- Tranh chấp gì? án hình sự — "Dương Văn Toản - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? * Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Đức T, Nguyễn Hữu T, Trần Nam T, Nguyễn Tiến T và Nguyễn Tiến H phạm tội “Đánh bạc”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH THỦY TỈNH PHÚ THỌ __________________ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 53/2023/ HS-ST Ngày 10 – 11 -2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH THỦY, TỈNH PHÚ THỌ
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán chủ tọa phiên tòa: Ông Lương Viết Tú
Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thành Lâm
Ông Nguyễn Bá Hùng
- Thư ký tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Hà Thị Hồng Nhung - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Thủy tham gia phiên tòa: Ông Đoàn Hồng Quang - Kiểm sát viên.
Trong ngày 10/11/2023 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ, Toà án nhân dân huyện Thanh Thủy đưa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 53/2023/HS-ST ngày 05 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 56/2023/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 10 năm 2023; Quyết định hoãn phiên tòa số 29/2023/HSST-QĐ ngày 24/10/2023; đối với các bị cáo:
1. Nguyễn Đức T; - Tên gọi khác: Không - Giới tính: Nam; Sinh ngày: 23/7/1990; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: khu 8, xã Sơn Thủy, huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Công giáo; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ học vấn: 9/12; Bố đẻ: Nguyễn Ngọc Như, sinh năm 1964; Mẹ đẻ: Phạm Thị Vỹ, sinh năm 1965, Vợ: Nguyễn Thị Thanh, sinh năm 1994, Cùng trú tại xã Sơn Thủy, huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ; Có 3 con, lớn nhất sinh năm 2016, nhỏ nhất sinh năm 2020; Tiền án, tiền sự: Không;
- Biện pháp ngăn chặn: Bị cáo Nguyễn Đức T bị tạm giữ từ ngày 10/3/2023 đến ngày 15/3/2023. Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã Sơn Thủy, huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ.
2. Nguyễn Hữu T; - Tên gọi khác: Không - Giới tính: Nam; Sinh ngày: 05/9/1982; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: khu 5, thị trấn Thanh Thủy, huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ học vấn: 12/12; Bố đẻ: Nguyễn Đức Cường, sinh năm 1952, Mẹ đẻ: Nguyễn Thị Thành, sinh năm 1957, Vợ: Phạm Thị Lý, sinh năm 1990, Cùng trú tại khu 5, thị trấn Thanh Thủy, huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ; Có 2 con, lớn sinh năm 2011, nhỏ sinh năm 2014;
- Tiền án, tiền sự: Không;
- Lịch sử bản thân:
+ Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 209/2012/HSST ngày 26/6/2012, Nguyễn Hữu T bị Tòa án nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội xử phạt 5.000.000đ và phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 248 Bộ luật hình sự sửa đổi bổ sung năm 2009. Bị can đã chấp hành xong toàn bộ bản án trên và được xóa án tích.
+ Ngày 04/02/2022, Công an huyện Thanh Thủy xử phạt hành chính về hành vi đánh bạc, chấp hành xong ngày 15/02/2022, đến nay đã được xóa tiền sự.
- Biện pháp ngăn chặn: Bị cáo Nguyễn Hữu T bị tạm giữ từ ngày 10/3/2023 đến ngày 15/3/2023. Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú tại thị trấn Thanh Thủy, huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ.
3.Trần Nam T; - Tên gọi khác: Không - Giới tính: Nam; Sinh ngày: 30/7/1994; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: khu 4, xã Sơn Thủy, huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ học vấn: 12/12; Bố đẻ: Trần Đại Nghĩa, sinh năm 1974, Mẹ đẻ: Nguyễn Thị Xuân Hồng, sinh năm 1974, Vợ: Trần Thị Vân, sinh năm 1994, Cùng trú tại xã Sơn Thủy, huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ; Có 3 con, lớn nhất sinh năm 2016, nhỏ nhất sinh năm 2022; Tiền án, tiền sự: Không;
- Lịch sử bản thân:
+ Ngày 16/02/2014, Công an huyện Thanh Thủy xử phạt vi phạm hành chính về hành vi kích động, xúi giục người khác đánh nhau, chấp hành xong ngày 03/03/2014, đến nay đã được xóa tiền sự.
+ Ngày 21/10/2014, Công an huyện Thanh Thủy xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản, chấp hành xong ngày 21/10/2014, đến nay đã được xóa tiền sự.
