- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lại Văn L và đồng phạm Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy - phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (điều 255 Luật sửa đổi, bổ sun…"
- Tòa quyết gì? Về hình sự: căn cứ các điểm a, b khoản 2, Điều 260; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106; các điều 136; 331; 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường …
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 260 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH LIÊM TỈNH HÀ NAM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 55/2024/HS-ST Ngày: 26 - 6 - 2024. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH LIÊM, TỈNH HÀ NAM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: ông Trần Văn Cảnh;
Các Hội thẩm nhân dân: ông Quách u n Luy n và bà Lê Thị Hà.
Thư ký phiên toà: ông Đặng Trần Kim Anh - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huy n Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam tham gia phiên toà: ông Vũ Đình Tưởng - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nh n d n huy n Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 41/2024/TLST-HS ngày 06 tháng 5 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 56/2024/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 6 năm 2024, đối với bị cáo:
- Phan Bá H - sinh năm: 2003; nơi cư trú: thôn Đ H, xã T T, huy n T L, tỉnh Hà Nam; nghề nghi p: lao động tự do; trình độ văn hoá: 9/12; d n tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Vi t Nam; con ông Phan Bá M và bà Lê Thị K; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 26/01/2024, hi n đang bị tạm giam tại Trại tạm giam - Công an tỉnh Hà Nam; có mặt.
- Bị hại: ông Phạm Văn B - sinh năm 1960 (đã chết);
- Người đại di n hợp pháp của bị hại:
1. Bà Nguyễn Thị L - sinh năm 1940, (mẹ đẻ bị hại);
2. Bà Bùi Thị L1 - sinh năm 1958, (vợ bị hại);
3. Anh Phạm Văn L2 - sinh năm 1987, (con đẻ bị hại);
4. Anh Phạm Văn L3 - sinh năm 1990, (con đẻ bị hại);
5. Chị Phạm Thị L4 - sinh năm 1986, (con đẻ bị hại);
Cùng nơi cư trú: thôn T H, xã T T, huy n T L, tỉnh Hà Nam.
- Người đại di n theo ủy quyền của những người đại di n hợp pháp của bị hại: ông Đào Văn T - sinh năm 1965, nơi cư trú: thôn T H, xã T T, huy n T L, tỉnh Hà Nam, có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: chị Đặng Thu T - sinh năm 2004; nơi cư trú: thôn T T, xã X T, huy n V Y, tỉnh Yên Bái, có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Người làm chứng:
1. Ông Phạm Văn L5 - sinh năm 1972; vắng mặt.
2. Ông Đào Văn Đ - sinh năm 1962; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài li u có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 06 giờ ngày 29/11/2023, Phan Bá H điều khiển xe mô tô BKS 90B1
- 781… (dung tích xi lanh 109cm3) khi không có giấy phép lái xe theo quy định và đã sử dụng chất ma túy, chở chị Đặng Thu T đi trên đường bê tông nối giữa đường ĐH07 với đường ĐH10. Đến khoảng 06 giờ 10 phút cùng ngày, khi đi đến Km 0 + 640 thuộc địa phận thôn Đức Hòa, xã Thanh Tân, huy n Thanh Liêm, Phan Bá H điều khiển xe mô tô đi với tốc độ khoảng 60km/h trong thời tiết có sương mù, thời điểm đó phía trước ngược chiều có ông Phạm Văn B điều khiển xe mô tô BKS 90H8 – 22.. đi trên đường bê tông theo hướng đường ĐH10 đi đường ĐH07. Do H bị hạn chế tầm nhìn và điều khiển xe mô tô đi sang phần đường của xe chạy ngược chiều dẫn đến bánh lốp trước xe mô tô BKS 90B1 - 781… đã xô vào bánh lốp trước xe mô tô BKS 90H8 – 22.. do ông Phạm Văn B điều khiển làm 02 xe mô tô đổ ra đường, cả 03 người bị ngã ra đường, ông B tử vong tại hi n trường; Phan Bá H và chị Đặng Thu T bị thương được đi đi cấp cứu và điều trị tại B nh vi n Đa khoa tỉnh Hà Nam; 02 xe mô tô bị hư hỏng. Sau khi tiếp nhận tin báo, cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huy n Thanh Liêm đã phối hợp với lực lượng chức năng và chính quyền địa phương tiến hành khám nghi m hi n trường, khám nghi m tử thi, khám phương ti n có liên quan theo quy định của pháp luật. Tiến hành đo nồng độ cồn trong hơi thở đối với Phan Bá H và Đặng Thu T vào hồi 08 giờ 30 phút ngày 29/11/2023 tại B nh vi n Đa khoa tỉnh Hà nam đều có kết quả: 0.000mg/L.
