) nhận 1.400.000 đồng về đưa lại cho N, N cho T 100.000 đồng; Lần thứ 2, khoảng 16 giờ 00 ngày 15 01 2021, N tiếp tục nói T lấy 01 viên ma túy thuốc lắc và 02 chấm ma túy khay đem án cho một người phụ nữ chưa xác đ nh) tại quán karaoke Phú Mới, khi T đem ma túy đến trước cửa quán karaoke Phú Mới thì bắt quả tang.
Khám xét khẩn cấp chỗ ở của T và N ở thành phố T, C quan điều tra thu giữ của N tổng cộng 40,986g ma túy loại Ketamine và 129,362g ma túy loại MDMA.
Tại kết luận giám đ nh số 10 GĐ-PC09 ngày 18 01 2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Phú Yên, kết luận: 02 gói chất tinh thể màu trắng tạm giữ của Lê Văn T có khối lượng là 0,587g là chất ma túy loại Ketamine; 43 ì nilon chứa chất tinh thể màu trắng và tinh thể màu trắng tạm giữ của Lê Ngọc Quỳnh N có tổng khối lượng là 40,986g là chất ma túy loại Ketamine; 368 viên nén màu hồng có tổng khối lượng là 128,933g và 01 viên nén màu vàng có khối lượng là 0,429g là chất ma túy loại MDMA. (BL: 281-283).
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 25/2022/HS-ST ngày 12/9/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên đã quyết định:
Tuyên ố: Các cáo Đoàn Thanh S, Lê Ngọc Quỳnh N, Lê Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”
Về Hình phạt:
- Áp dụng Điểm h, Khoản 4, Khoản 5 Điều 251; Điểm g, h Khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự;
Phạt: B cáo Đoàn Thanh S Tù chung thân, thời hạn tù t nh từ ngày ắt tạm giam 30/12/2021.
Phạt bổ sung b cáo Đoàn Thanh S 30.000.000đồng (ba mươi triệu đồng) sung quỹ nhà nước.
- Áp dụng Điểm h, Khoản 4, Khoản 5 Điều 251; Điểm n, s Khoản 1 Điều 51; Điểm g, Khoản 1 Điều 52; Điều 54 Bộ luật Hình sự;
Phạt: B cáo Lê Ngọc Quỳnh N 17 (mười bảy) năm tù, thời hạn tù t nh từ ngày ắt thi hành án.
Phạt bổ sung b cáo Lê Ngọc Quỳnh N 15.000.000đồng (mười lăm triệu đồng) sung quỹ nhà nước.
Buộc b cáo Lê Ngọc Quỳnh N phải nộp số tiền 5.700.000 sung quỹ.
- Áp dụng Điểm b, Khoản 2 Điều 251; Điểm s, Khoản 1 Điều 51; Điều 54 Bộ luật Hình sự; Phạt: B cáo Lê Văn T 06 (sáu năm tù, thời hạn tù t nh từ ngày ắt thi hành án được trừ thời gian đã tạm giữ, tạm giam từ ngày 15 01 2021 đến ngày 13 7 2021.
Ngoài ra ản án còn quyết đ nh về phần xử lý vật chứng, án ph và quyền kháng cáo.
Ngày 23 9 2022 cáo Đoàn Thanh S có đ n kháng cáo kêu oan.
Ngày 26 9 2022 cáo Lê Ngọc Quỳnh N và Lê Văn T có đ n kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và phần xử lý vật chứng.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
+ Các cáo Đoàn Thanh S, Lê Ngọc Quỳnh N và Lê Văn T giữ nguyên kháng cáo.
+ B cáo Lê Ngọc Quỳnh N và Lê Văn T khai nhận hành vi phạm tội như bản án s thẩm đã nhận đ nh. B cáo Đoàn Thanh S cho rằng cáo không mua án ma túy và không phạm tội.
+ Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng đề ngh Hội đồng xét xử phúc thẩm: Không chấp nhận kháng cáo của các cáo Đoàn Thanh S.
Chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của các cáo Lê Ngọc Quỳnh N, Lê Văn T và sửa bản án s thẩm.