- Biện pháp ngăn chặn: Bị cáo Trần Nam T bị tạm giữ từ ngày 10/3/2023 đến ngày 15/3/2023. Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã Sơn Thủy, huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ.
4. Nguyễn Tiến T; - Tên gọi khác: Không - Giới tính: Nam; Sinh ngày: 27/02/1991; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: khu Đá Bạc, xã Thạch Khoán, huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Công giáo; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ học vấn: 09/12; Bố đẻ: Nguyễn Văn Thọ, sinh năm 1967, Mẹ đẻ: Hoàng Thị Thúy, sinh năm 1971,Vợ: Lương Thị Huyền, sinh năm 1991, Cùng trú tại xã Thạch Khoán, huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ; Có 2 con, lớn nhất sinh năm 2016, nhỏ nhất sinh năm 2020; Tiền án, tiền sự: Không;
- Biện pháp ngăn chặn: Bị cáo Nguyễn Tiến T bị tạm giữ từ ngày 10/3/2023 đến ngày 15/3/2023. Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã Thạch Khoán, huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ.
5. Nguyễn Tiến H; - Tên gọi khác: Không - Giới tính: Nam; Sinh ngày: 21/8/1992; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: khu 8, xã Sơn Thủy, huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Công giáo;
- Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ học vấn: 09/12; Bố đẻ: Nguyễn Thế Vinh, sinh năm 1965, Mẹ đẻ: Nguyễn Thị Tiêu, sinh năm 1967, Vợ: Bùi Thị Lanh, sinh năm 1999, Cùng trú tại khu 8, xã Sơn Thủy, huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ; Có 01 con sinh năm 2020; Tiền án, tiền sự: Không;
- Biện pháp ngăn chặn: Hiện bị cáo Nguyễn Tiến H đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã Sơn Thủy, huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ.
(Các bị cáo đều có mặt tại phiên tòa)
* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: chị Nguyễn Thị T - Sinh năm 1984, địa chỉ: Khu 5, thị trấn Thanh Thuỷ, huyện Thanh Thuỷ, tỉnh Phú Thọ. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Đức T, Trần Nam T và Nguyễn Tiến T đều là những người làm nghề lái xe chạy taxi và thường xuyên đến quán nước của chị Nguyễn Thị Thủy đối diện Trung tâm y tế huyện Thanh Thủy thuộc khu 5, thị trấn Thanh Thủy, huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ để uống nước và chờ khách. Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 10/03/2023, Trần Nam T, Nguyễn Đức T, Nguyễn Tiến T đang ngồi uống nước tại quán của chị Thủy thì Tuấn rủ Nam Thành và Tiến Thành đánh bạc bằng hình thức chơi “đầu, đít” được, thua bằng tiền thì cả hai đồng ý. Sau đó, Tuấn vào gặp chị Thủy hỏi mượn mấy chục nghìn tiền lẻ thì được chị Thủy cho mượn 22 tờ tiền Việt Nam mệnh giá 1.000đ. Sau khi cho Tuấn mượn tiền, chị Thủy đi giao hàng ở khu 2, xã Bảo Yên, huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ. Sau khi chị Thủy đi, Tuấn cùng Nam Thành, Tiến Thành cùng ngồi xuống bàn uống nước kê trong quán để đánh bạc. Về cách thức chơi: Người chơi sử dụng 22 tờ tiền VNĐ mệnh giá 1.000đ để trên chiếc đĩa nhựa màu xanh ở giữa bàn làm công cụ đánh bạc. Bắt đầu mỗi ván thì sẽ có 1 người chơi ra "kèo", "kèo" được lựa chọn tùy ý, có thể cộng tổng số seri đầu tiên với số seri cuối cùng, cộng tổng tất cả các số seri, cộng tổng 3 số đầu hoặc 3 số cuối… rồi lấy chữ số hàng đơn vị để xác định thắng thua. Sau đó, mỗi người chơi sẽ rút một tờ tiền trong số 22 tờ tiền để so sánh theo "kèo" đã được đưa ra, người thắng sẽ được 50.000đ/1 người, người thua sẽ mất 50.000đ. Nếu bằng điểm nhau thì chia đôi số tiền thắng hoặc tự cá cược thêm 1 kèo nữa với nhau. Tuấn, Nam Thành, Tiến Thành đánh bạc đến khoảng 13 giờ 30 phút cùng ngày thì Nguyễn Tiến H, sinh năm 1992, trú tại khu 8, xã Sơn Thủy, huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ đến và cùng tham gia đánh bạc. Đến khoảng gần 15 giờ thì Huy thua hết tiền và có việc bận nên về trước, khoảng 30 phút sau, Nguyễn Hữu T đến và cùng tham gia đánh bạc. Tuấn, Nam Thành, Tiến Thành, Thương cùng nhau đánh bạc đến 16 giờ thì bị Công an huyện Thanh Thủy bắt quả tang. Đến ngày 05/8/2023, Nguyễn Tiến H đến Cơ quan điều tra đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội.
