vanban.org

Bản án 53/2026/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn P, Nguyễn Nhật T phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn P 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 07/9/2025. Áp dụng dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2025; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn P - tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (điều 255 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn P, Nguyễn Nhật T phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự Tịch thu tiêu huỷ
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 5-VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 53/2026/HS-ST
Ngày:14/4/2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - VĨNH LONG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:

Ông Ngô Văn Trình

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trịnh Ngọc Hồng

2. Bà Phạm Thị Kim Lan

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Huỳnh Sơn Trường - Thư ký viên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 5-Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Linh, Bà Nguyễn Thị Ngọc H - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 4 năm 2026, tại Trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 5-Vĩnh Long, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 24/2026/TLST-HS ngày 11/2/2026, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 54/2025/QĐXXST-HS ngày 30/3/2026 đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Văn P; tên gọi khác không; giới tính Nam; sinh ngày 27/12/1983; nơi sinh tỉnh Vĩnh Long; nơi cư trú ấp Khánh Hội T, xã T, tỉnh Vĩnh Long; chỗ ở trước khi bị tạm giam ấp Q, xã G, tỉnh Vĩnh Long; chứng minh nhân dân số 321209375; quốc tịch Việt Nam; dân tộc Kinh; tôn giáo không; nghề nghiệp làm thuê; trình độ lớp 5/12; con ông Nguyễn Văn H1 và bà Nguyễn Thị L; bị cáo là con thứ ba trong gia đình có 04 chị em, lớn nhất sinh năm 1979, nhỏ nhất sinh năm 1985; vợ Đặng Thị Thùy D; con Đặng Phúc Đ, sinh năm 2012; tiền án không; tiền sự có 01 tiền sự tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 29/QĐ-XPHC ngày 05/8/2025 của Công an xã G, tỉnh Vĩnh Long xử phạt Nguyễn Văn P số tiền 1.500.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý; nhân thân Bản án hình sự sơ thẩm số 15/HSST ngày 31/3/2005 của Tòa án nhân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre (nay là Toà án nhân dân Khu vực 5 - Vĩnh Long) xử phạt Nguyễn Văn P 01 năm tù về tội "Trộm cắp tài sản" (chấp hành xong hình phạt tù ngày 29/12/2005, chưa chấp hành xong phần bồi thường dân sự nhưng tài sản bị chiếm đoạt có giá trị dưới 2.000.000 đồng); Bản án hình sự sơ thẩm số 02/2007/HSST ngày 11/10/2007 của Tòa án nhân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre (nay là Toà án nhân dân Khu vực 5 - Vĩnh Long) xử phạt Nguyễn Văn P 01 năm tù về tội "Trộm cắp tài sản" (chấp hành xong hình phạt tù ngày 08/7/2008, chưa chấp hành xong phần bồi thường dân sự nhưng tài sản bị chiếm đoạt có giá trị dưới 2.000.000 đồng); bị tạm giữ từ ngày 07/9/2025 đến ngày 10/9/2025 chuyển tạm giam cho đến nay. Có mặt.

2. Nguyễn Nhật T; tên gọi khác không; giới tính Nam; sinh ngày 10/3/1984; nơi sinh tỉnh Vĩnh Long; nơi cư trú ấp Q, xã G, tỉnh Vĩnh Long; căn cước công dân số 083084013699; quốc tịch Việt Nam; dân tộc Kinh; tôn giáo không; nghề nghiệp làm thuê; trình độ văn hoá lớp 6/12; con ông Nguyễn Thành Q và bà Phạm Thị C; vợ tên Nguyễn Thị Mộng L1 (đã ly hôn); con Nguyễn Nhật L2, sinh năm 2009; tiền án không; tiền sự có 02 tiền sự tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 1403/QĐ-XPHC ngày 19/8/2022 của Công an xã Q, huyện C, tỉnh Bến Tre, nay là xã G, tỉnh Vĩnh Long xử phạt Nguyễn Nhật T số tiền 1.500.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý; Quyết định số 01/QĐ-TA ngày 10/01/2023 của Toà án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre (nay là Toà án nhân dân Khu vực 5 – Vĩnh Long) quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Nhật T thời hạn 12 tháng, chấp hành xong ngày 16/10/2023 (thời hạn để được xem như chưa bị xử lý vi phạm hành chính hết ngày 16/10/2025); bị tạm giữ từ ngày 07/9/2025 đến ngày 10/9/2025 chuyển tạm giam cho đến nay. Có mặt.

