- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hình sự - phạm tội cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Quốc P (tên gọi khác: LE) phạm tội “Cướp giật tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG [ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 53/2023/HS-ST Ngày: 28-7-2023 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ÔngVõ Văn Lịnh
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Hồng Xứng
Ông Lê Minh Luân
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tấn Đạt - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Ông Trần Ngọc Tú - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 7 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 46/2023/TLST-HS ngày 13 tháng 6 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 67/2023/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 7 năm 2023 đối với bị cáo:
Họ và tên:Trần Quốc P (tên gọi khác: Lai Em), sinh ngày 12/01/1994 tại huyện CT, tỉnh Long An. Nơi ĐKHK thường trú: 352/4 ấp TQ; xã TPL, huyện CT, tỉnh Long An; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ học vấn : 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn Trí, sinh năm 1968 và bà Đỗ Thị Kim Hạnh, sinh năm1968; chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: không; nhân thân: ngày 21/8/2015 bị Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xử phạt 6 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án hình sự phúc thẩm số 102/2015/HSPT, chấp hành xong hình phạt ngày 14/4/2016 (đã xóa án tích); bị tạm giữ ngày 16/12/2022, sau đó chuyển tạm giam đến nay (Có mặt tại phiên tòa).
* Người bị hại:
1. Ông VP, sinh ngăm: 1991 (vắng mặt).
Địa chỉ: Finkenschiag 22, 90579 Langenzenn, Germany; Quốc tịch: Đức.
Người đại diện theo uỷ quyền của ông Vogle Patrik: Ông Trần Công Đ, sinh năm 1994, theo Giấy uỷ quyền ngày 16/12/2022 (vắng mặt, có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt).
Địa chỉ: Số 73/4, đường THĐ, Khu phố 7, phường DĐ, thành phố PQ, tỉnh Kiên Giang.
2. Bà PJ, sinh năm: 1992 (vắng mặt).
Địa chỉ: 834-17 Anyang 2 - dong, Man - Gu, Anyang - ST, Gyeonggi; Quốc tịch: Hàn Quốc.
Người đại diện theo uỷ quyền của bà Park Min Jin: Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1995, theo Giấy uỷ quyền ngày 16/12/2022 (vắng mặt, có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt).
Địa chỉ: ấp ĐB, xã DT, thành phố PQ, tỉnh Kiên Giang.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị Kim H, sinh năm 1996 (vắng mặt).
Địa chỉ: Phòng trọ số 19, Nhà trọ Dương Đăng Khôi, số 261, đường 30/4, Khu phố 1, phường Dương Đông, thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang.
* Người làm chứng: Ông Dƣơng Đăng K, sinh năm: 1993 (vắng mặt).
Địa chỉ: Số 28, đường Nguyễn Chí Thanh, khu phố 11, phường Dương Đông, thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trần Quốc P từ tỉnh Long An đến thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang làm thuê nhưng do không có công việc làm ổn định nên cướp giật tài sản của người khác để phục vụ cho nhu cầu cá nhân, cụ thể như sau:
Vụ thứ nhất: Vào khoảng 15 giờ, ngày 15/12/2022 Trần Quốc P điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Visson, màu trắng đen, biển số 62H1-278.75 (xe của Nguyễn Thị Kim H bạn gái P, H không biết Phát sử dụng xe trên vào việc phạm tội) lưu thông đến vòng xoay đường Trần Hưng Đạo, thuộc khu phố 7, phường Dương Đông, thành phố phú Quốc, tỉnh Kiên Giang thì phát hiện ông VP (sinh năm 1991, cư ngụ: Finkenschiag 22, 90579 Langenzenn, Germany; Quốc tịch: Đức) đứng trước cửa quán “Vị Biển” thuộc tổ 2, khu phố 7, phường Dương Đông, thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang đang sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Pro 256 Gb, màu xanh ngọc. Lúc này Trần Quốc P điều khiển xe mô tô áp sát, dùng tay trái giật 01 điện thoại di động của ông VP rồi tăng ga bỏ chạy. Sau đó Trần Quốc P lấy điện thoại vừa cướp giật được đem về phòng trọ số 19 nhà trọ “Dương Đăng Khôi” ở số 261 đường 30/4, khu phố 1, phường Dương Đông, thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang cất giấu trên la phông của nhà trọ.
Vụ thứ 2: Vào khoảng 19 giờ, ngày 15/12/2022 Trần Quốc P điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Visson, màu trắng đen, biển số 62H1-278.75 (xe của Nguyễn Thị Kim H bạn gái P, H không biết P sử dụng xe trên vào việc phạm tội) lưu thông trên đoạn đường 30/4 khi đến trước cơ sở Massage “Tứ Quí” thuộc khu phố 1, phường Dương Đông, thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang thì phát hiện bà Pi (Sinh năm: 1992, cư ngụ: 834-17 Anyang 2- dong, Man – Gu, Anyang – ST, Gyeonggi - do; Quốc tịch: Hàn Quốc) đi bộ và đang sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Pro 512 Gb, màu vàng. Lúc này Trần Quốc P điều khiển xe mô tô áp sát, dùng tay trái giật 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Pro 512 Gb của bà Pi rồi tăng ga bỏ chạy. Sau đó Trần Quốc P lấy điện thoại vừa cướp giật được đem về phòng trọ số 19 nhà trọ “Dương Đăng Khôi” ở số 261 đường 30/4, khu phố 1, phường Dương Đông, thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang tháo sim ra, cất giấu trên la phông của nhà trọ.