Về số tiền sử dụng để đánh bạc các bị can khai nhận: Khi tham gia đánh bạc Nguyễn Đức T có 5.400.000đ, Trần Nam T có 3.100.000đ, Nguyễn Tiến T có 1.350.000đ, Nguyễn Hữu T có 850.000đ, Nguyễn Tiến H có 700.000đ. Tất cả các bị can đều sử dụng toàn bộ số tiền trên để đánh bạc, quá trình đánh bạc đều để tiền trong trong ví và túi quần, khi kết thúc mỗi ván chơi sẽ lấy tiền ra để thanh toán thắng thua. Khi bị bắt quả tang thu giữ trên người các bị can tổng số tiền 11.400.000đ (Trong đó thu giữ của Tuấn 6.800.000đ, của Nam Thành 3.400.000đ, của Tiến Thành 550.000đ và của Thương 650.000đ), do Nguyễn Tiến H đã thua hết tiền và về trước nên các bị can Tuấn, Nam Thành, Tiến Thành, Thương cùng phải chịu trách nhiệm hình sự với tổng số tiền đánh bạc là 11.400.000đ (số tiền thu giữ trên người các bị can khi bị bắt quả tang). Riêng đối với Huy, do tại thời điểm Huy đánh bạc, Thương chưa tới nên số tiền Huy phải chịu trách nhiệm hình sự là tổng số tiền Tuấn, Nam Thành, Tiến Thành và Huy bỏ ra đánh bạc là 10.550.000đ.
Căn cứ các tài liệu, chứng cứ thu thập được cũng như số tiền các đối tượng sử dụng vào mục đích đánh bạc, ngày 15/3/2023 và 05/6/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ đã ra Quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với: Nguyễn Đức T, Trần Nam T, Nguyễn Tiến T, Nguyễn Hữu T và Nguyễn Tiến H về tội “Đánh bạc”theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự;
Bản cáo trạng số 54/CT-VKSTT ngày 02 tháng 10 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ truy tố các bị cáo Nguyễn Đức T, Trần Nam T, Nguyễn Tiến T, Nguyễn Hữu T và Nguyễn Tiến H về tội “Đánh bạc”theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự;
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
*Căn cứ:
- Khoản 1, Điều 321; Điểm i, s Khoản 1, Điều 51; Điều 36 Bộ luật hình sự, đối với các bị cáo Nguyễn Đức T, Trần Nam T, Nguyễn Tiến T. Bị cáo Trần Nam T được áp dụng thêm Khoản 2, Điều 51 Bộ luật Hình sự.
- Khoản 1, Điều 321; Điểm s, Khoản 1; Khoản 2, Điều 51; Điều 36 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Hữu T.
- Khoản 1, Điều 321; Điểm i, s Khoản 1; Khoản 2, Điều 51; Điều 35 Bộ luật hình sự, đối với bị cáo Nguyễn Tiến H.
* Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Đức T, Nguyễn Hữu T, Trần Nam T, Nguyễn Tiến T và Nguyễn Tiến H phạm tội “Đánh bạc”.
*Xử phạt:
1. Bị cáo Nguyễn Đức T từ 15 tháng đến 18 tháng Cải tạo không giam giữ. Được khấu trừ thời gian tạm giữ là 05 ngày từ ngày 10/3/2023 đến ngày 15/3/2023 quy đổi thành 15 ngày cải tạo không giam giữ. Bị cáo còn phải chấp hành từ 14 tháng 15 ngày đến 17 tháng 15 (mười lăm) ngày Cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ nhận được Quyết định thi hành án và bản sao Bản án. Giao bị cáo cho UBND xã Sơn Thuỷ, huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ giám sát giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo Nguyễn Đức T.
Trong thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ, Bị cáo phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ. Thời gian lao động phục vụ cộng đồng không quá 04 (bốn) giờ trong một ngày và không quá 05 (năm) ngày trong 01 (một) tuần.
