vanban.org

Bản án 53/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Chí Linh, tỉnh Hải Dương Tuyên án 30/05/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Phạm Đức M phạm tội “Buôn bán hàng cấm”.

Xử phạt bị cáo Phạm Đức M 05 năm 09 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày tạm giữ 25/12/2022. Về hình phạt bổ sung: Xử phạt bị cáo M 25.000.000 đồng sung quỹ Nhà nước. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Đức Mạnh - phạm tội sản xuất, buôn bán hàng cấm (điều 190 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phạm Đức M phạm tội “Buôn bán hàng cấm”.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Luật Phí và lệ phí; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CHÍ LINH
TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 53/2023/HS - ST
Ngày: 30-5-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÍ LINH, TỈNH HẢI DƯƠNG

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Vân Anh.

Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Thành và bà Vũ Thị Linh.

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Đức Phú - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh tham gia phiên tòa: Bà Cao Thị Thu Trang - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở, Tòa án nhân dân thành phố Chí Linh xét xử sơ thẩm công khai hình thức trực tuyến trong đó điểm cầu trung tâm tại Toà án nhân dân thành phố Chí Linh, điểm cầu thành phần tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dương đối với vụ án hình sự thụ lý số 42/2023/TLST-HS ngày 10/4/2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 47/2023/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 5 năm 2023 với bị cáo:

Phạm Đức M, sinh năm 2003.

Nơi ĐKNKTT: thôn Lương X, xã K, huyện K, tỉnh H; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá (học vấn): 9/12; dân tộc: kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn Đ và bà Vũ Thị N; tiền án, tiền sự: không;

Bị cáo bị tạm giữ ngày 25/12/2022 đến ngày 28/12/2022 chuyển tạm giam, hiện đang tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dương. Có mặt tại điểm cầu thành phần (Trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dương).

- Người chứng kiến: Ông Dương văn C. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 20/12/2022, Phạm Đức M quen biết một người thanh niên tên là Q (Mkhông rõ nhân thân lý lịch), sử dụng tài khoản Zalo có tên là "Karaoke Quang Nguyễn" và số điện thoại 0397192364. Q xin việc cho M vào làm ở quán karaoke Quang Nguyễn ở xã T, huyện B, tỉnh H. Khoảng 16 giờ ngày 23/12/2022, M và Q đi xe taxi đến khu vực bãi rễ ở khu dân cư T, phường C, thành phố C, tỉnh H để Quang bán 05 quả pháo cho một người thanh niên tên là H (không rõ nhân thân lý lịch), được số tiền 2.500.000 đồng, Q cho M 500.000 đồng.

Ngày 24 và 25/12/2022, M sử dụng điện thoại nhãn hiệu Samsung Galaxy A13, màu đen gắn sim số 0865574835 gọi điện, nhắn tin đến số điện thoại 0522431307 trao đổi về việc mua bán pháo với H. M và H thỏa thuận: H đặt mua của M 03 giàn pháo hoa loại 36 quả, mỗi giàn 700.000 đồng và 65 quả pháo nổ, mỗi quả 520.000 đồng, tổng số tiền H phải trả để mua pháo là 35.900.000 đồng, khi giao pháo sẽ nhận tiền. Sau đó, M và Q thỏa thuận Q chuẩn bị số pháo trên để M đem bán cho H, Q sẽ chia cho M 30% của số tiền 35.900.000 đồng có được từ việc bán pháo. Đến khoảng 15 giờ ngày 25/12/2022, khi M đang ở quán karaoke Quang Nguyễn thì Q chuẩn bị 02 thùng cát-tông bên trong chứa 03 giàn pháo hoa loại 36 quả và 65 quả pháo nổ để sẵn trên xe taxi do Q thuê và bảo M mang sang thành phố C bán cho H. Đến 18 giờ 20 phút ngày 25/12/2022, khi M đi xe taxi đến địa điểm đã hẹn với H ở khu vực bãi rễ thuộc KDC T, phường C, thành phố C, M xuống xe và bảo người lái xe bê 02 thùng cát-tông chứa pháo xuống cho M, sau đó người lái xe taxi đi đón Q (M không biết là đón ở đâu). Khi M đang đứng chờ H đến để bán pháo thì bị lực lượng Công an phát hiện bắt quả tang, thu giữ 02 thùng cát-tông bên trong đựng 03 khối hộp hình vuông, kích thước (15 × 15 × 14,5)cm, bên ngoài bọc giấy màu, bên trong mỗi hộp có 36 vật hình trụ bên ngoài có chữ nước ngoài, bên trong có 36 hình trụ được liên kết với nhau và 65 khối hình trụ tròn cao khoảng 14 đến 16 cm, đường kính khoảng 9,5 đến 12,5 cm, màu sắc khác nhau, một đầu có gắn dây dẫn. M tự nguyện giao nộp 01 điện thoại di động điện thoại nhãn hiệu Samsung Galaxy A13, màu đen gắn sim số 0865574835.