Người làm chứng:

1. Nguyễn Thành T1, sinh năm 2002, nơi cư trú ấp L, xã G, tỉnh Vĩnh Long. Vắng mặt.

2. Nguyễn Thanh T2, sinh năm 1980, nơi cư trú ấp L, xã G, tỉnh Vĩnh Long. Vắng mặt.

3. Nguyễn Văn H2, sinh 1975, nơi cư trú ấp L, xã G, tỉnh Vĩnh Long. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 13 giờ 15 phút ngày 07/9/2025, Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về Ma tuý Công an tỉnh V phối hợp với Công an xã G, tỉnh Vĩnh Long tiến hành kiểm tra hành chính nhà không số ở ấp Q, xã G, tỉnh Vĩnh Long do Nguyễn Văn P thuê ở, lúc này trong nhà có 03 đối tượng gồm: Nguyễn Văn P, Nguyễn Nhật T và Nguyễn Thành T1, sinh năm 2002, ĐKTT ấp L, xã G, tỉnh Vĩnh Long đang sử dụng trái phép chất ma tuý. Tiến hành Test nhanh chất ma túy trong cơ thể Nguyễn Văn P, Nguyễn Nhật T và Nguyễn Thành T1, kết quả 03 người này đều dương tính với chất ma tuý. Cơ quan điều tra tiến hành lập Biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với T, P.

Cơ quan điều tra tạm giữ:

01 (một) chai nhựa trong suốt cao 17cm, đáy rộng 4,5cm có nắp nhựa màu vàng có gắn ống hút nhựa màu đen dài 15cm và gắn ống nỏ bằng thuỷ tinh dài 19cm được uốn cong một đầu, trong ống nỏ thuỷ tinh có chứa chất màu trắng nghi là ma tuý.

01 (một) bật lửa màu xanh kích thước 8,5cm x 02cm.

02 (hai) đoạn ống nhựa màu trắng trong, mỗi đoạn có kích thước 0,8 x 0,8cm, bên trong mỗi đoạn ống nhựa có dính chất màu trắng nghi là ma tuý.

01 (một) cây kéo bằng kim loại màu trắng có cán nhựa màu đen kích thước 20cm x 10cm (bút lục 01 - 07).

Tạm giữ của Nguyễn Văn P 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy M20, số Imei1: 354556100315764, số Imei2: 354557100315762, bên trong gắn sim Số 0386349537 (bút lục 376 - 377).

Hiện trường xảy ra ở nhà cho thuê không số, ấp Q, xã G, tỉnh Vĩnh Long do ông Nguyễn Minh T3 làm chủ, phía Đông tiếp giáp đất trống, phía Bắc tiếp giáp nhà dân, phía Tây tiếp giáp tiệm sửa xe của ông Cổ Thanh P1 và phía Nam giáp đường ĐX03 về hướng Bắc (bút lục 10 - 13).

Kết luận giám định số 147/2025/KL-KTHS-KV2 ngày 09/09/2025 của Phòng K Công an tỉnh V kết luận:

1. Chất màu trắng bên trong ống nỏ thủy tinh gửi giám định là chất ma túy; loại Methamphetamine, khối lượng 0,056 gam.

2. Chất màu trắng bên trong 02 (hai) đoạn ống nhựa màu trắng trong gửi giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine, không xác định được khối lượng do mẫu cần giám định tồn tại ở dạng vết (bút lục 69 - 70).

