- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phong, Trai - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Các bị cáo Lê Văn Toản, Nguyễn Tuấn Nghĩa, Nguyễn Khánh Thiện, Trần Văn Hà, Đào Xuân Sơn và Nguyễn Văn Chung phạm tội “ Đánh bạc”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 251 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DUY TIÊN TỈNH HÀ NAM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 53/2022/HSST Ngày 21 - 6 - 2022 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DUY TIÊN - HÀ NAM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Ngọc Thuận
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Hoằng, bà Lê Thị Huấn
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết Nhung - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Duy Tiên
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duy Tiên tham gia phiên tòa: Bà Ngô Thị Thanh Quý - Kiểm sát viên
Ngày 21 tháng 6 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Duy Tiên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 44/2022/HSST ngày 10 tháng 5 năm 2022, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 48/2022/QĐXX-HS ngày 09 tháng 6 năm 2022 đối với các bị cáo:
1/ Lò Văn Ph, sinh năm 2001; nơi cư trú: Bản Ph, xã Bon Ph, huyện Thuận Ch, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Tự do; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông Lò Văn L và bà Lò Thị Kh; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ ngày 16/12/2021 chuyển tạm giam ngày 25/12/2021 đến nay; hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hà Nam (có mặt).
2/ Phạm Văn Tr, sinh năm 1980; nơi cư trú: Tổ dân phố Nhất Tr, phường Tiên N, thị xã Duy T, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: Tự do; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông Phạm Văn Ph (đã chết) và bà Lại Thị Nh; vợ: Nguyễn Thị Th; con: có 02 con (lớn sinh năm 2003, nhỏ sinh năm 2008); tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ ngày 16/12/2021 chuyển tạm giam ngày 25/12/2021 đến nay; hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hà Nam (có mặt).
* Ngƣời bào chữa cho bị cáo Ph: Bà Phạm Thị Nhàn- Trợ giúp viên Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Hà Nam; vắng mặt, có đơn xin vắng mặt.
*Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Chị Nguyễn Thị Th, sinh năm 1978; nơi ĐKNKTT: Tổ dân phố Nhất Tr, phường Tiên N, thị xã Duy T, tỉnh Hà Nam; địa chỉ: Số 567 khu phố 4, tổ 45B, phường Hiệp Th, quận A, thành phố Hồ Chí Minh; vắng mặt.
- Chị Phạm Thị D, sinh năm 1977; địa chỉ: Số 84 ngách 455/55 đường Hà Huy T, thị trấn Yên V, huyện Gia L, thành phố Hà Nội; có mặt.
- Anh Đinh Văn T, sinh năm 1977; địa chỉ: Tổ dân phố Nhất Tr, phường Tiên N, thị xã Duy T, tỉnh Hà Nam; vắng mặt.
- Anh Văn Đức T, sinh năm 1985; địa chỉ: Thôn 2, xã Điện D, huyện Điện B, tỉnh Quảng Nam; vắng mặt.
*Ngƣời làm chứng: Bà Lò Thị Ch, sinh năm 1967; vắng mặt.
*Ngƣời chứng kiến: Ông Đinh Hồng H, sinh năm 1976; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 10 giờ ngày 16/12/2021, khi Tr đang ở nhà thì Lò Văn Ph sử dụng điện thoại Sam Sung màu đen, lắp sim có số thuê bao 0866994936 gọi đến số điện thoại 0941515219 của Tr được lắp trong điện thoại nhãn hiệu Oppo thì Tr nghe máy, Ph nói “Anh lấy cho em một cái một trăm”. Hiểu ý Ph muốn mua của mình 01 gói ma túy, loại Heroine với giá 100.000 đồng nên Tr đồng ý và bảo Ph đi đến cổng nhà mình để giao tiền và nhận ma túy. Sau đó, Lò Văn Ph điều khiển xe mô tô BKS 92F3 - 8031 đi đến cổng nhà Tr. Thấy Ph đến, Tr đi ra gặp Ph. Khi gặp nhau, Ph đưa cho Tr số tiền 100.000 đồng, Tr cầm tiền Ph đưa cất vào túi quần phía trước bên phải đang mặc, rồi đưa cho Ph 01 gói ma túy, loại Heroine, bên ngoài được bọc bằng giấy có dòng kẻ. Ph cầm gói ma túy vừa mua được của Tr ở trong lòng bàn tay trái và định điều khiển xe mô tô BKS 92F3 - 8031 quay về thì bị tổ công tác Công an thị xã Duy Tiên phối hợp với Công an phường Tiên Nội phát hiện, bắt quả tang và thu giữ các vật chứng có liên quan.