Ngày 16/12/2022 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang trích xuất dữ liệu điện tử (Camera) thì xác định chính Trần Quốc P là người thực hiện hành vi phạm tội nên tiến hành bắt khẩn cấp, thu giữ toàn bộ vật chứng, phương tiện, trang phục Phát mặc khi thực hiện hành vi phạm tội.
* Tại Kết luận định giá tài sản số: 03, ngày 16/01/2023 của Hội đồng định giá trong Tố tụng hình sự thuộc UBND thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang kết luận về định giá tài sản Phát đã cướp giật trong 02 vụ nêu trên là 9.000.000đ và 17.000.000đ, tổng cộng là: 26.000.000đ (Hai mươi sáu triệu đồng).
* Tại bản kết luận giám định số: 370/KL-KTHS, ngày 24/4/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh kIên Giang như sau:
- Đoạn video gửi đến giám định mang tên “CGTS.mp4” (đã kiểm tra mã MD5: 2469FD472E2E816403D145A2192DB8A0) có thời lượng 01 phút 24 giây. Tệp tin video gửi giám định không phát hiện thấy dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung trong các tệp tin video.
- Trích xuất (05) tệp tin hình ảnh trong video có liên quan đến vụ việc trên, được thể hiện trong bản Phụ lục.
* Vật chứng trong vụ án thu giữ gồm có:
- 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone 11 Pro 256 Gb, màu xanh ngọc, số imei 1: 35383310010150, imei: 35383310018673 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Pro 512 Gb, màu vàng, số imei: 355786373540926, imei 2: 355786373649727; Một sim; trên sim có ghi số 8982 3006 1700 5960033F; KTSA-L2205(được tạm giữ theo biên bản khám xét, bắt người khẩn cấp vào ngày 16/12/2022). Đã trả lại cho bị hại ông VP, bà PJi theo Quyết định xử lý vật chứng số: 29, 30 ngày 27/12/2022 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Kiên Giang.
- 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Visson, màu trắng đen, biển số 62H1-278.75. Đã trả lại cho bà Nguyễn Thị Kim H.
- 01 (một) quần lửng nam bằng vải màu đen trong lưng quần có in dòng chữ “CALVINKLEIN JEEANSW36 - L32;
- 01 (một) cái áo thun tay ngắn màu đen, trên cổ áo có hai đường sọc- xanh đỏ. Trong áo có in dòng chữ “GUCCI”;
- 01 (một) áo thun tay ngắn, cổ tròn của Nam, bằng vải màu trắng, đen, xám. Trên cổ áo có in dòng chữ “DIOR”;
- 01 (một) nón bảo hiểm, kiểu nón lưỡi trai, màu đen có dây đeo màu đen, trên nón bảo hiểm có in dòng chữ “AIR MODE”;
- 01 (một) đôi dép da màu đen, loại dép kẹp, không rõ nhãn hiệu.
- 01 (một) gói niêm phong bên trong có chữ ký của Thái Minh Hồng và được đóng dấu giáp lai Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Kiên Giang.
* Về phần trách nhiệm dân sự: Các bị hại ông VPa và bà PJi đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt, không yêu cầu bồi thường gì thêm.
Tại bản Cáo trạng số: 44/CT - VKSTKG-P2 ngày 12/6/2023 của Viện kiểm sát nhân tỉnh Kiên Giang đã truy tố Trần Quốc P về tội “Cướp giật tài sản” quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa:
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang có ý kiến:
- Giữ nguyên quyết định truy tố đối với Trần Quốc P;
- Đề nghị áp dụng điểm d khoản 2 Điều 171, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật hình sự, tuyên bố Trần Quốc P phạm tội “Cướp giật tài sản”, xử phạt bị cáo Phát từ 4 đến 5 năm tù.
- Đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy các vật chứng thu giữ của bị cáo P hiện còn quản lý nêu trên nhưng không còn giá trị sử dụng.
* Bị cáo Trần Quốc P có ý kiến: Thừa nhận bản thân đã thực hiện hành vi cướp giật tài sản của các bị hại như truy tố của Viện kiểm sát. Xin Hội đồng xét xử xem xét xử mức án nhẹ nhất có thể. Không yêu cầu được trả lại trang phục và vật dụng cá nhân của bị cáo bị giữ trong giai đoạn điều tra.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh Kiên Giang, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi bị truy tố của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo Trần Quốc P khai nhận, do cần tiền tiêu xài nên ngày 15/12/2022 điều khiển xe mô tô lưu thông trên các tuyến đường thuộc thành phố phú Quốc, tỉnh Kiên Giang giật điện thoại di động của ông VP (Quốc tịch: Đức) và bà PJi (Quốc tịch: Hàn Quốc), sau đó đem về phòng trọ cất giấu. Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ như lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra, lời khai người làm chứng, biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản khám xét, kết luận định giá, giám định…Từ đó có đủ cơ sở để kết luận bị cáo thực hiện hành vi phạm tội cướp giật tài sản thuộc điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự như truy tố của Viện kiểm sát.