+ Người ào chữa cho cáo Đoàn Thanh S đề ngh hủy ản án s thẩm; vì: Chưa tr ch xuất dữ liệu điện thoại giữa S và N; chưa lấy lời khai của những người sống cùng S trong ngày 24 12 2020 và không thu giữ điện thoại của S có số sim 0777451756 tại Công an quận Bình Chánh, thành phố Hồ Ch Minh để tr ch xuất các hình ảnh ngoại phạm của S ngày 24 12 2020 như lời khai của S.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi và tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Tại phiên tòa phúc thẩm, b cáo Lê Ngọc Quỳnh N khai nhận hành vi mua ma túy của S 02 lần tại quán Bar Tlouger ở Phường 7, TP. T, mỗi lần mua 02 viên thuốc lắc và 02 chấm ma túy Khay và 02 lần mua ma túy tại nhà của S ở khu phố 5, phường P, TP. T để án lại cho 13 người khác kiếm lời.
Các lần mua ma túy của sơn tại nhà ở của S như sau:
- Vào tháng 11 2020, N gọi điện cho S đặt mua 30 viên ma túy thuốc lắc và ½ hộp 5 ma túy Khay, S đồng ý và N đến nhà S theo chỉ dẫn của S để lấy ma túy.
- Vào ngày 19 12 2020, N tiếp tục gọi điện cho S đặt mua 200 viên thuốc lắc và 04 hộp 10 ma túy Khay, S nói nếu lấy 400 viên thuốc lắc và 04 hộp 10 ma túy Khay, tổng cộng 128.000.000 đồng, S sẽ bớt 8.000.000 đồng, còn 120.000.000 đồng. N đồng ý, S cho N số tài khoản 040098771011 của S, để chuyển tiền; khoảng 18 giờ ngày 21 12 2020, N đến cửa hàng V ở đường N, TP. T chuyển 30.000.000 đồng vào tài khoản của S để trả tiền mua ma túy. Khoảng 17 giờ ngày 24 12 2020, N đi nhà S lấy 400 viên thuốc lắc và 04 hộp 10 ma túy Khay và trả tiếp cho S 15.000.000 đồng tiền mua ma túy. Sau đó, S nhắn tin cho N bảo N chuyển tiền mua ma túy cho S vào số tài khoản 03712848601, có tên Tr nh Th Anh T. Khoảng 19 giờ ngày 24 12 2020, N đến cửa hàng V ở đường N, TP. T chuyển vào tài khoản của T 30.000.000 đồng để trả tiền mua ma túy.
Quá trình án ma túy, N đã 02 lần nhờ Lê Văn T (em ruột N đi án ma túy cho N 02 lần; T án lần thứ hai vào ngày 15 01 2021, khi T đem ma túy đến trước cửa quán karaoke Phú Mới để án cho một người phụ nữ (chưa xác định) tại quán karaoke Phú Mới, thì bắt quả tang. Khám xét khẩn cấp chỗ ở của T và N ở tổ 6, khu phố Bà Triệu, Phường 7, thành phố T, C quan điều tra thu giữ của N tổng cộng 40,986g ma túy loại Ketamine và 129,362g ma túy loại MDMA.
Lời khai của b cáo N phù hợp với lời khai nhận tội của b cáo Lê Văn T; phù hợp với Biên ản bắt người phạm tội quả tang lúc 17h ngày 15 01 2021 đối với Lê Văn T và Biên ản khám xét n i ở của Lê Ngọc Quỳnh N và Lê Văn T lúc 20h35 phút ngày 15 1 2021; phù hợp với kết luận giám đ nh số 10 GĐ-PC09 ngày 18 01 2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Phú Yên; phù hợp với lời khai của những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là những người mua ma túy và những người làm chứng cùng các tài liệu, chứng cứ do c quan điều tra thu thập được có tại hồ s vụ án. Do đó, Tòa án cấp s thẩm kết án các b cáo Lê Ngọc Quỳnh N về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm h khoản 4 Điều 251 Bộ luật hình sự; b cáo Lê Văn T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người và đúng tội.