Vật chứng thu giữ gồm: Thu của Lò Văn Ph: Trong lòng bàn tay trái 01 giói giấy nhỏ, loại giấy có dòng kẻ KT(2x0,5)cm, bên trong có chứa chất màu trắng dạng cục, bột, được niêm phong trong phong bì ký hiệu QT01; 01 điện thoại di động Sam Sung màu đen, loại máy cảm ứng, vỡ màn hình, bên trong có lắp sim điện thoại, được niêm phong trong phong bì ký hiệu QT02. Thu tại vị trí bắt giữ Ph: 01 xe mô tô BKS 92F3-8031, số khung VDTWCH015UM360586, số máy VDTFS152FMH360586. Thu của Phạm Văn Tr: Trong túi quần bên phải số tiền 725.000 đồng được niêm phong trong phong bì ký hiệu QT03; Trong túi quần bên trái 01 điện thoại di động OPPO màu đen, loại máy cảm ứng, bên trong lắp thẻ sim được niêm phong trong phong bì ký hiệu QT04.
Khám xét khẩn cấp chỗ ở của Phạm Văn Tr: Thu trên mặt bàn phía giáp cửa ra vào theo hướng từ ngoài nhìn vào: 10 gói nhỏ, bên ngoài bọc giấy màu trắng, loại giấy có dòng kẻ và 02 gói nhỏ bên ngoài bọc bằng giấy có các số và chữ. Cả 12 gói nhỏ này đều có kích thước khoảng (2x0,5)cm và bên trong đều chứa chất bột màu trắng dạng cục, bột, được niêm phong trong phong bì ký hiệu KX01; 01 dao lam có chữ DORCO đã qua sử dụng, phần lưỡi dao có bám dính chất màu trắng, được niêm phong trong phong bì ký hiệu KX02; 03 xi lanh nhựa, 03 lọ nước cất in chữ Novocain và 15 mảnh giấy hình vuông kích thước khoảng (4x4)cm, được miêm phong trong phong bì ký hiệu KX03. Thu dưới gối tại vị trí trải đệm dưới nền nhà: 01 ví giả da màu nâu đã cũ, bên trong có 01 căn cước công dân mang tên Phạm Văn Tr, 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô BKS 90B1 – 611.97 và số tiền 13.000.000 đồng. Thu trên sàn trước cửa nhà Phạm Văn Tr 01 xe mô tô BKS 90B1 – 611.97, số máy 1FC1-046813, số khung DX046791.
Điều tra mở rộng vụ án, Cơ quan CSĐT Công an thị xã Duy Tiên còn chứng minh được: Ngoài lần bán trái phép chất ma túy cho Lò Văn Ph và bị bắt quả tang như đã nêu trên thì sáng ngày 16/12/2021, Phạm Văn Tr còn bán trái phép chất ma túy 04 lần nữa. Cụ thể là:
Khoảng 7 giờ 30 phút ngày 16/12/2022, Phạm Văn Tr điều khiển xe mô tô BKS 90B1 – 611.97 đi đến cổng Khu công nghiệp Đồng Văn 3, thuộc tổ dân phố Sa Lao, phường Đồng Văn, thị xã Duy Tiên, bán cho Lò Văn Ph 01 gói ma túy, loại Heroine với giá 200.000 đồng;
Khoảng 8 giờ 30 phút ngày 16/12/2021, Phạm Văn Tr điều khiển xe mô tô BKS 90B1 – 611.97 đi đến Khu vực Công ty ACE - Khu công nghiệp Đồng Văn 2 thuộc tổ dân phố Văn Phái, phường Bạch Thượng, thị xã Duy Tiên, bán cho Đinh Văn T SN 1977, trú tại tổ dân phố Nhất Tr, phường Tiên N, thị xã Duy T 01 gói ma túy, loại Heroine với giá 200.000 đồng;
Sau khi mua được ma túy của Phạm Văn Tr, Lò Văn Ph và Đinh Văn T đã sử dụng hết.
Ngoài ra, Phạm Văn Tr còn khai báo cũng trong sáng ngày 16/12/2021, tại Khu công nghiệp Đồng Văn 3, Tr đã bán cho 02 nam thanh niên không xác định được tên tuổi, địa chỉ cụ thể, làm công nhân ở đây, mỗi người 01 gói ma túy, loại Heroine với giá 200.000 đồng. Tổng số tiền Tr thu được do bán ma túy trong buổi sáng ngày 16/12/2021 là 900.000 đồng, Tr đã sử dụng 175.000 đồng vào việc chi tiêu cá nhân, còn 725.000 đồng Cơ quan Công an đã thu giữ khi bắt quả tang Tr.