2. Bị cáo Nguyễn Hữu T từ 18 tháng đến 21tháng Cải tạo không giam giữ. Được khấu trừ thời gian tạm giữ là 05 ngày từ ngày 10/3/2023 đến ngày 15/3/2023 quy đổi thành 15 ngày cải tạo không giam giữ. Bị cáo còn phải chấp hành từ 17 tháng 15 ngày đến 20 tháng 15 ngày Cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ nhận được Quyết định thi hành án và bản sao Bản án. Giao bị cáo cho UBND thị trấn Thanh Thuỷ, huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ giám sát giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo Nguyễn Hữu T.
Trong thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ, Bị cáo phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ. Thời gian lao động phục vụ cộng đồng không quá 04 (bốn) giờ trong một ngày và không quá 05 (năm) ngày trong 01 (một) tuần.
3. Bị cáo Trần Nam T từ 15 tháng đến 18 tháng Cải tạo không giam giữ. Được khấu trừ thời gian tạm giữ là 05 ngày từ ngày 10/3/2023 đến ngày 15/3/2023, quy đổi thành 15 ngày cải tạo không giam giữ. Bị cáo còn phải chấp hành từ 14 tháng 15 ngày đến 17 tháng 15 ngày Cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện Thanh Thuỷ, tỉnh Phú Thọ nhận được Quyết định thi hành án và bản sao Bản án. Giao bị cáo cho UBND xã Sơn Thuỷ, huyện Thanh Thuỷ, tỉnh Phú Thọ giám sát giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo Trần Nam T.
Trong thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ, Bị cáo phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ. Thời gian lao động phục vụ cộng đồng không quá 04 (bốn) giờ trong một ngày và không quá 05 (năm) ngày trong 01 (một) tuần.
4. Bị cáo Nguyễn Tiến T từ 09 tháng đến 12 tháng Cải tạo không giam giữ. Được khấu trừ thời gian tạm giữ là 05 ngày từ ngày 10/3/2023 đến ngày 15/3/2023 quy đổi thành 15 ngày cải tạo không giam giữ. Bị cáo còn phải chấp hành từ 08 tháng 15 ngày đến 11 tháng 15 ngày Cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ nhận được Quyết định thi hành án và bản sao Bản án. Giao bị cáo cho UBND xã Thạch Khoán, huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ giám sát giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo Nguyễn Tiến T.
Trong thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ, Bị cáo phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ. Thời gian lao động phục vụ cộng đồng không quá 04 (bốn) giờ trong một ngày và không quá 05 (năm) ngày trong 01 (một) tuần.
5. Bị cáo Nguyễn Tiến H số tiền từ 25.000.000đ đến 30.000.000đ để sung vào Ngân sách nhà nước.
*Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung đối với các bị cáo Nguyễn Đức T, Nguyễn Hữu T, Trần Nam T, Nguyễn Tiến T theo quy định tại Khoản 3, Điều 321 BLHS.
*Về biện pháp tư pháp, xử lý vật chứng: Áp dụng: Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- Tịch thu sung Ngân sách nhà nước số tiền Việt Nam 11.400.000đ(mười một triệu bốn trăm nghìn đồng) của các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội, trong đó của bị cáo Nguyễn Đức T là 5.400.000đ, Nguyễn Hữu T là 850.000đ, Trần Nam T là 3.100.000đ, Nguyễn Tiến T là 1.350.000đ và Nguyễn Tiến H là 700.000đ.
- Sung vào Ngân sách nhà nước 22 tờ tiền Việt Nam mệnh giá 1.000đ của chị Nguyễn Thị Thủy.
- Tiêu hủy 01 chiếc bàn nhựa cũ hiệu “SONG LONG” đã qua sử dụng; 01 chiếc đĩa nhựa cũ màu xanh hình tròn; 05 chiếc ghế nhựa cũ hiệu “SONG LONG” màu xanh đã qua sử dụng của chị Nguyễn Thị T;
- Xác nhận cơ quan CSĐT Công an huyện Thanh Thủy đã trả lại cho các chủ sở hữu các tài sản không liên quan đến hành vi phạm tội, việc trả lại là hợp pháp.