Quá trình khám nghi m hi n trường, tử thi, phương ti n Cơ quan CSĐT - Công an huy n Thanh Liêm đã thu mẫu máu, mẫu nước tiểu của nạn nh n Phạm Văn B, niêm phong ký hi u lần lượt là M1, M2; thu mẫu nước tiểu của Phan Bá H niêm phong ký hi u T và thu giữ vật chứng, tài sản, giấy tờ tài li u gồm: gồm 01 xe mô tô BKS 90B1-781… kèm theo giấy chứng nhận của xe; 01 xe mô tô BKS 90H8-22..; 01 đôi dép; 01 mũ bảo hiểm; các mảnh nhựa vỡ.
Ngày 29/11/2023, cơ quan CSĐT - Công an huy n Thanh Liêm ra quyết định trưng cầu Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hà Nam giám định nguyên nh n tử vong của ông Phạm Văn B, giám định đối với mẫu máu, mẫu nước tiểu thu giữ, niêm phong ký hi u M1, M2, T.
Tại bản Kết luận giám định pháp y về tử thi số 848/KL-KTHS ngày 11/12/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hà Nam kết luận: “Nguyên nhân dẫn đến tử vong của ông Phạm Văn B do Chấn thương cột sống - tủy sống cổ (Trật khớp, phù nề, bầm dập, tụ máu tủy sống đoạn C3 - C4)”.
Tại bản Kết luận giám định số 835/KL-KTHS ngày 04/12/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hà Nam kết luận: “Tìm thấy Ethanol (cồn) trong mẫu máu ký hiệu M1 ghi thu của tử thi Phạm Văn B. Nồng độ Ethanol (cồn) là 75,12mg/100ml máu”.
Tại bản Kết luận giám định số 836/KL-KTHS ngày 04/12/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Nam kết luận:
“- Không tìm thấy chất ma túy thường gặp (Heroin, Methamphetamine, Ketamine, MDMA,….) trong mẫu nước tiểu ký hiệu M2 gửi giám định.
- Tìm thấy chất ma túy MDMA và Dehydronorketamine, Norketamine là sản phẩm chuyển hóa của chất ma túy Ketamine trong mẫu nước tiểu ký hiệu T gửi giám định”.
Ngày 05/01/2024, cơ quan CSĐT - Công an huy n Thanh Liêm ra Quyết định trưng cầu Trung t m giám định y khoa và pháp y tỉnh Hà Nam giám định tỷ l tổn hại sức khỏe của chị Đặng Thu T nhưng chị T cương quyết từ chối vi c giám định
* Về trách nhi m d n sự: sau tai nạn xảy ra, Phan Bá H đã tự nguy n bồi thường cho gia đình bị hại số tiền là 130 tri u đồng. Đại di n hợp pháp theo ủy quyền của gia đình bị hại không có yêu cầu đề nghị gì khác về d n sự và xin giảm nhẹ trách nhi m hình sự đối với Phan Bá H; chị Đặng Thu T không có yêu cầu đề nghị gì.
Tại bản Cáo trạng số 40/CT-VKS-TA ngày 06/5/2024, Vi n kiểm sát nh n d n huy n Thanh Liêm đã truy tố Phan Bá H về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại các điểm a, b khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự.