Đối với b cáo Đoàn Thanh S: B cáo Đoàn Thanh S cho rằng lời khai của Lê Ngọc Quỳnh N không đúng sự thật, b cáo không có hành vi mua án trái phép chất ma túy. Xét thấy:
Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử; cáo S luôn có lời khai khác nhau, mâu thuẫn với nhau và luôn thay đổi lời khai cho phù hợp với kết quả điều tra và phiên tòa; cụ thể:
- Về mối quan hệ giữa cáo S với cáo N: Các lời khai an đầu cáo S đều khai cáo không quen iết cáo N (BL459, 460, 469, 471 : “Tôi không có quen biết ai tên là Lê Ngọc Quỳnh N, sinh 1997, địa chỉ tổ 6, khối phố Bà Triệu, phường 7, thành phố T” ; “tôi thỉnh thoảng có đến quán Bar Tlouger ở Phường 7, TP. T chơi nhưng không quen biết với người phụ nữ nào tên là N.”. Tuy nhiên, nhưng lời khai sau đó và tại phiên đối chất với cáo N (BL 481); tại phiên đối chất này, sau khi cáo N khai đặc điểm nhà của S: “ Tôi đến nhà Đoàn Thanh S...Nhà S có cổng màu xanh, phía trên có mái che, sân có nhiều cây cảnh, nhà hai tầng. Tôi đến để mua ma túy” thì S mới khai nhận có quen iết với cáo N: “Tôi có quen biết với Lê Ngọc Quỳnh N này…”; “Tôi có quen biết với nữ nhân viên phục vụ quán Bar Tlouger tên là N…” và “ trong tháng 11/2020, anh Phong đã có 03 lần chở N đến nhà tôi chơi…2 lần sau để N giao yến sào…” và: “Tôi quen biết với Lê Ngọc Quỳnh N, sinh 1997, HKTT và chỗ ở tổ 6, khối phố Bà Triệu, phường 7, thành phố T.”
- Về sử dụng điện thoại để đăng ký Zalo: Lời khai an đầu, b cáo S khai b cáo dùng điện thoại có số 0777451756 nhưng không có tài khoản zalo: “tôi không dùng số điện thoại 0777451756 của tôi để đăng ký tài khoản zalo” (BL459; BL 460) nhưng sau khi c quan điều tra ra Quyết đ nh trưng cầu giám đ nh số 29 CSMT ngày 13/4/2021; yêu cầu c quan giám đ nh phục hồi, tr ch xuất dữ liệu tại điện thoại di động của b cáo Lê Ngọc Quỳnh N thì cáo S thay đổi lời khai cho rằng có dùng số điện thoại 0777451756 của b cáo để đăng ký zalo: “Từ tháng 6 năm 2020 đến đầu tháng 01 năm 2021 tôi liên tục dùng số điện thoại di động 0777451756 và thời gian trên tôi có dùng số điện thoại trên để đăng ký tài khoản zalo của tôi…” BL 462, ngày 28 4 2021 .
- Về sử dụng tài khoản thẻ ATM số 040098771011 tại Ngân hàng S:
B cáo S thừa nhận việc sử dụng tại khoản số 040098771011, do S mở tại Ngân hàng tại S và theo lời khai của b cáo N thì cáo N chuyển vào tài khoản S số tiền 30 triệu đồng để mua ma túy của S vào ngày 21 12 2020; cáo S cũng thừa nhận tài khoản 040098771011 của S đã nhận số tiền 30 triệu đồng vào ngày 21/12/2020 và S đã rút ra vào ngày 22 12 2020 nhưng cho rằng S nhận và rút tiền ra dùm cho người khác, không quen iết và không iết ai chuyển số tiền 30 triệu đồng: “Tôi có cho một nam thanh niên không nhớ tên…số tài khoản ngân hàng của tôi số 040098771011, tôi cho trực tiếp người khác chuyển tiền vào sau đó tôi rút ra đưa lại cho nam thanh niên trên…khoảng 18h ngày 21/12/2020 tài khoản ngân hàng của tôi nhận được số tiền 30 triệu đồng, ai chuyển tôi không biết. Đến 15 h ngày 22/12/2020 tôi trực tiếp đến phòng giao dịch Ngân hàng S…sử dụng giấy chứng minh để rút số tiền 32 triệu đồng …sau đó tôi đưa cho nam thanh niên trên số tiền 30 triệu đồng…”. Sau khi nhận được Kết luận điều tra (Số 02/CSMT ngày 19/01/2022), S biết được nội dung của Kết luận điều tra thì S thay đổi lời khai phúc cung tại Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Yên và tại phiên tòa s thẩm; cho rằng, số tiền 30 triệu đồng do b cáo Nhi chuyển vào tài khoản của b cáo S là số tiền b cáo Nhi nhờ b cáo S mua ma túy dùm: “Chỉ có một lần chị Nhi nhờ tôi mua 200 viên ma túy …Nhi có gửi vào số tài khoản của tôi với số tiền 30.000.000 đồng…”. Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay, cáo S lại khai: “số tiền 30 triệu đồng nhận vào ngày 21/12/2021 và S đã rút ra vào ngày 22/12/2020 tại tài khoản của S 040098771011 là sô tiền N mượn tài khoản của S để gửi cho Phong”.