*Về án phí: Các bị cáo Nguyễn Đức T, Nguyễn Hữu T, Trần Nam T, Nguyễn Tiến T và Nguyễn Tiến H mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
*Các bị cáo đều ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội của mình, xin Hội đồng xét xử cho các bị cáo được hưởng hình phạt nhẹ nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
1. Về tố tụng: Về hành vi, Quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện Thanh Thuỷ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Thuỷ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền về trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, Quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
Đối với người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa. Kiểm sát viên, bị cáo có mặt đều đề nghị Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vụ án. Xét thấy người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt nhưng đã có lời khai thể hiện trong hồ sơ và việc vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử vụ án nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292 của Bộ luật tố tụng hình sự, tiến hành xét xử vụ án là phù hợp quy định của pháp luật.
2. Về nội dung vụ án:
Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố. Hành vi của các các bị cáo còn được chứng minh bằng biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng, các tài liệu và chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Do đó Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:
Hồi 16 giờ ngày 10/3/2023, tại quán bán hàng nước của chị Nguyễn Thị Thủy ở khu 5, thị trấn Thanh Thủy, huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ, Nguyễn Đức T, Trần Nam T, Nguyễn Tiến T và Nguyễn Hữu T đã thực hiện hành vi phạm tội đánh bạc bằng hình thức chơi “đầu, đít” được, thua bằng tiền với tổng số tiền sử dụng vào mục đích đánh bạc là 11.400.000đ.
Ngoài ra, chiều ngày 10/3/2023, tại quán bán hàng nước của chị Nguyễn Thị Thủy, trước khi bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thanh Thủy bắt quả tang, Nguyễn Tiến H đã tham gia đánh bạc cùng Nguyễn Đức T, Trần Nam T, Nguyễn Tiến T với số tiền đánh bạc Huy phải chịu trách nhiệm hình sự là 10.550.000đ.
Hành vi của bị cáo Nguyễn Đức T, Trần Nam T, Nguyễn Tiến T, Nguyễn Hữu T và Nguyễn Tiến H đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự
Điều 321 Bộ luật hình sự quy định:
“1.Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.00.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.”
Xét tính chất của vụ án là ít nghiêm trọng. Hành vi phạm tội của các bị cáo là cố ý và gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trật tự công cộng, gây mất trật tự, trị an xã hội. Các bị cáo đều là những người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, có nhận thức đầy đủ về hành vi mình thực hiện là vi phạm pháp luật, nhưng chỉ vì muốn kiếm tiền nhanh chóng các bị cáo đã thực hiện hành vi sát phạt nhau trên chiếu bạc. Hành vi của các bị cáo thể hiện sự coi thường pháp luật với mục đích là thu lời bất chính. Do đó cần phải xử phạt các bị cáo hình phạt nghiêm khắc mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
[3] Xét vai trò, nhân thân của các bị cáo trong vụ án:
Về vai trò: Trong vụ án này, bị cáo Nguyễn Đức T có hành vi rủ rê, chuẩn bị công cụ để đánh bạc, các bị cáo còn lại đều tích cực tham gia đánh bạc.
Về nhân thân: Các bị cáo Nguyễn Đức T, Nguyễn Tiến T, Nguyễn Tiến H có nhân thân tốt tốt chưa có tiền án tiền sự.
Trong vụ án này có bị cáo Trần Nam T là người đã 02 lần bị xử phạt vi phạm hành chính: Ngày 16/02/2014, Công an huyện Thanh Thủy xử phạt vi phạm hành chính về hành vi kích động, xúi giục người khác đánh nhau, chấp hành xong ngày 03/03/2014; ngày 21/10/2014, Công an huyện Thanh Thủy xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản, chấp hành xong ngày 21/10/2014; đến nay đã được xóa tiền sự.
Bị cáo Nguyễn Hữu T đã bị Toà án xét xử: Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 209/2012/HSST ngày 26/6/2012, Nguyễn Hữu T bị Tòa án nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội xử phạt 5.000.000đ và phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 248 Bộ luật hình sự sửa đổi bổ sung năm 2009. Bị cáo đã chấp hành xong toàn bộ bản án trên và được xóa án tích. Ngày 04/02/2022, Công an huyện Thanh Thủy xử phạt hành chính về hành vi đánh bạc, chấp hành xong ngày 15/02/2022, đến nay đã được xóa tiền sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Khoản 1, Điều 52 BLHS.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, các bị cáo Nguyễn Đức T, Trần Nam T, Nguyễn Tiến T, Nguyễn Hữu T và Nguyễn Tiến H đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình do đó đều được áp dụng tình tiết giảm nhẹ là“Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” quy định tại Điểm s, Khoản 1, Điều 51 BLHS.