Quá trình điều tra xác định: nhà không số Cơ quan điều tra kiểm tra là do P và vợ tên Đặng Thị Thùy D, sinh năm 1994, ĐKTT ấp Q, xã G, tỉnh Vĩnh Long thuê ở. Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 07/9/2025, sau khi đi công việc về, P thấy cháu của P là Nguyễn Thành T1 đến nhà của P chơi nên P và T1 cùng chơi game bắn cá trên điện thoại, một lúc sau P nảy sinh ý định sử dụng ma tuý nên lấy xe mô tô Biển kiểm soát 63K2 – 8625 đã mượn trước đó của ông Nguyễn Thanh P2 đi rủ và đón Nguyễn Nhật T đến nhà và P kêu T đi mua 200.000 đồng ma tuý “đá” về sử dụng. T sử dụng xe mô tô Biển kiểm soát 63K2 - 8625 đến khu vực cổng sau Khu công nghiệp G ở xã G, tỉnh Vĩnh Long, T gặp nam thanh niên tên “T4” (chưa xác định họ tên, địa chỉ) hỏi mua 200.000 đồng ma tuý. Do không có tiền mặt, T đọc số điện thoại 0386349537 của P để “T4” nhắn tin số tài khoản của “T4” qua cho P. Sau khi có được tài khoản số 0355195374 mở tại Ngân hàng Q1 (M) do “T4” cung cấp, P lấy tiền thắng được khi chơi game bắn cá đổi thành tiền rồi chuyển vào tài khoản của người bạn tên “H3” (chưa xác định họ tên, địa chỉ). P điện thoại nhờ “Huy” chuyển 200.000 đồng trên vào số tài khoản của người bán ma tuý và nói với “H3” rằng nhờ chuyển tiền để mua đồ ăn cho con. Khoảng 05 phút sau, T nhận được ma túy từ “T4” và mang về nhà của P. Tại nhà của P, P lấy ra bộ dụng cụ sử dụng ma tuý đưa cho T để T trút số ma tuý vừa mua được vào và pha ma tuý, sau đó lần lượt T, P, T1 cùng nhau sử dụng. Trong lúc cả 03 người đang sử dụng trái phép chất ma tuý thì bị Cơ quan điều tra đến kiểm tra, phát hiện lập Biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Nguyễn Văn P và Nguyễn Nhật T.

Về xử lý vật chứng:

Đối với 01 chai nhựa trong suốt cao 17cm, đáy rộng 4,5cm, có nắp nhựa màu vàng có gắn ống hút nhựa màu đen dài 15cm và gắn ống nỏ bằng thuỷ tinh dài 19cm được uốn cong một đầu; 01 bật lửa màu xanh; 02 (hai) đoạn ống nhựa màu trắng trong; 01 cây kéo bằng kim loại màu trắng có cán nhựa màu đen là vật chứng của vụ án nên Cơ quan điều tra tiếp tục tạm giữ để xử lý theo luật định.

Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy M20, bên trong gắn sim số 0386349537 là phương tiện của Nguyễn Văn P sử dụng để liên hệ mua ma tuý, Cơ quan điều tra tiếp tục tạm giữ, xem xét xử lý theo luật định.

Quá trình điều tra, Nguyễn Văn P khai nhận hành vi phạm tội của P, lời khai của P phù hợp với lời khai của Nguyễn Nhật T và phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai người làm chứng, các chứng cứ khác do Cơ quan điều tra thu thập. Nguyễn Nhật T đã khai nhận hành vi phạm tội của T, khai rõ hành vi phạm tội của Nguyễn Văn P, lời khai của T phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai người làm chứng, các chứng cứ khác do Cơ quan điều tra thu thập.