Về nguồn gốc số ma túy: Phạm Văn Tr khai nhận: khoảng 18 giờ ngày 15/12/2021, Tr điều khiển xe mô tô BKS 90B1 – 611.97 lên khu vực chợ Bái thuộc huyện Phú Xuyên, thành phố Hà Nội mua của một người đàn ông không xác định được tên, tuổi, địa chỉ 01 gói ma túy loại Heroine với giá 2.500.000 đồng. Sau đó, Tr mang về nhà, dùng dao lam chia thành các phần nhỏ, rồi gói lại bằng các mảnh giấy kẻ ô ly vừa bán lại cho các đối tượng nghiện khác để kiếm lời, vừa để sử dụng dần. Sáng ngày 16/12/2021, Tr đã bán cho 04 người được 05 gói ma túy, còn lại 12 gói ma túy Tr để ở bàn trong nhà mình và bị Cơ quan CSĐT Công an thị xã Duy Tiên thu giữ khi khám xét khẩn cấp.
Kết luận giám định số 243/PC09-MT ngày 21/12/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Nam: Mẫu bột màu trắng dạng cục trong phong bì ký hiệu QT01 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,131g, loại Heroine. Mẫu bột màu trắng dạng cục trong phong bì ký hiệu KX01 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 1,098g, loại Heroine. 01 lưỡi dao lam trắng nhãn hiệu DORCO trong phong bì ký hiệu KX02 gửi giám định có bám dính ma túy, loại Heroine.
Về vật chứng vụ án: Quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT Công an thị xã Duy Tiên xác định được: Chiếc xe mô tô 90B1 – 611.97 cùng 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô 90B1 – 611.97 thu của Phạm Văn Tr khi khám xét khẩn cấp chỗ ở của Phạm Văn Tr là tài sản hợp pháp của chị Nguyễn Thị Th là chị vợ của Tr, cho Tr mượn làm phương tiện đi lại, không biết Tr sử dụng làm phương tiện phạm tội; Số tiền 13.000.000 đồng thu giữ khi khám xét khẩn cấp chỗ ở của Phạm Văn Tr là tiền của chị Phạm Thị D, chị D cho Tr vay 30.000.000 đồng từ khoảng tháng 10/2021 để chữa bệnh, Tr đã sử dụng hết 17.000.000 đồng;
Cáo trạng số 46/CT-VKS ngày 09/5/2022 Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duy Tiên đã truy tố bị cáo Lò Văn Ph về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Truy tố bị cáo Phạm Văn Tr về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 và điểm b, c khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Trong thời gian chuẩn bị xét xử ngày 08/6/2022 Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duy Tiên ban hành Quyết định số 02/QĐ-VKS-DT về việc rút quyết định truy tố của Viện kiểm sát tại Cáo trạng số 46/CT-VKS-DT ngày 09/5/2022 đối với Phạm Văn Tr về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát có quan điểm truy tố bị cáo Lò Văn Ph về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; truy tố bị cáo Phạm Văn Tr về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”; đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự đối với Lò Văn Ph. Áp dụng điểm b, c khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự đối với Phạm Văn Tr. Xử phạt Lò Văn Ph từ 18 đến 24 tháng tù; xử phạt Phạm Văn Tr từ 8 đến 9 năm tù; miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo; về vật chứng: Tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 di động Sam Sung; 01 di động OPPO; 01 xe mô tô BKS 92F3-8031.Tịch thu tiêu hủy: 03 phong bì niêm phong đều có số 243/PC09-MT mặt sau có dấu giáp lai của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Nam; 03 xi lanh nhựa, 03 lọ nước cất và 15 mảnh giấy KT (4x4)cm. Trả lại chị Nguyễn Thị Th: 01 xe mô tô BKS 90B1-611.97 và đăng ký của xe. Trả lại Phạm Văn Tr: 01 ví giả da màu nâu; 01 căn cước công dân mang tên Phạm Văn Tr; số tiền: 12.825.000đ và tuyên án phí đối với các bị cáo.
Người bào chữa gửi bản luận cứ đề nghị xử phạt bị cáo Ph mức án thấp nhất. Bị cáo Ph đồng ý với quan điểm bào chữa và không bổ sung gì. Bị cáo Tr xin giảm nhẹ hình phạt và không tranh luận gì. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Phạm Thị D không tranh luận gì.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Duy Tiên và Điều tra viên; của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duy Tiên và Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố, cơ quan Điều tra, Viện kiểm sát đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác trong vụ án không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, HĐXX xác định các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về tội danh: Xét lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của người tham gia tố tụng khác cùng các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 10 giờ ngày 16/12/2021, tại khu vực cổng nhà ở của mình tổ dân phố Nhất Trì, phường Tiên Nội, thị xã Duy Tiên, Phạm Văn Tr bán trái phép cho Lò Văn Ph 01 gói ma túy, có khối lượng là 0,131g loại Heroine với giá 100.000đ. Khi Ph đang cầm gói ma túy vừa mua được của Tr đem về sử dụng thì bị tổ công tác Công an thị xã Duy Tiên phối hợp với Công an phường Tiên Nội phát hiện, bắt quả tang và thu giữ vật chứng có liên quan.