Xét tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo: Hành vi bị cáo thực hiện là nguy rất hiểm cho xã hội, gây mất an ninh trật tự ở địa phương. Bị cáo thực hiện hành vi một cách ngang nhiên, liều lĩnh, thể hiện sự bất chấp kỷ cương pháp luật, chỉ trong một ngày bị cáo liên tiếp 02 lần thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi phạm tội của bị cáo không những trực tiếp xâm phạm đến tài sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp của người khác mà còn gây hoang man lo lắng đối với mọi người, đặc biệt bị cáo cướp giật tài sản của du khách nước ngoài tại địa bàn thành phố Phú Quốc là địa diểm du lịch có rất nhiều du khách trong và ngoài nước đến tham quan, du lịch đã gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, an toàn xã hội.
Về nhân thân và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo 02 lần thực hiện hành vi cấu thành tội phạm nên có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự là phạm tội 02 lần trở lên.
- Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
- Vế nhân thân: Mặc dù không thuộc trường hợp tái phạm, tái phạm nguy hiểm nhưng trước đây bị cáo cũng đã từng thực hiện hành vi phạm tội trộm cắp tài sản, bị xử phạt 6 tháng tù (đã chấp hành xong bản án và đã xóa án tích) nên bị cáo có nhân thân xấu, thể hiện chưa có ý thức tu sửa bản thân.
Từ các phân tích trên, Hội đồng xét xử chấp nhận ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, quyết định xử phạt bị cáo một hình phạt tù tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo, trên cơ sở xem xét toàn diện các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, để có thời gian cải tạo, giáo dục bị cáo đồng thời cũng nhằm răn đe, phòng ngừa chung.
Về trách nhiệm dân sự: Trong giai đoạn điều tra, người bị hại đã nhận lại đủ tài sản bị bị cáo chiếm đoạt, không yêu cầu buộc bị cáo phải hoàn trả hay bồi thường gì, nên không xem xét đến.
Về biện pháp tư pháp: Tại phiên tòa, bị cáo có ý kiến không yêu cầu được nhận lại các tài sản là tư trang, vật dụng cá nhân đã thu giữ của bị cáo trong giai đoạn điều tra mà hiện cơ quan tiến hành tố tụng còn quản lý, đồng thời thấy rằng hiện không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy theo quy định tại Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Về án phí, căn cứ Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án, bị cáo phải 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017:
Tuyên bố bị cáo Trần Quốc P (tên gọi khác: LE) phạm tội “Cướp giật tài sản”.
Xử phạt bị cáo Trần Quốc P 04 (Bốn) năm tù. Thời điểm chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày bị tạm giữ ngày 16/12/2022.
2. Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy:
+ 01 (một) quần lửng nam bằng vải màu đen trong lưng quần có in dòng chữ “CALVINKLEIN JEEANSW36 - L32;
+ 01 (một) cái áo thun tay ngắn màu đen, trên cổ áo có hai đường sọc- xanh đỏ. Trong áo có in dòng chữ “GUCCI”;
+ 01 (một) áo thun tay ngắn, cổ tròn của Nam, bằng vải màu trắng, đen, xám. Trên cổ áo có in dòng chữ “DIOR”;
+ 01 (một) nón bảo hiểm, kiểu nón lưỡi trai, màu đen có dây đeo màu đen, trên nón bảo hiểm có in dòng chữ “AIR MODE”;
+ 01 (một) đôi dép da màu đen, loại dép kẹp, không rõ nhãn hiệu.
(Hiện Cục Thi hành án Dân sự tỉnh Kiên Giang đang quản lý theo Quyết định chuyển vật chứng số 12/QĐ-VKSKG-P2 ngày 12/6/2023 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang và Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng giữa đại diện Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Kiên Giang và Cục Thi hành án Dân sự tỉnh Kiên Giang lập ngày 13/6/2023).
3. Áp dụng Điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 về án phí và lệ phí Tòa án:
Buộc bị cáo Trần Quốc P phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Báo cho bị cáo Phát biết có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 28/7/2023); Đại diện hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.
| Nơi nhận: - Vụ giám đốc kiểm tra 1 (1); - VKSND Cấp cao tại tp. HCM (1); - TAND Cấp cao tại tp.HCM (1); - VKSND tỉnh KG (1); - Sở Tư pháp tỉnh KG (1); - THADS tỉnh KG (1) - Cơ quan điều tra tỉnh KG (1); - Phòng hồ sơ nghiệp vụ CA tỉnh KG (1); - Trại tạm giam - CA tỉnh KG; - Bị cáo (1); - Bị hại (2); - Tổ hành chính tư pháp (1); - Lưu hồ sơ (1); - Lưu tòa hình sự (5). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa Võ Văn Lịnh |