- Về việc b cáo Lê Ngọc Quỳnh N khai nhận ma túy do S án vào khoảng 17h ngày 24 12 2020:
Tại c quan điều tra; b cáo S khai ngày 24 12 2020, b cáo đón noen tại nhà thờ Thủ Đức, TP Hồ Ch Minh: “vào ngày 24/12/2020 tôi đón noen tại nhà thờ Thủ Đúc, TP Hồ Chí Minh” nhưng tại phiên tòa s thẩm, b cáo S thay đổi lời khai và có lời khai khác nhau: Có lời khai b cáo khai đi siêu th : “bị cáo ở winmart, bị cáo đi siêu thị… ngày 24/12/2020”, có lời khai b cáo khai đang ở chung cư tại thành phố Hồ Ch Minh: “đang ở chung cư M…”. Mặt khác, trong khoảng thời gian mà cáo N khai chuyển tiền, nhận ma túy lần thứ 3 của S và b cáo S rút số tiền 30 triều đồng (19/12/2020 đến 24/12/2020 thì b cáo S đều khai thỉnh thoảng về nhà tại Phú Yên: “Từ đầu tháng 9/2020 đến 7/01/2021 …thỉnh thoảng tôi có về nhà từ 1 đến 2 ngày …” và “từ tháng 9/2020 đến tháng 1/2021 thỉnh thoảng tôi có đến quán Bar T ở Phường 7, TP. T chơi” nhưng tại phiên tòa s thẩm b cáo S khai không về nhà cáo trong thời gian trên: “bị cáo ở từ 9/12/2020 đến 28/12/2020, bị cáo mới về lại”.
Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay, cáo S còn có lời khai b cáo sử dụng điện thoại có số sim 0777451756 để quay lại các hình ảnh hoạt động của b cáo cùng ạn è vào ngày 24 12 2020 và điện thoại có số sim 0777451756 này đang được Công an quận B, thành phố Hồ Ch Minh thu giữ. Tuy nhiên, tại c quan điều tra; b cáo S đã có nhiều lời khai về chiếc điện thoại có số sim 0777451756 đã mất: “Tôi dùng số điện thoại 0777451756 từ tháng 6/2020 đến tháng 01/2021 thì bị mất điện thoại này…”…
Lời khai của b cáo S không thống nhất, thay đổi lời khai liên tục nêu trên nên Tòa án cấp s thẩm không chấp nhận yêu cầu trả hồ s để điều tra bổ sung của các luật sư ào chữa cho b cáo S là có căn cứ. Đồng thời, việc thay đổi lời khai, khai lời khai khác nhau và mâu thuẫn với nhau như nêu trên; đã thể hiện sự quanh co và nhằm chối tội của cáo S. Vì vậy, căn cứ vào các chứng cứ:
Trong quá trình điều tra, b cáo Lê Ngọc Quỳnh N vẽ s đồ xác đ nh ch nh xác nhà ở của b cáo Đoàn Thanh S tại khu phố 5, phường P, thành phố Tuy Hoà, tỉnh Phú Yên đã thể hiện lời khai của b cáo N đã đến nhà cáo S để mua ma túy là có thật.