Ngoài ra, cũng trong buổi sáng ngày 16/12/2021, Phạm Văn Tr còn 04 lần bán trái phép chất ma túy, thu tổng số tiền 800.000 đồng. Cụ thể là:
+ Khoảng 7 giờ 30 phút ngày 16/12/2022, tại cổng Khu công nghiệp Đồng Văn 3, thuộc tổ dân phố Sa Lao, phường Đồng Văn, thị xã Duy Tiên, Phạm Văn Tr bán cho Lò Văn Ph 01 gói ma túy, loại Heroine thu 200.000 đồng;
+ Khoảng 8 giờ 30 phút ngày 16/12/2021, tại Khu vực Công ty ACE - Khu công nghiệp Đồng Văn 2 thuộc tổ dân phố Văn Phái, phường Bạch Thượng, thị xã Duy Tiên, Phạm Văn Tr bán cho Đinh Văn T 01 gói ma túy, loại Heroine thu 200.000 đồng;
+ Sáng ngày 16/12/2021, tại khu vực Khu công nghiệp Đồng Văn 3, Phạm Văn Tr bán cho 02 nam thanh niên không xác định được tên tuổi, địa chỉ cụ thể, làm công nhân ở đây, mỗi người 01 gói ma túy, loại Heroine thu 400.000 đồng.
Mặt khác, Phạm Văn Tr còn cất giấu tại chỗ ở của mình 12 gói ma túy, có khối lượng 1,098g, loại Heroine để vừa bán lại cho các đối tượng nghiện khác kiếm lời, vừa để sử dụng dần.
Tổng số ma túy thu giữ được là 1,229g, loại Heroine.
Hành vi nêu trên của các bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước, ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an tại địa phương. Hành vi của bị cáo Lò Văn Ph đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tội phạm hình phạt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Hành vi của Phạm Văn Tr nhiều lần bán trái phép chất ma túy, cho nhiều người; tàng trữ chất ma túy nhằm vừa bán lại cho các đối tượng nghiện khác kiếm lời, vừa để sử dụng dần với tổng trọng lượng chất ma túy thu giữ 1,229g Heroin đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” tội phạm hình phạt quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Quyết định số 02/QĐ-VKS-DT ngày 08/6/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duy Tiên rút quyết định truy tố đối với Phạm Văn Tr về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là có căn cứ, được chấp nhận.
Quan điểm của Viện kiểm sát truy tố bị cáo Lò Văn Ph về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; truy tố bị cáo Phạm Văn Tr về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” là đúng.
Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo Lò Văn Ph, Phạm Văn Tr chưa có tiền án tiền sự; các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Riêng bị cáo Phạm Văn Tr có bố đẻ có công với cách mạng nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về hình phạt: Xét tính chất hành vi phạm tội do các bị cáo gây ra là nghiêm trọng, rất nghiêm trọng vì thế cần phải cách ly các bị cáo khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung. Do các bị cáo là người không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo.
Về các hành vi khác:
Về nguồn gốc chất ma túy: do không xác định được lai lịch người bán ma túy cho Tr nên không có cơ sở làm rõ.
Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Lò Văn Ph, Đinh Văn T, Công an thị xã Duy Tiên đã ra quyết định xử phạt theo quy định.
Về xử lý vật chứng vụ án:
Đối với: 01 di động Sam Sung màu đen, 01 di động OPPO màu đen các bị cáo sử dụng liên lạc mua bán ma túy cần tịch thu sung ngân sách nhà nước.
Đối với: 01 xe mô tô BKS 92F3-8031, số khung VDTWCH015UM360586, số máy VDTFS152FMH360586 là tài sản của Lò Văn Ph, sử dụng làm phương tiện phạm tội cần tịch thu sung ngân sách nhà nước.
Đối với 01 xe mô tô 01 xe mô tô BKS 90B1 – 611.97 và đăng ký của xe là tài sản của chị Nguyễn Thị Th cho bị cáo Tr mượn, không biết Tr sử dụng vào việc phạm tội vì thế cần trả lại xe mô tô và đăng ký xe cho chị Th.
Đối với: 03 phong bì niêm phong đều có số 243/PC09-MT mặt sau có dấu giáp lai của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Nam; 03 xi lanh nhựa, 03 lọ nước cất in chữ Novocain và 15 mảnh giấy hình vuông kích thước khoảng (4x4)cm cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với: 01 ví giả da màu nâu đã cũ, bên trong có 01 căn cước công dân mang tên Phạm Văn Tr cần trả lại cho Phạm Văn Tr.