Tại bản kết luận giám định số 08/KL-KTHS, ngày 28/12/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hải Dương kết luận:

- 03 khối hình hộp vuông có kích thước (15 × 15 × 14,5)cm, bên ngoài bọc giấy màu, bên trong mỗi hộp có 36 vật hình trụ. Các vật hình trụ này được liên kết với nhau bằng dây dẫn màu nâu. Tất cả đều là pháo hoa nổ. Tổng khối lượng là 4,254 kg.

- 65 vật hình trụ tròn cao khoảng 14 đến 16 cm, đường kính khoảng 9,5 đến 12,5 cm, bên ngoài quấn bằng giấy nhiều lớp, hai đầu được bịt kín bằng keo, một đầu có gắn dây dẫn màu trắng. Tất cả đều là pháo nổ. Tổng khối lượng là 40,824 kg.

- Tổng khối lượng pháo nổ và pháo hoa nổ là 45,078 kg. Hoàn lại sau giám định pháo nổ và pháo hoa nổ tổng khối lượng là: 41,363kg.

Tại bản cáo trạng số 34/CT-VKS-CL ngày 06/4/2023 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương đã truy tố bị cáo Phạm Đức M về tội “Buôn bán hàng cấm ” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 190 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà:

Bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi như đã nêu trên, thừa nhận việc truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh đối với bị cáo là đúng; bị cáo đã ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát trình bày luận tội, giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Phạm Đức M phạm tội “Buôn bán hàng cấm”. Áp dụng điểm g khoản 2, khoản 4 Điều 190, Điều 38, điểm a khoản 1 Điều 47, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội. Xử phạt bị cáo Phạm Đức M từ 5 năm 3 tháng đến 5 năm 9 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 25/12/2022; Về hình phạt bổ sung: Xử phạt bị cáo M từ 20.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng sung quỹ Nhà nước; Về vật chứng: Tịch thu sung quỹ Nhà nước đối với 01 điện thoại nhãn hiệu Samsung Galaxy A13, màu đen, đã qua sử dụng, lắp sim số: 0865574835; Về án phí: bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định.

Bị cáo nói lời sau cùng, do nhận thức pháp luật hạn chế nên đã thực hiện hành vi vi phạm pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra công an thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, lời khai của người liên quan, người chứng kiến, vật chứng đã thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Nên có đủ căn cứ kết luận: Hồi 18 giờ 20 phút, ngày 25/12/2022, tại khu vực bãi rễ thuộc khu dân cư T, phường C, thành phố C, công an thành phố bắt quả tang Phạm Đức M có hành vi bán 03 giàn pháo hoa nổ loại 36 quả có trọng lượng 4,254 kg và 65 quả pháo nổ có trọng lượng là 40,824 kg; tổng khối lượng pháo nổ và pháo hoa nổ là 45,078 kg đi bán cho một người tên là H (không rõ nhân thân, lý lịch) để lấy số tiền 35.900.000 đồng.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm tới hoạt động quản lý kinh tế của Nhà nước đối với những loại hàng hóa mà pháp luật cấm kinh doanh. Pháo nổ là mặt hàng Nhà nước độc quyền quản lý. Nhà nước đã có quy định nghiêm cấm mọi hành vi sản xuất, mua bán, vận chuyển, tàng trữ, sử dụng trái phép pháo. Mọi hành vi sản xuất, lưu thông, sử dụng pháo nổ có nguy cơ gây ra nổ làm thiệt hại về tính mạng, sức khỏe và tài sản. Mặc dù nhận thức rõ được điều đó nhưng với mục đích tư lợi cá nhân, bị cáo đã coi thường pháp luật của Nhà nước lén lút mua bán pháo gây mất trật tự, trị an trên địa bàn, làm ảnh hưởng nếp sống văn hóa của dân tộc. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp buôn bán số lượng pháo lớn. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Buôn bán hàng cấm” quy định tại điểm g khoản 2 Điều 190 Bộ luật hình sự. Do đó việc truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh đối với bị cáo là đúng người, đúng tội.