Qua nhận dạng; b cáo N xác đ nh ch nh xác cáo Đoàn Thanh S ch nh là người đã ốn lần án ma tuý cho cáo N; Qua kiểm tra điện thoại của b cáo N, trong danh bạ điện thoại có lưu số điện thoại của b cáo S là số 0777451756 và Công ty viễn thông M cung cấp: Số điện thoại 0335135582 của b cáo N và số điện thoại 0777451756 của b cáo S có liên lạc với nhau vào lúc 16 giờ 26 phút ngày 23 11 2020 và lúc 18 giờ 08 phút ngày 19 12 2020; là thời điểm các lần N liên lạc mua ma túy của S.
Về giao d ch chuyển tiền: Lúc 18 giờ 26 phút ngày 21 12 2020, N nộp 30.000.000 đồng vào số tài khoản 040098771011 của S mở tại Ngân hàng S. S thừa nhận đã trực tiếp rút số tiền này tại Chi nhánh Ngân hàng S Sư Vạn Hạnh, thành phố Hồ Ch Minh.
Lời khai của b cáo S thừa nhận trong khoảng thời gian từ đầu tháng 9 2020 đến 7/01/2021; b cáo có về nhà và có đến quán quán Bar Tlouger ở Phường 7, TP. T ch i phù hợp với khoảng thời gian mà cáo Lê Ngọc Quỳnh N khai mua ma túy của S tại quán Bar Tlouger ở Phường 7, TP. T và mua ma túy của S tại nhà ở của S.
Lời khai của cha b cáo Lê Ngọc Quỳnh N là ông Lê Thành T tại c quan điều tra và tại phiên tòa s thẩm; về việc S đến nhà ông T để tìm gặp N, S đã bảo ông T nói lại với b cáo là N đừng khai áo: “nói với tôi là tôi hãy nói lại với N là đừng khai ra…”; phù hợp với lời khai thừa nhận của b cáo S về việc S có đến nhà của ông T sau khi vụ án xảy ra: “Bị cáo đến nhà N …tháng 4/2021”.
Do đó, Tòa án cấp s thẩm kết án b cáo Đoàn Thanh S; về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm h, khoản 4 Điều 251 Bộ luật hình sự là có căn cứ và không oan.
Hành vi phạm tội của các cáo Đoàn Thanh S, Lê Ngọc Quỳnh N, Lê Văn T mang t nh chất đặc biệt nghiêm trọng. Các cáo Đoàn Thanh S và Lê Ngọc Quỳnh N phạm tội 02 lần trở lên; cáo Đoàn Thanh S đã nhiều lần b kết án nhưngvẫn tiếp tục phạm tội, thể hiện khó cải tạo giáo dục và thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm là các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy đ nh tại Điểm h, g Khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự nên mức hình phạt Tù chung thân và phạt bổ sung 30.000.000đồng đối với b cáo Đoàn Thanh S là phù hợp.
Đối với b cáo N và cáo T: Các cáo đều có nhân thân tốt, Thành khẩn khai áo, thể hiện sự ăn năn hối cải theo quy đ nh tại Điểm s, Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; b cáo N đang mang thai, hiện nay đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi; b cáo T tham gia tội phạm với vai trò thứ yếu. Vì vậy, Tòa án cấp s thẩm xử phạt b cáo Lê Ngọc Quỳnh N 17 năm tù và phạt bổ sung 15.000.000đồng; b cáo Lê Văn T 06 năm tù là có căn cứ. Tuy nhiên, xét thấy sau khi xét xử s thẩm; các cáo N và T đã nộp số tiền truy thu, tiền phạt bổ sung và án ph s thẩm; hoàn cảnh gia đình khó khăn cùng ở chung nhà bố mẹ, 2 anh bị tâm thần, mẹ bị tai biến và là lao động chính trong gia đình được ch nh quyền đ a phư ng xác nhận; trong vụ án này, cáo N đã t ch cực hợp tác, khai áo hành vi phạm tội của S theo quy đ nh tại điểm t, khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Do đó, HĐXX cấp phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của các cáo Lê Ngọc Quỳnh N, Lê Văn T và giảm một phần hình phạt đối với Lê Ngọc Quỳnh N và Lê Văn T như đề ngh của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại phiên tòa.