Đối với số tiền 13.000.000đ thu giữ của Tr khi khám xét, bị cáo Tr vay của chị Phạm Thị D không liên quan đến tội phạm cần trả lại cho bị cáo; đối với số tiền 725.000đ thu giữ của Tr khi bắt quả tang do bị cáo bán ma túy mà có cần tịch thu sung ngân sách nhà nước; trong vụ án này số tiền bị cáo Phạm Văn Tr thu lợi bất chính từ việc bán ma túy là 900.000đ. Như vậy đối trừ trả lại bị cáo Phạm Văn Tr: 12.825.000đ.
Về án phí hình sự sơ thẩm: bị cáo phải chịu theo quy định
Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, đương sự có quyền kháng cáo theo quy định.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
1. Về hình sự: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự đối với Lò Văn Ph. Căn cứ điểm b, c khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự đối với Phạm Văn Tr.
Tuyên bố: Bị cáo Lò Văn Ph phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; bị cáo Phạm Văn Tr phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Xử phạt:
+ Lò Văn Ph 18 (Mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 16/12/2021.
+ Phạm Văn Tr 08 (Tám) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 16/12/2021.
2. Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 di động Sam Sung màu đen; 01 di động OPPO màu đen; 01 xe mô tô BKS 92F3-8031;
Tịch thu tiêu hủy: 03 phong bì niêm phong số 243/PC09-MT có dấu giáp lai của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Nam; 03 xi lanh nhựa, 03 lọ nước cất in chữ Novocain và 15 mảnh giấy kích thước khoảng (4x4)cm.
Trả lại chị Nguyễn Thị Th: 01 xe mô tô BKS 90B1-611.97 và đăng ký của xe.
Trả lại Phạm Văn Tr: 01 ví giả da màu nâu; 01 căn cước công dân mang tên Phạm Văn Tr; số tiền: 12.825.000đ (Mười hai triệu tám trăm hai mươi lăm ngàn đồng).
3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc hội các bị cáo Lò Văn Ph, Phạm Văn Tr mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng).
Báo cho các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh Hà Nam;
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa
- VKSND tỉnh Hà Nam;
- Sở Tư pháp tỉnh Hà Nam;
- Cq CSĐT Công an thị xã Duy Tiên;
- VKSND thị xã Duy Tiên;
- Chi cục THADS thị xã Duy Tiên;
- Cơ quan THAHS Công an tx Duy Tiên;
- Trại tạm giam Công an tỉnh Hà Nam;
Trần Ngọc Thuận
- Bị cáo; đương sự
- Lưu hồ
Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Về nhân thân: các bị cáo nhiều lần thực hiện hành vi vi phạm pháp luật thể hiện ý thức chấp hành pháp luật không tốt, ngoài ra Đặng Nhật Bách đã nhiều lần bị xử phạt hành chính. Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: các bị cáo đều phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; riêng Đặng Nhật Bách quá trình điều tra và tại phiên tòa thành khẩn khai báo thể hiện sự ăn năn hối cải, được bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xét vai trò: vụ án này thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn, Đặng Nhật Bách là người khởi xướng, trực tiếp thực hiện nên giữ vai trò đầu vụ, bị cáo Phạm Trung Hiếu đồng phạm với vai trò giúp sức.
Từ nhận định trên, thấy rằng: các bị cáo có ý thức chấp hành pháp luật không tốt; bị cáo Đặng Nhật Bách đã nhiều lần bị xử phạt vi phạm hành chính; bị cáo Phạm Trung Hiếu không thành khẩn khai báo, không thể hiện sự ăn năn hối cải về hành vi của mình vì thế cần phải cách ly các bị cáo khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục các bị cáo; miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo.
Về vật chứng vụ án: cơ quan điều tra đã trả 43 tấm gỗ và 01 hòm gỗ cho Công ty TNHH Eidai là đúng; đối với xe mô tô BKS 90K1 – 0735 là tài sản hợp pháp của chị Nguyễn Thị Hạnh, chị Hạnh không biết Bách sử dụng làm phương tiện phạm tội nên cơ quan CSĐT đã trả lại cho chị Hạnh là đúng. Đối với 01 điện thoại Master bị cáo đã sử dụng liên lạc trong quá trình thực hiện hành vi phạm tội cần tịch thu sung ngân sách nhà nước.
Về trách nhiệm dân sự: Công ty TNHH Eidai Việt nam đã nhận lại tài sản bị trộm cắp, nay không có yêu cầu gì nên không đặt ra giải quyết.
Trong vụ án này Lưu Quang Tiến thừa nhận tháng 3/2019 đã lấy trộm 01 tấm gỗ dán thành phẩm KT khoảng (100x30x1,1)cm của Công ty ngoài ra Tiến không biết việc Bách trộm cắp của công ty nên cơ quan điều tra đã xử phạt hành chính đối với Tiến là phù hợp pháp luật.