Các bị cáo Nguyễn Đức T, Trần Nam T, Nguyễn Tiến T và Nguyễn Tiến H phạm tội lần đầu vì vậy được đều được áp dụng tình tiết giảm nhẹ“Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng” quy định tại Điểm i, Khoản 1, Điều 51 BLHS.
Ngoài ra, bị cáo Trần Nam T có ông nội là ông Trần Xuân Đình là liệt sỹ, bị cáo Nguyễn Hữu T có bố đẻ là ông Nguyễn Đức Cường là người có công với cách mạng được tặng thưởng nhiều huân chương kháng chiến, huân chương chiến sỹ vẻ vang, bị cáo Nguyễn Tiến H đã ra đầu thú.Vì vậy HĐXX áp dụng Khoản 2, Điều 51 BLHS làm tình tiết giảm nhẹ cho các bị cáo.
Về hình phạt chính: Hội đồng xét xử căn cứ vào nhân thân, vai trò, các tình tiết giảm nhẹ của các bị cáo, thấy rằng: Các bị cáo đều có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng, số tiền tham gia đánh bạc không lớn. Vì vậy, HĐXX xét thấy không cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống cộng đồng, chỉ cần xử phạt các bị cáo hình phạt Cải tạo không giam giữ, phạt tiền, giao các bị cáo cho chính quyền địa phương và gia đình quản lý giáo dục cũng đủ có tác dụng giáo dục các bị cáo thành công dân tốt, cũng thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
Về hình phạt bổ sung, khấu trừ thu nhập: Theo quy định tại Khoản 3, Điều 321 của Bộ luật hình sự: Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000đồng đến 50.000.000đồng.
Qua xác minh của cơ quan Điều tra thể hiện các bị cáo đều sống cùng gia đình, không có tài sản riêng có giá trị. Hiện tại các bị cáo làm nghề lái xe Taxi thu nhập thấp, không ổn định khoảng từ 3.000.000đ đến 5.000.000đ một tháng. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo, miễn khấu trừ thu nhập đối với các bị cáo bị áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ là phù hợp.
Đối với chị Nguyễn Thị Thủy, qua điều tra xác định khi Tuấn mượn 22 tờ tiền mệnh giá 1.000đ Tuấn không nói và chị Thủy cũng không biết Tuấn mượn tiền để làm công cụ đánh bạc. Sau khi cho Tuấn mượn tiền, chị Thủy đi giao hàng cho khách, không biết việc các bị cáo đánh bạc tại quán nước của mình. Do vậy, cơ quan CSĐT không xử lý đối với chị Thủy là phù hợp.
Về biện pháp tư pháp, xử lý vật chứng:
- Đối với số tiền Việt Nam 11.400.000đ của các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội cần tịch thu sung ngân sách nhà nước.
- Đối với 01 chiếc bàn nhựa, 01 chiếc đĩa nhựa, 05 chiếc ghế nhựa, 22 tờ tiền Việt Nam mệnh giá 1.000đ các bị cáo sử dụng làm phương tiện đánh bạc thu tại quán nước của chị Nguyễn Thị Thủy, tuy nhiên chị không biết việc các bị cáo dùng để thực hiện hành vi phạm tội. Do các đồ vật này là tài sản hợp pháp của chị Thuỷ cần trả lại, nhưng chị Thủy đề nghị sung vào ngân sách nhà nước số tiền và đề nghị tiêu hủy những đồ vật trên. Vì vậy, HĐXX thấy cần sung vào ngân sách nhà nước số tiền và tiêu hủy 01 chiếc bàn nhựa, 01 chiếc đĩa nhựa, 05 chiếc ghế nhựa trên do chị Thủy không đề nghị lấy lại.