Xe môtô hiệu Airblade, biển số 78C1-579.15 của Lê Ngọc Quỳnh N và xe môtô hiệu Sirius biển số 78C1-554.47 của Lê Văn T; N và T sử dụng vào việc mua án ma túy nên Tòa án cấp s thẩm t ch thu sung quỹ nhà nước là đúng quy đ nh tại điểm a khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Từ các nhận đ nh nêu trên, HĐXX cấp phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của cáo Đoàn Thanh S. Chấp nhận kháng cáo của các cáo Lê Ngọc Quỳnh N và Lê Văn T.
Các quyết đ nh khác còn lại của ản án s thẩm không có kháng cáo, kháng ngh nên cấp phúc thẩm không xét.
Do chấp nhận kháng cáo nên các cáo Lê Ngọc Quỳnh N và Lê Văn T không phải ch u án ph hình sự phúc thẩm. Do không chấp nhận kháng cáo nên cáo Đoàn Thanh S phải ch u án ph hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1/ Căn cứ Điểm khoản 1 Điều 355 và điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự;
Không chấp nhận kháng cáo của cáo Đoàn Thanh S.
Chấp nhận kháng cáo của các cáo Lê Ngọc Quỳnh N, Lê Văn T và sửa ản án s thẩm.
2/ Tuyên ố các cáo Đoàn Thanh S, Lê Ngọc Quỳnh N và Lê Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”
- Áp dụng Điểm h, Khoản 4, Khoản 5 Điều 251; Điểm g, h Khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự;
Phạt: B cáo Đoàn Thanh S Tù chung thân, thời hạn tù t nh từ ngày ắt tạm giam 30/12/2021.
Phạt bổ sung b cáo Đoàn Thanh S 30.000.000đồng (ba mươi triệu đồng) sung quỹ nhà nước.
- Áp dụng Điểm h, Khoản 4, Khoản 5 Điều 251; Điểm n, s, t Khoản 1 Điều 51; Điểm g, Khoản 1 Điều 52; Điều 54 Bộ luật Hình sự;
Phạt: B cáo Lê Ngọc Quỳnh N 16 (mười sáu năm tù, thời hạn tù t nh từ ngày ắt thi hành án.
Phạt bổ sung b cáo Lê Ngọc Quỳnh N 15.000.000đồng (mười lăm triệu đồng) sung quỹ nhà nước.
- Áp dụng Điểm b, Khoản 2 Điều 251; Điểm s, Khoản 1 Điều 51; Điều 54 Bộ luật Hình sự;
Phạt: B cáo Lê Văn T 05 (năm năm tù, thời hạn tù t nh từ ngày ắt thi hành án được trừ thời gian đã tạm giữ, tạm giam từ ngày 15 01 2021 đến ngày 13/7/2021.
3/ T ch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 Xe môtô hiệu Airblade, biển số 78C1-579.15 của Lê Ngọc Quỳnh N và 01 xe môtô hiệu Sirius biển số 78C1-554.47 của Lê Văn T.
4/ Các phần quyết đ nh khác của ản án s thẩm không có kháng cáo, kháng ngh về xử lý vật chứng và về án ph s thẩm đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng ngh .
B cáo Đoàn Thanh S phải ch u án ph hình sự phúc thẩm là 200.000 đồng.
Bản án hình sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Vụ Giám đốc kiểm tra I - TAND tối cao; - VKSND cấp cao tại Đà Nẵng; - TAND tỉnh Phú Yên; - VKSND tỉnh Phú Yên; - C quan CSĐT-Công an tỉnh Phú Yên; - Phòng HSNV-Công an tỉnh Phú Yên; - C quan CSTHAHS - Công an tỉnh Phú Yên; - Sở Tư pháp tỉnh Phú Yên; - Cục THADS tỉnh Phú Yên; - B cáo; - Trại tạm giam công an tỉnh Phú Yên; - Người tham gia tố tụng khác; - Lưu HSVA, PHCTP, LT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký Lê Phước Thanh |