vanban.org

Bản án 53/2022/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Thanh Khê, TP Đà Nẵng Tuyên án 31/05/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Đình Q phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Đình Q 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 14/02/2022. Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tuyên: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Đình Q - phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (điều 255 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Đình Q phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
Q. THANH KHÊ – TP. ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 53/2022/HS-ST
Ngày: 31-5-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Ngọc Hưng

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Trung Nam

Ông Nguyễn Duy Thảo

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Phan Khánh Vi- Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Phạm Ái Linh- Kiểm sát viên.

Trong ngày 31 tháng 5 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 38/2022/TLST-HS ngày 06 tháng 5 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 38/2022/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 5 năm 2022 đối với bị cáo:

Nguyễn Đình Q, sinh ngày 02 tháng 9 năm 1991 tại Tp Đà Nẵng; Nơi ĐKHKTT: Thôn A, xã B, huyện C, Tp Đà Nẵng; Nơi cư trú: Số nhà A1 đường B1, phường C1, quận D1, thành phố Đà Nẵng; Nghề nghiệp: Lao động phổ thông; Trình độ văn hóa: 09/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Con ông Nguyễn Đình T, sinh năm 1964 và bà Trịnh Thị Ngọc C, sinh năm 1967.

Tiền án: Bản án số 84/2020/HS-ST ngày 28/12/2020 của Tòa án nhân dân Q. Cẩm Lệ, Đà Nẵng xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173BLHS; chấp hành xong hình phạt tù ngày 05/9/2021.

- Tiền sự: 04

+Ngày 24/4/2015: Tòa án nhân dân Q. Hải Châu xử lý hành chính đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc trong thời hạn 18 tháng.

+Ngày 19/5/2017: Tòa án nhân dân Q. Thanh Khê xử lý hành chính đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc trong thời hạn 12 tháng.

+ Ngày 24/7/2018: Tòa án nhân dân H. Hòa Vang xử lý hành chính đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc trong thời hạn 15 tháng.

+ Ngày 17/7/2020: Tòa án nhân dân H. Hòa Vang xử lý hành chính đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc trong thời hạn 18 tháng.

- Nhân thân:

+ Ngày 23/4/2009: Tòa án nhân dân Q. Thanh Khê xử phạt 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội Trộm cắp tài sản.

+ Ngày 22/4/2010: Tòa án nhân dân Q. Hải Châu xử phạt 15 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản.

+ Ngày 28/3/2012 và 30/10/2012 UBND TP Đà Nẵng ra Quyết định đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/02/2022. Có mặt.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

1/ Bà Nguyễn Thị Đ, sinh ngày 02/6/2000, trú tại: Số nhà A2, đường B2, phường C2, quận D2, Tp Đà Nẵng. Vắng mặt.

2/ Bà Phan Thị Mỹ N, sinh năm 1980, trú tại: Số nhà A3, đường B3, phường C3, quận D3, Tp Đà Nẵng. Vắng mặt.

3/ Bà Trần Thị Ngọc B, sinh năm 1975, nơi ĐKHKTT: Số nhà A4, đường B34, phường C4, quận D4, Tp Đà Nẵng. Vắng mặt.

4/ Bà Nguyễn Thị Na, sinh năm 1998, nơi ĐKHKTT: Số nhà A5, đường B5, phường C5, quận D5 Tp Đà Nẵng. Nơi ở hiện tại: Số nhà A6, đường B6, phường C6, quận D6, Tp Đà Nẵng. Vắng mặt.

5/ Bà Đỗ Thị Hải Y, sinh năm 1990, trú tại: Số nhà A7, đường B7, phường C7, quận D7, Tp Đà Nẵng. Vắng mặt.