Do vậy cần áp dụng một hình phạt thỏa đáng cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới đảm bảo mục đích giáo dục, trừng trị bị cáo, đồng thời răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung.

Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo có nhân thân tốt. Quá trình điều tra, bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo phạm tội với mục đích tư lợi cá nhân nên cần thiết áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra giải quyết.

Về xử lý vật chứng: Tổng số 41,363kg pháo hoàn trả sau giám định đã được tiêu hủy theo quy định pháp luật. Đối với 01 điện thoại nhãn hiệu Samsung Galaxy A13, màu đen, đã qua sử dụng, lắp sim số: 0865574835 thu của Phạm Đức M là công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự ; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; (tình trạng vật chứng được mô tả chi tiết trong biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 04/4/2023 giữa Công an thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương).

Đối với 02 người thanh niên M khai tên là Q và H, M không biết rõ nhân thân, lý lịch. Qua tra cứu điện tín xác định chủ thuê bao số 0397192364 là bà Phạm Thị Thanh H, sinh năm 1977, trú tại: 05/80 Đ, phường L, thành phố T, tỉnh T; chủ thuê bao số 0522431307 là ông Phạm Văn T, sinh năm 1964, trú tại: khu dân cư T, phường S, thành phố C, tỉnh H. Cơ quan điều tra đã làm việc với bà Hvà ông T. Bà H và ông T khai bản thân không sử dụng những số điện thoại nêu trên, không quen biết hay có mối quan hệ gì với Phạm Đức M, nên không đủ căn cứ để xử lý. Cơ quan điều tra đã có văn bản đề nghị Công ty Cổ phần VNG cung cấp số điện thoại đăng ký zalo "Karaoke Quang Nguyễn" nhưng Công ty Cổ phần VNG không cung cấp được thông tin theo yêu cầu; đối với người lái xe taxi chở pháo cho M đem đi bán do Q thuê, M không rõ nhân thân, lý lịch nên không có căn cứ để xem xét xử lý.

Ngoài hành vi phạm tội nêu trên, Mạnh tự khai nhận ngày 23/12/2022, M đi cùng Q bán 05 quả pháo cho H với số tiền 2.500.000 đồng, M được Q cho 500.000 đồng, ngoài lời khai của M không có chứng cứ nào khác chứng minh nên Cơ quan điều tra không đặt ra xử lý.

Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí, lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25 tháng 11 năm 2015 và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm g khoản 2, khoản 4 Điều 190; Điều 38, điểm a khoản 1 Điều 47; điểm s khoản Điều 51 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên bố bị cáo Phạm Đức M phạm tội “Buôn bán hàng cấm”.

Xử phạt bị cáo Phạm Đức M 05 năm 09 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày tạm giữ 25/12/2022.

Về hình phạt bổ sung: Xử phạt bị cáo M 25.000.000 đồng sung quỹ Nhà nước.

Về trách nhiệm dân sự: không đặt ra giải quyết.

Về xử lý vật chứng: Tịch thu phát mại sung quỹ Nhà nước đối với 01 điện thoại nhãn hiệu Samsung Galaxy A13, màu đen, máy đã qua sử dụng, số IMEI 1: 352469856854154, số IME 2: 357132376854154, lắp sim có số seri: 8984048000027404378.

Tình trạng vật chứng được mô tả chi tiết trong biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 04/4/2023 giữa Công an thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương.

Về án phí: Buộc bị cáo Phạm Đức M phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