- Trong quá trình điều tra cơ quan CSĐT Công an huyện Thanh Thủy đã trả lại cho các chủ sở hữu các tài sản không liên quan đến hành vi phạm tội, việc trả lại là hợp pháp cần xác nhận: Trả cho bị cáo Trần Nam T 01 chiếc xe ô tô hiệu Huyndai Kona BKS 19A- 425.59; 01 chiếc ví giả da màu nâu; 01 chiếc ĐTDĐ Iphone 11 Pro bên trong lắp sim 0988007217; 01 chiếc ĐTDĐ Samsung Galaxy A20S lắp sim số 0355 522 288. Trả lại cho bị cáo Nguyễn Tiến T 01 chiếc xe ô tô hiệu Huyndai Acent BKS 30G- 584.31; 01 chiếc ĐTDĐ OPPO Reno bên trong lắp sim 0981 471 689. Trả cho Nguyễn Hữu T 01 chiếc xe ô tô hiệu Mitsubishi Attrage GLC BKS 19A- 448.40; 01 ví giả da màu nâu có 650.000đ; 01 chiếc ĐTDĐ Samsung Note 9 lắp sim số 0962 407 166. Trả lại cho bị cáo Nguyễn Đức T 01 chiếc ĐTDĐ Iphone 11 bên trong lắp sim 0988 826 105; 01 chiếc ví giả da màu đen.
Về án phí, quyền kháng cáo: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm; Các bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Các quyết định Tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố là hợp pháp; Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp nhận định của HĐXX.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
*Căn cứ:
- Khoản 1, Điều 321; Điểm i, s Khoản 1, Điều 51; Điều 36 Bộ luật hình sự, đối với các bị cáo Nguyễn Đức T, Trần Nam T, Nguyễn Tiến T. Bị cáo Trần Nam T được áp dụng thêm Khoản 2, Điều 51 Bộ luật Hình sự.
- Khoản 1, Điều 321; Điểm s, Khoản 1; Khoản 2, Điều 51; Điều 36 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Hữu T.
- Khoản 1, Điều 321; Điểm i, s Khoản 1; Khoản 2, Điều 51; Điều 35 Bộ luật hình sự, đối với bị cáo Nguyễn Tiến H.
* Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Đức T, Nguyễn Hữu T, Trần Nam T, Nguyễn Tiến T và Nguyễn Tiến H phạm tội “Đánh bạc”.
*Xử phạt:
1. Bị cáo Nguyễn Đức T 18(mười tám tháng) tháng Cải tạo không giam giữ. Được khấu trừ thời gian tạm giữ là 05 ngày từ ngày 10/3/2023 đến ngày 15/3/2023 quy đổi thành 15 ngày cải tạo không giam giữ. Bị cáo còn phải chấp hành 17(mười bảy tháng) tháng 15 (mười lăm) ngày Cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ nhận được Quyết định thi hành án và bản sao Bản án. Giao bị cáo cho UBND xã Sơn Thuỷ, huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ giám sát giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo Nguyễn Đức T.
Trong thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ, Bị cáo phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ. Thời gian lao động phục vụ cộng đồng không quá 04 (bốn) giờ trong một ngày và không quá 05 (năm) ngày trong 01 (một) tuần.
2. Bị cáo Nguyễn Hữu T 18(mười tám) tháng Cải tạo không giam giữ. Được khấu trừ thời gian tạm giữ là 05 ngày từ ngày 10/3/2023 đến ngày 15/3/2023 quy đổi thành 15 ngày cải tạo không giam giữ. Bị cáo còn phải chấp hành 17 (mười bảy) tháng 15 (mười lăm) ngày Cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ nhận được Quyết định thi hành án và bản sao Bản án. Giao bị cáo cho UBND thị trấn Thanh Thuỷ, huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ giám sát giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo Nguyễn Hữu T.
Trong thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ, Bị cáo phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ. Thời gian lao động phục vụ cộng đồng không quá 04 (bốn) giờ trong một ngày và không quá 05 (năm) ngày trong 01 (một) tuần.
3. Bị cáo Trần Nam T 15(mười lăm) tháng Cải tạo không giam giữ. Được khấu trừ thời gian tạm giữ là 05 ngày từ ngày 10/3/2023 đến ngày 15/3/2023, quy đổi thành 15 ngày cải tạo không giam giữ. Bị cáo còn phải chấp hành 14(mười bốn) tháng 15 (mười lăm) ngày Cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện Thanh Thuỷ, tỉnh Phú Thọ nhận được Quyết định thi hành án và bản sao Bản án. Giao bị cáo cho UBND xã Sơn Thuỷ, huyện Thanh Thuỷ, tỉnh Phú Thọ giám sát giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo Trần Nam T.
Trong thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ, Bị cáo phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ. Thời gian lao động phục vụ cộng đồng không quá 04 (bốn) giờ trong một ngày và không quá 05 (năm) ngày trong 01 (một) tuần.