* Tại phiên tòa:
- Đại di n Vi n kiểm sát nh n d n huy n Thanh Liêm thực hành quyền công tố, giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo theo toàn bộ nội dung bản cáo trạng đã nêu không có ý kiến bổ sung hoặc thay đổi gì. Sau khi ph n tích tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhi m hình sự cũng như nh n th n của bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử: tuyên bố bị cáo Phan Bá H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Áp dụng các điểm a, b khoản 2 Điều 260; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; của Bộ luật Hình sự; điểm c khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. xử phạt Phan Bá H từ 04 năm đến 04 năm 06 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về xử lý vật chứng: tịch thu, tiêu hủy 01 đôi dép; 01 mũ bảo hiểm; các mảnh nhựa vỡ; trả lại cho bị cáo Phan Bá H 01 xe mô tô BKS 90B1-781... và giấy tờ kèm theo.
- Bị cáo Phan Bá H đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài li u có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hi n đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hi n đều hợp pháp.
Người làm chứng đã được Tòa án tri u tập hợp l , nhưng vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. ét thấy, sự vắng mặt của những người này không trở ngại cho vi c giải quyết vụ án, nên Hội đồng xét xử quyết định vẫn tiến hành xét xử theo quy định tại Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Về tội danh: tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà, Phan Bá H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như trong nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo được thẩm tra tại phiên tòa, phù hợp với chính lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp Biên bản khám nghi m hi n trường, khám phương ti n liên quan, Bản kết luận giám định pháp y, lời khai của người làm chứng, vật chứng đã thu giữ và các tài li u, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định:
Khoảng 06 giờ ngày 29/11/2023, Phan Bá H điều khiển xe mô tô BKS 90B1
- 781… (dung tích xi lanh 109cm3) khi không có giấy phép lái xe theo quy định và trong cơ thể có chất ma túy MDMA và sản phẩm chuyển hóa của chất ma túy Ketamine chở chị Đặng Thu T đi trên đường bê tông nối giữa đường ĐH07 với đường ĐH10 trong thời điểm có sương mù nên hạn chế tầm nhìn. Đến khoảng 06 giờ 10 phút cùng ngày, khi đi đến Km 0 + 640 thuộc địa phận thôn Đức Hòa, xã Thanh T n, huy n Thanh Liêm; H điều khiển xe mô tô đi với tốc độ khoảng 60km/h và đi không đúng phần đường quy định dẫn đến bánh lốp phía trước xe mô tô BKS 90B1 - 781… xô vào bánh lốp trước xe mô tô BKS 90H8 – 22.. do ông Phạm Văn B điều khiển đi hướng ngược chiều làm 02 xe mô tô bị đổ, cả 03 người bị ngã ra đường, ông Phạm Văn B tử vong tại hi n trường, Phan Bá H và chị Đặng Thu T bị thương, 02 xe mô tô bị hư hỏng.
Hành vi nêu trên của Phan Bá H đã vi phạm khoản 7, khoản 9 Điều 8; khoản 1 Điều 9; khoản 1 Điều 17 Luật giao thông đường bộ; các khoản 8, 11 Điều 5 Thông tư số 31/2019/TT - BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ Giao thông vận tải quy định về tốc độ và khoảng cách an toàn của xe cơ giới, xe máy chuyên dùng tham gia giao thông đường bộ, g y hậu quả làm chết 01 người đã phạm vào tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, tội phạm và hình phạt được quy định tại các điểm a, b khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự; Cáo trạng của Vi n kiểm sát nh n d n huy n Thanh Liêm truy tố đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, hành vi đó đã xâm phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ, g y thi t hại cho tính mạng người khác mà quyền này được pháp luật bảo v gây ảnh hưởng trật tự trị an tại địa phương và t m lý lo lắng cho những người tham gia giao thông. Do đó Hội đồng xét xử thấy cần ra bản án nghiêm khắc tương xứng hành vi phạm tội của bị cáo.
Về nh n th n bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhi m hình sự:
- Về nh n th n: bị cáo chưa có tiền án, tiền sự.