Án phí hình sự sơ thẩm: các bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
Từ nhận định trên:
QUYẾT ĐỊNH
1. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i khoản 1 Điều 51; Điều 17; 58; 38 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo; riêng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Đặng Nhật Bách.
Tuyên bố: Các bị cáo Đặng Nhật Bách, Phạm Trung Hiếu phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
+ Xử phạt Đặng Nhật Bách: 09 (Chín) tháng tù, được trừ đi thời gian bị cáo bị tạm giữ từ ngày 26/12/2019 đến ngày 04/01/2020. Thời hạn tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.
+ Xử phạt Phạm Trung Hiếu: 07 (Bẩy) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.
2. Về vật chứng: Áp dụng điều 47 Bộ luật hình sự và điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 điện thoại Master.
(Đặc điểm vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an thị xã Duy Tiên và Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Duy Tiên ngày 05/3/2020).
3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội. Buộc các bị cáo Đặng Nhật Bách, Phạm Trung Hiếu mỗi bị cáo phải nộp: 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).
Báo cho các bị cáo; người bị hại; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./. Nơi nhận:
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh Hà Nam;
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
- Sở Tư pháp Hà Nam;
- Công an Duy Tiên;
- VKSND Duy Tiên;
- THADS Duy Tiên;
- Bị cáo;
- Đương sự;
- Lưu hồ sơ.
Trần Ngọc Thuận
Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo có nhân thân tốt và không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Sau khi nhận thức được hành vi của mình các bị cáo đã khắc phục hậu quả mang tài sản trộm cắp trả lại cho công ty; quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội; các bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, được người đại diện của bị hại xin giảm nhẹ hình phạt nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự.
Xét vai trò: Nguyễn Xuân Trường là người khởi xướng và trực tiếp thực hiện hành vi trộm cắp tài sản nên giữ vai trò đầu; các bị cáo Bùi Văn Thịnh, Đoàn Xuân Sáng giữ vai trò đồng phạm.
Từ nhận định trên thấy rằng: Các bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; sau khi nhận thức được hành vi của mình các bị cáo đã chủ động khắc phục hậu quả, các bị cáo được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ xét thấy không cần phải cách ly khỏi xã hội mà cho các bị cáo cải tạo tại địa phương dưới sự giám sát của gia đình và xã hội tạo điều kiện cho bị cáo cải sửa mình.
Đối với anh Vũ Quảng Trường có giao dịch mua các tấm blach plate, ông Dương Quang Học tham gia vào quá trình vận chuyển các tấm blach plate tuy nhiên anh Trường, ông Học không biết các tài sản này do các đối tượng trộm cắp nên hành vi của anh Trường, ông Học không cấu thành tội phạm.
Về hình phạt bổ sung: các bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn nên miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo là phù hợp thực tế.
Về trách nhiệm dân sự: người bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu các bị cáo bồi thường nên không đặt ra xem xét.
Về vật chứng vụ án: đối với 8 pallet hàng các bị cáo đã trả lại cho công ty, nay công ty không yêu cầu gì nên không đặt ra giải quyết; đối với các tài liệu thu giữ khác cần lưu tại hồ sơ vụ án.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo phải nộp theo quy định.
Từ nhận định trên:
QUYẾT ĐỊNH
1. Áp dụng khoản 1 điều 173; các điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 điều 51; điều 17, 58, 65 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Xuân Trường, Bùi Văn Thịnh, Đoàn Xuân Sáng phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân Trường 15 (Mười lăm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 30 (Ba mươi) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (15/8/2019).
Xử phạt Bùi Văn Thịnh, Đoàn Xuân Sáng mỗi bị cáo 12 (Mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 24 (Hai mươi bốn) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (15/8/2019).
Giao bị cáo Nguyễn Xuân Trường cho UBND phường Lam Hạ, thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam quản lý, giáo dục trong thời gian thử thách. Giao bị cáo Bùi Văn Thịnh cho UBND thị trấn Đồng Văn, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam quản lý, giáo dục trong thời gian thử thách. Giao bị cáo Đoàn Xuân Sáng cho UBND xã Đại Cường, huyện Ứng Hòa, thành phố Hà Nội quản lý, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 Luật thi hành án hình sự.
Trường hợp người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước tổng hợp với hình phạt của bản án mới.
2. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội. Buộc các bị cáo Nguyễn Xuân Trường, Bùi Văn Thịnh, Đoàn Xuân Sáng mỗi bị cáo phải chịu số tiền 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).