4. Bị cáo Nguyễn Tiến T 12(mười hai) tháng Cải tạo không giam giữ. Được khấu trừ thời gian tạm giữ là 05 ngày từ ngày 10/3/2023 đến ngày 15/3/2023 quy đổi thành 15 ngày cải tạo không giam giữ. Bị cáo còn phải chấp hành 11(mười một ) tháng 15 (mười lăm) ngày Cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ nhận được Quyết định thi hành án và bản sao Bản án. Giao bị cáo cho UBND xã Thạch Khoán, huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ giám sát giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo Nguyễn Tiến T.
Trong thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ, Bị cáo phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ. Thời gian lao động phục vụ cộng đồng không quá 04 (bốn) giờ trong một ngày và không quá 05 (năm) ngày trong 01 (một) tuần.
5. Bị cáo Nguyễn Tiến H số tiền 25.000.000đ(hai mươi lăm triệu đồng) để sung vào Ngân sách nhà nước.
*Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung đối với các bị cáo Nguyễn Đức T, Nguyễn Hữu T, Trần Nam T, Nguyễn Tiến T theo quy định tại Khoản 3, Điều 321 BLHS.
*Về biện pháp tư pháp, xử lý vật chứng: Áp dụng: Điểm a, Khoản 1, Điều 47 Bộ luật hình sự; Điểm a, Khoản 2; Điểm a, b Khoản 3, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- Tịch thu sung Ngân sách nhà nước số tiền Việt Nam 11.400.000đ(mười một triệu bốn trăm nghìn đồng) của các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội, trong đó của bị cáo Nguyễn Đức T là 5.400.000đ, Nguyễn Hữu T là 850.000đ, Trần Nam T là 3.100.000đ, Nguyễn Tiến T là 1.350.000đ và Nguyễn Tiến H là 700.000đ.
- Sung vào Ngân sách nhà nước số tiền 22.000đ(hai mươi hai nghìn đồng), (22 tờ tiền Việt Nam mệnh giá 1.000đ) của chị Nguyễn Thị Thủy.
- Tiêu hủy 01 chiếc bàn nhựa cũ hiệu “SONG LONG” đã qua sử dụng; 01 chiếc đĩa nhựa cũ màu xanh hình tròn; 05 chiếc ghế nhựa cũ hiệu “SONG LONG” màu xanh đã qua sử dụng của chị Nguyễn Thị T;
(Vật chứng trên hiện Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ đang quản lý)
- Xác nhận cơ quan CSĐT Công an huyện Thanh Thủy đã trả lại cho các chủ sở hữu các tài sản không liên quan đến hành vi phạm tội, việc trả lại là hợp pháp:
Trả cho bị cáo Trần Nam T 01 chiếc xe ô tô hiệu Huyndai Kona BKS 19A-425.59; 01 chiếc ví giả da màu nâu; 01 chiếc điện thoại di động(ĐTDĐ) Iphone 11 Pro bên trong lắp sim 0988007217; 01 chiếc ĐTDĐ Samsung Galaxy A20S lắp sim số 0355 522 288. Trả lại cho bị cáo Nguyễn Tiến T 01 chiếc xe ô tô hiệu Huyndai Acent BKS 30G- 584.31; 01 chiếc ĐTDĐ OPPO Reno bên trong lắp sim 0981 471 689. Trả cho Nguyễn Hữu T 01 chiếc xe ô tô hiệu Mitsubishi Attrage GLC BKS 19A- 448.40; 01 ví giả da màu nâu có 650.000đ; 01 chiếc ĐTDĐ Samsung Note 9 lắp sim số 0962 407 166. Trả lại cho bị cáo Nguyễn Đức T 01 chiếc ĐTDĐ Iphone 11 bên trong lắp sim 0988 826 105; 01 chiếc ví giả da màu đen.
*Về án phí: Áp dụng Khoản 2, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điểm đ, khoản 1, Điều 12; Khoản 1, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Buộc các bị cáo Nguyễn Đức T, Trần Nam T, Nguyễn Tiến T, Nguyễn Hữu T và Nguyễn Tiến H mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
*Quyền kháng cáo: Các bị cáo có mặt được quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt được kháng cáo phần quyền và nghĩa vụ của mình của bản án, trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật; để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm.
| Nơi nhận: - VKS ND huyện, VKSND tỉnh; - Công an huyện; - Chi cục THADS huyện; - Hồ sơ công tác THAHS; - UBND xã nơi các bị cáo cư trú - Những người tham gia tố tụng; - Sở tư pháp; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Lương Viết Tú |