Tại Bản cáo trạng số 56/CT-VKSKV5Vĩnh L2, ngày 10 tháng 02 năm 2026 Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 5- Vĩnh Long truy tố các bị cáo Nguyễn Văn P, Nguyễn Nhật T tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Bị cáo Nguyễn Văn P trình bày ngày 07/9/2025 có rủ bị cáo T và Nguyễn Thành T1 sử dụng trái phép chất ma tuý thì bị công an phát hiện bắt quả tang. Số tiền mua ma tuý, địa điểm và dụng cụ sử dụng ma tuý là của bị cáo; bị cáo nhờ T mua ma tuý. Bị cáo không khiếu nại về các hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng.

Bị cáo Nguyễn Nhật T trình bày bị cáo P nhờ bị cáo mua ma tuý về cùng sử dụng tại nhà của P thuê, tiền mua ma tuý là của P, bị cáo đưa ma tuý vào bộ dụng cụ và hơ lửa để nấu ma tuý và cả ba người cùng sử dụng thì bị lực lượng công an kiểm tra bắt quả tang. Bị cáo không khiếu nại về các hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng.

Kiểm sát viên phát biểu quan điểm: Giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Nguyễn Văn P, bị cáo Nguyễn Nhật T và đề nghị:

Về hình phạt chính:

1. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn P từ 7 năm 6 tháng đến 8 năm tù.

2. Áp dụng dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Nhật T từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù.

Về hình phạt bổ sung: không áp dụng.

Vật chứng và biện pháp tư pháp: áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự

Tịch thu tiêu huỷ 01 chai nhựa trong suốt cao 17cm, đáy rộng 4,5cm, có nắp nhựa màu vàng có gắn ống hút nhựa màu đen dài 15cm và gắn ống nỏ bằng thuỷ tinh dài 19cm được uốn cong một đầu; 01 bật lửa màu xanh; 02 (hai) đoạn ống nhựa màu trắng trong; 01 cây kéo bằng kim loại màu trắng có cán nhựa màu đen, 01 sim điện thoại số thuê bao 0386349537.

Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy M20.

Các bị cáo nói lời sau cùng thừa nhận hành vi của bị cáo là phạm tội và xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa người làm chứng vắng mặt nhưng trong quá trình điều tra, họ đã có lời khai đầy đủ, rõ ràng, sự vắng mặt của họ không làm ảnh hưởng đến việc xét xử nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt họ là phù hợp quy định tại Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa, lời khai của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác đã được thu thập trong quá trình điều tra, đủ cơ sở xác định:

Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 07/9/2025, Nguyễn Văn P có hành vi khởi xướng, rủ rê Nguyễn Nhật T và Nguyễn Thành T1 sử dụng trái phép chất ma tuý tại nhà không số ở ấp Q, xã G, tỉnh Vĩnh Long do P thuê ở. P thanh toán tiền mua ma tuý, T mang ma tuý loại Methamphetamine mua được về nhà không số ở ấp Q, xã G, tỉnh Vĩnh Long của P, T pha ma tuý để P, T, T1 cùng sử dụng. Trong lúc cả ba người đang sử dụng thì bị Cơ quan điều tra phát hiện bắt quả tang đối với P và T. Các bị cáo nhận thức rõ việc sử dụng trái phép chất ma tuý, đưa chất ma tuý trái phép vào cơ thể người khác là vi phạm pháp luật, pháp luật cấm nhưng P và T vẫn cố ý thực hiện. Với ý thức và hành vi đó, bị cáo P, T đồng phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2025.

Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến sự độc quyền quản lý của Nhà nước đối với chất ma tuý, đe doạ xâm phạm đến tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm sự phát triển bình thường của con người, là nguyên nhân phát sinh tội phạm và các tệ nạn xã hội khác; gây tác động xấu đến tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội nơi bị cáo thực hiện tội phạm, gây tâm lý bất an trong quần chúng nhân dân.

Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Nhân thân các bị cáo có nhân thân xấu đã từng bị xử lý vi phạm hành chính, ngoài ra P còn từng bị kết án.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự các bị cáo P, T không có.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được áp dụng đối với các bị cáo P, T là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cãi và có nghĩa vụ nuôi con chưa thành niên theo điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về vai trò đồng phạm trong vụ án này P là người rủ rê cung cấp ma tuý, dụng cụ, địa điểm; T là người giúp sức đi mua ma tuý, nấu ma tuý nên cân nhắc trong lúc lượng hình đối với các bị cáo.

Hình phạt bổ sung: không áp dụng do các bị cáo không có tài sản, thu nhập ổn định và không vì động cơ vụ lợi.

Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Áp dụng các Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: 01 chai nhựa trong suốt cao 17cm, đáy rộng 4,5cm, có nắp nhựa màu vàng có gắn ống hút nhựa màu đen dài 15cm và gắn ống nỏ bằng thuỷ tinh dài 19cm được uốn cong một đầu; 01 bật lửa màu xanh; 02 (hai) đoạn ống nhựa màu trắng trong; 01 cây kéo bằng kim loại màu trắng có cán nhựa màu đen, sim điện thoại di động số thuê bao 0386349537 liên quan đến tội phạm nên tịch thu tiêu huỷ. 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy M20 số Imei1: 354556100315764, số Imei2: 354557100315762 là phương tiện của Nguyễn Văn P sử dụng để liên hệ mua ma tuý nên tịch thu nộp ngân sách Nhà nước. Các vật chứng trên đã được niêm phong theo quy định.

Nguyễn Nhật T khai ngày 07/9/2025, T mua ma túy của một nam thanh niên tên “T4” nhưng không biết họ tên đầy đủ và địa chỉ cụ thể của người này. Do đó, kiến nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh V tiếp tục xác minh làm rõ, xử lý theo quy định của pháp luật.

Đối với Nguyễn Thành T1, Nguyễn Thanh T2, Nguyễn Thanh P2, Đặng Thị Thùy D (vợ của P) cơ quan điều tra không chứng minh được có đồng phạm với P và T hoặc phạm tội khác nên không truy cứu trách nhiệm hình sự là phù hợp.

Đối với Nguyễn Nhật T là đối tượng thuộc diện quản lý sau cai nghiện ma tuý tại nơi cư trú đã sử dụng trái phép chất ma tuý trong vụ án này, tuy nhiên T đã bị xử lý tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý trong vụ án này (người tổ chức và người thụ hưởng) nên không sử lý về tội sử dụng trái phép chất ma tuý đối với T là phù hợp.

Lời phát biểu luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa về tội danh, điều luật áp dụng, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, hình phạt, xử lý vật chứng, các biện pháp tư pháp và hình phạt bổ sung phù hợp quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận. [9] Về án phí hình sự sơ thẩm: áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án các bị cáo bị kết án nên buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn P, Nguyễn Nhật T phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”.

1. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2025;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn P 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 07/9/2025.

2. Áp dụng dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2025;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Nhật T 07 (bảy) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 07/9/2025. 3. Xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp: áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự Tịch thu tiêu huỷ: 01 chai nhựa trong suốt cao 17cm, đáy rộng 4,5cm, có nắp nhựa màu vàng có gắn ống hút nhựa màu đen dài 15cm và gắn ống nỏ bằng thuỷ tinh dài 19cm được uốn cong một đầu; 01 bật lửa màu xanh; 02 (hai) đoạn ống nhựa màu trắng trong; 01 cây kéo bằng kim loại màu trắng có cán nhựa màu đen, 01 sim điện thoại số thuê bao 0386349537. Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy M20 số Imei1: 354556100315764, số I: 354557100315762.

(Vật chứng hiện Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 5-Vĩnh Long quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng ngày10 tháng 4 năm 2026).

4. Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án: Buộc mỗi bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.

5. Các bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