Báo cho các bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./. Nơi nhận:
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh Hà Nam;
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
- Công an huyện Duy Tiên;
- VKSND huyện Duy Tiên;
- THADS huyện Duy Tiên;
- Sở Tư pháp tỉnh Hà Nam;
- Bị cáo; Đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TRẦN NGỌC THUẬN
Hành vi nêu trên của các bị cáo Lê Văn Toản, Nguyễn Tuấn Nghĩa, Nguyễn Khánh Thiện, Trần Văn Hà, Đào Xuân Sơn và Nguyễn Văn Chung đủ yếu tố cấu thành tội “ Đánh bạc’’ theo quy định tại khoản 1 Điều 248 BLHS. Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố các bị cáo theo tội danh và điều luật nêu trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, vì đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự công cộng, các bị cáo thực hiện hành vi với mục đích sát phạt nhau được thua bằng tiền, thể hiện sự coi thường kỉ cương pháp luật của Nhà nước, làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự địa phương. Vì vậy HĐXX cần phải xử lý trước pháp luật đối với các bị cáo để giáo dục các bị cáo cũng như phòng ngừa chung trong xã hội.
Xét vai trò của các bị cáo cho thấy: Hành vi phạm tội của các bị cáo mang tính chất đồng phạm giản đơn, các bị cáo tham gia đánh bạc bằng hình thức chơi “Liêng”, sát phạt nhau bằng tiền là do ham thích và hoàn toàn tự nguyện, không bị ai kích động, dụ dỗ. Trong đó các bị cáo Toản, Nghĩa, Thiện, Hà, Sơn đều là người giữ vai trò thực hành, trực tiếp thực hiện hành tội phạm. Riêng bị cáo Chung tuy không tham gia đánh bạc nhưng đã gọi điện rủ rê các bị cáo: Toản, Thiện, Hà và Nghĩa đến nhà mình để đánh bạc và chuẩn bị công cụ, phương tiện phạm tội và thu tiền hồ nên giữ vai trò chính, đồng phạm với các bị cáo khác. HĐXX sẽ xem xét về tính chất, vai trò và nhân thân từng bị cáo để đánh giá, ấn định mức hình phạt khi lượng hình.
Trong lượng hình xét thấy: Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự (TNHS): các bị cáo Toản, Nghĩa, Thiện, Hà, Chung không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định tại khoản 1Điều 48 BLHS. Riêng bị cáo Sơn đã bị Tòa án nhân dân huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam xử phạt 10 tháng tù về tội “ Đánh bạc” theo bản án ngày 23/3/2016, bị cáo ra trại ngày 08/9/2016. Nay bị cáo lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội khi chưa được xóa án tích nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “Tái phạm” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự. Đối với tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra vụ án và tại phiên tòa hôm nay, cả 6 bị cáo đều thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình,thể hiện sự ăn năn hối cải. Do vậy tất cả các bị cáo đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự. Đối với các bị cáo Toản, Nghĩa, Thiện, Hà, Chung về nhân thân chưa từng bị kết án nên được coi là phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Do vậy, các bị cáo này được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 46 BLHS. Riêng bị cáo Đào Xuân Sơn có hoàn cảnh gia đình khó khăn, bản thân bị cáo Sơn có thời gian tham gia quân đội; bị cáo Nguyễn Văn Chung sau khi bỏ trốn đã tự nguyện ra đầu thú nên các bị cáo Sơn, Chung được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 46 BLHS.
Sau khi xem xét mọi mặt, HĐXX thấy rằng đây là vụ án đánh bạc có nhiều người tham gia, gây dư luận xấu tại địa bàn xã Chuyên Ngoại và khu vực lân cận, làm mất trật tự trị an địa phương, vì vậy cần phải xử lý nghiêm khắc các bị cáo mới đáp ứng được yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm trên địa bàn. Tuy nhiên, như đã nhận định: các bị cáo Toản, Nghĩa, Thiện, Hà, Chung là những người có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ TNHS, có nơi cư trú rõ ràng nên xét thấy không cần thiết bắt các bị cáo này phải cách ly khỏi xã hội mà chỉ cần áp dụng Điều 60 BLHS cho các bị cáo được cải tạo tại địa phương là phù hợp với quy định của pháp luật. Đối với bị cáo Sơn như đã nhận định, là người có nhân thân xấu nên HĐXX cần áp dụng Điều 33 BLHS cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian để bị cáo cải tạo thành công dân tốt là phù hợp với quy định của pháp luật.
Về hình phạt bổ sung: Xét hoàn cảnh của các bị cáo đều không có nghề nghiệp ổn định, có khó khăn khác nhau nên HĐXX quyết định miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền quy định tại khoản 3 Điều 248 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo là phù hợp với thực tế và quy định của pháp luật.