- Về tình tiết tăng nặng: bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào theo quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ: quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã “thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” về hành vi phạm tội của mình, sau khi tai nạn xảy ra bị cáo đã bồi thường d n sự cho gia đình bị hại số tiền 130 tri u đồng nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm b và s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, người đại di n theo ủy quyền của người đại di n hợp pháp của bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; bị cáo có tham gia nghĩa vụ Qu n sự và đã hoàn thành nghĩa vụ nên xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự
Về hình phạt:
- Hình phạt chính: Hội đồng xét xử xét thấy, mặc dù bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, căn cứ tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội (điều khiển xe mô tô khi không có giấy phép, trong cơ thể có chất ma túy MDMA) không chấp hành luật giao thông đường bộ, g y lên cái chết thương tâm cho ông Phạm Văn B. Do vậy Hội đồng xét xử xét thấy, cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công d n lương thi n và có tác dụng phòng ngừa chung.
- Hình phạt bổ sung: bị cáo là lao động tự do, không hành nghề lái xe nên không có căn cứ áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về trách nhi m d n sự: bị cáo đã tự nguy n bồi thường cho gia đình bị hại, đại di n hợp pháp của bị hại không còn yêu cầu, đề nghị gì; nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Về xử lý vật chứng:
- Đối với xe mô tô mô tô BKS 90H8 – 22.. là tài sản hợp pháp của ông Phạm Văn B, cơ quan CSĐT - Công an huy n Thanh Liêm đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại tài sản trên cho ông Đào Văn T là đại di n hợp pháp theo ủy quyền của gia đình bị hại là đúng pháp luật.
- Đối với 01 xe mô tô BKS 90B1-781... và giấy tờ kèm theo là tài sản hợp pháp của bị cáo, nên sẽ trả lại cho bị cáo.
- Đối với 01 mũ bảo hiểm, 01 đôi dép của ông Phạm Văn B, các mảnh nhựa vỡ không còn giá trị sử dụng đại di n hợp pháp của bị hại có quan điểm không nhận lại nên cần tịch thu tiêu hủy
Về các vấn đề khác:
- Đối với thương tích của chị Đặng Thu T do chị T cương quyết từ chối vi c giám định, không có yêu cầu đề nghị gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về hình sự: căn cứ các điểm a, b khoản 2, Điều 260; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106; các điều 136; 331; 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Tuyên bố: bị cáo Phan Bá H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
- ử phạt bị cáo Phan Bá H 04 (bốn) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giam (26/01/2024).
- Hình phạt bổ sung: không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
2. ử lý vật chứng: tịch thu tiêu hủy 01 mũ bảo hiểm, 01 đôi dép, các mảnh nhựa vỡ. Trả lại cho bị cáo 01 xe mô tô BKS 90B1-781… và giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 070324 của xe mô tô BKS 90B1-781… (chi tiết vật chứng như trong Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 07/5/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huy n Thanh Liêm với Chi cục Thi hành án D n sự huy n Thanh Liêm).
3. Án phí: bị cáo Phan Bá H phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo đối với bản án: bị cáo có mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người đại di n hợp pháp của bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
5. Quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hi u yêu cầu thi hành án: trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án d n sự thì người được thi hành án d n sự, người phải thi hành án d n sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguy n thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án d n sự; thời hi u thi hành án được thực hi n theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án d n sự./.
| Nơi nhận: - TAND tối cao; - TAND tỉnh Hà Nam; - VKSND tỉnh Hà Nam; - VKSND huy n Thanh Liêm; - Cơ quan CSĐT Công an huy n Thanh Liêm; - Chi cục THA DS huy n Thanh Liêm; - Sở Tư pháp tỉnh Hà Nam; - Cổng thông tin đi n tử của Tòa án; - Trại tạm giam Công an tỉnh Hà Nam; - Bị cáo; - Người đại di n theo ủy quyền của những người đại di n hợp pháp của bị hại; - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Văn Cảnh |