Về vật chứng của vụ án:
- Đối với 01 điện thoại di động Iphone 5, vỏ màu vàng thu giữ của bị cáo Toản và 01 điện thoại Nokia 105 thu giữ của bị cáo Nghĩa, quá trình điều tra xác định có liên quan đến hành vi phạm tội, nên HĐXX cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước.
- Đối với 01 điện thoại di động Samsung Note 4 thu giữ của bị cáo Thiện và 01 điện thoại Nokia 1280 thu giữ của bị cáo Sơn, đã chứng minh làm rõ không liên quan đến hành vi phạm tội, nên HĐXX xét trả lại cho các bị cáo Thiện và Sơn.
- Đối với số tiền 23.050.000đ trong đó có 10.550.000đ là số tiền các đối tượng dùng vào việc đánh bạc, cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước. Số tiền còn lại là 12.500.000đ trong đó 5.500.000đ thu giữ của bị cáo Hà; 7.000.000đ thu giữ của bị cáo Toản, quá trình điều tra không chứng minh được Hà, Toản dùng số tiền trên thực hiện hành vi phạm tội. Do vậy, HĐXX xét trả lại cho các bị cáo Hà và Toản.
- Đối với các vật chứng còn lại là công cụ, phương tiện để các đối tượng sử dụng vào việc đánh bạc và không còn giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật.
Từ nhận định trên:
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố: Các bị cáo Lê Văn Toản, Nguyễn Tuấn Nghĩa, Nguyễn Khánh Thiện, Trần Văn Hà, Đào Xuân Sơn và Nguyễn Văn Chung phạm tội “ Đánh bạc”.
Áp dụng khoản 1 Điều 248; điểm h, p khoản 1 Điều 46; Điều 20; Điều 53; Điều 60 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo: Lê Văn Toản, Nguyễn Tuấn Nghĩa, Nguyễn Khánh Thiện, Trần Văn Hà và Nguyễn Văn Chung.
+ Áp dụng khoản 1 Điều 248; điểm p khoản 1 Điều 46; điểm g khoản 1 Điều 48; Điều 20; Điều 53; Điều 33 Bộ luật hình sự đối với bị cáo: Đào Xuân Sơn.
+ Áp dụng riêng khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Đào Xuân Sơn và Nguyễn Văn Chung.
* Xử phạt:
- Nguyễn Văn Chung: 15 (Mười lăm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 30 (Ba mươi) tháng, tính từ ngày tuyên án (17/11/2017).
- Bị cáo Đào Xuân Sơn: 12 (Mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 31/7/2017.
- Các bị cáo: Lê Văn Toản, Trần Văn Hà, Nguyễn Tuấn Nghĩa và Nguyễn Khánh Thiện, mỗi bị cáo 10 (Mười) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 20 (Hai mươi) tháng, tính từ ngày tuyên án (17/11/2017).
Giao các bị cáo Lê Văn Toản, Trần Văn Hà, Nguyễn Tuấn Nghĩa, Nguyễn Văn Chung cho UBND xã Chuyên Ngoại, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam quản lý, giáo dục trong thời gian thử thách. Giao bị cáo Nguyễn Khánh Thiện cho UBND xã Trác Văn, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam quản lý, giáo dục trong thời gian thử thách.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điều 41 BLHS và điều 76 BLTTHS:
- Tịch thu sung ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động Iphone 5, vỏ màu vàng; 01 điện thoại Nokia 105 và số tiền 10.550.000đ (Mười triệu, năm trăm năm mươi lăm nghìn đồng).
- Trả lại cho bị cáo Nguyễn Khánh Thiện: 01 điện thoại di động Samsung Note4.
- Trả lại cho bị cáo Đào Xuân Sơn: 01 điện thoại Nokia 1280.
- Trả lại cho bị cáo Trần Văn Hà: số tiền 5.500.000đ (Năm triệu năm trăm nghìn đồng).
- Trả lại cho bị cáo Toản: số tiền 7.000.000đ (Bẩy triệu đồng).
- Tịch thu cho tiêu hủy: Các vật chứng còn lại.
( Toàn bộ đặc điểm vật chứng như trong biên bản giao nhận vật chứng ngày 04/10/2017 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Duy Tiên và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Duy Tiên).
3. Án phí: Áp dụng Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc Hội. Buộc các bị cáo Lê Văn Toản, Nguyễn Tuấn Nghĩa, Nguyễn Khánh Thiện, Trần Văn Hà, Đào Xuân Sơn và Nguyễn Văn Chung, mỗi bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm: 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).
Án xử công khai sơ thẩm: các bị cáo có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Hà Nam; - Công an huyện Duy Tiên; - VKSND huyện Duy Tiên; - Chi cục THADS huyện Duy Tiên; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ vụ án. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Mạnh Xuân Hải |