6/ Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1990, trú tại: Số nhà A8, đường B8, phường C8, quận D8, Tp Đà Nẵng. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Tối ngày 13/02/2022, khi đi hát karaoke trên đường Nguyễn Thiện Thuật (không rõ địa chỉ) cùng bạn, Nguyễn Đình Q lấy ra sử dụng một mình hết 3/4 viên ma tùy thuốc lắc, trong số 02 viên ma túy thuốc lắc và một gói ma túy khay do một người bạn tên Hùng (không rõ nhận thân, lại lịch) cho trước đó khi nhậu trên đường Võ Văn Kiệt, TP Đà Nẵng. Đến khoảng 09 giờ ngày 14/02/2022, Q thuê phòng 404 nhà nghỉ Minh Trường, số 743 Nguyễn Tất Thành, P. Xuân Hà, Q. Thanh Khê, TP. Đà Nẵng để ở rồi điện thoại rủ Nguyễn Thị Đ đến chơi và cùng sử dụng ma túy, Q muợn 01 đĩa sứ màu trắng của lễ tân rổi đồ gói ma túy khay ra đĩa và mở túi xách của Đ lấy 01 thẻ nhựa ATM để xào ma túy khay và cuộn 01 tờ tiền mệnh giá 10.000đ (muời nghìn đồng) thành ống hút, lúc này Đ đang trong nhà vệ sinh nên không biết Q lấy thẻ ATM của mình. Khi Đ đi ra thì Q đưa cho Đ 1/4 viên ma túy thuốc lắc còn lại hôm trước để sử dụng và cùng Đ sử dụng ma túy khay cho đến khoảng 14 giờ cùng ngày thì bị Công an P. Xuân Hà, Q. Thanh Khê, TP. Đà Nẵng kiểm tra hành chính, phát hiện, bắt quả tang Q về hành vi cất giấu trái phép chất ma túy, thu giữ trên bàn trong phòng: 01 đĩa sứ màu trắng, bên trên có chứa chất bột màu trắng (được niêm phong ký hiệu G1); 01 viên nên màu xanh hình giống viên kim cương (niêm phong ký hiệu G2) và các tang vật khác có liên quan. Qua thử nước tiểu kết quả Q và Đ đều dương tính với chất ma túy tổng hợp nên Cơ quan CSĐT Công an Q. Thanh Khê tiến hành thu mẫu nước tiểu của Nguyễn Đình Q và Nguyễn Thị Đ vào chai nhựa riêng biệt, được niêm phong, ký hiệu lần lượt là Q và Đ.

* Theo Kết luận giám định số 25/GĐ-MT ngày 21/02/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an TP Đà Nẵng kết luận: Chất bột màu trắng trong bì niêm phong ký hiệu G1 gửi giám định là ma túy, loại Ketamine, khối lượng mẫu G1 0,121 gam; Viên nén trong bì niêm phong ký hiệu G2 gửi giám định là ma túy, loại MDMA, khối lượng viên nén mẫu G2: 0,451 gam.

* Kết luận giám định số 248/KL-C0ỌC Đ2 ngày 04/7/2022 của Viện KHHS tại TP Đà Nẵng kết luận: Mẫu nước tiểu niêm phong trong chai nhựa ký hiệu Q (gửi giám định có tìm thấy chất mua túy, loại Methamphetamine, MDMA và Ketamine; Mẫu nước tiểu niêm phong trong chai nhựa ký hiệu Đ gửi giám định có tìm thấy chất ma túy, loại MDMA và Ketamine.

* Tang vật tạm giữ và xử lý :

- Chất bột màu trắng trong bì niêm phong ký hiệu G1 và chất bột của viên nén trong bì niêm phong ký hiệu G2 còn lại sau giám định; 01 (một) đĩa sứ màu trắng, đường kính 20cm; 01 (một) tờ tiền mệnh giá 10.000₫ được cuộn tròn: chuyển Chi cục Thi hành án dân sự quận Thanh Khê tạm thời quản lý.

- Xe môtô Honda Airblade màu đỏ đen, BKS: 43C1-88283 do chị Phan Thị Mỹ N đứng chủ sở hữu: ngày 14/02/2022, cho Q mượn sử dụng, không biết việc Q cất giấu và sử dụng ma túy nên Cơ quan CSĐT Công an Q. Thanh Khê đã trả cho chị Nhung.

- Đối với 01 điện thoại di động hiệu Samsung màu xanh, số Imei; 354668771820665/01, gắn sim số: 0935023534 và 01 (một) loa LG XBOOM màu đen, kích thước 69cm-30cm 30cm do chị Trịnh Thị Ngọc B (là dì ruột của Q) làm chủ sở hữu: sáng ngày 14/02/2022, Q mượn điện thoại và loa thùng nêu trên để nghe nhạc, chị B không biết Q dùng cho việc sử dụng ma túy nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho chị B.

- Xe môtô Honda Vision màu đỏ đen, BKS: 43F1-47728 thu giữ của Nguyễn Thị Đ: xe do chị Nguyễn Thị N đứng tên trong giấy đăng ký xe; ngày 13/02/2022 chị N cho Đ mượn sử dụng không biết việc Đ đi sử dụng ma túy nên Cơ quan điều tra đã trả lại chị N.

+ Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 11 màu trắng, số Imei: 357593322518377, gắn sim số: 090567778 và 01 (một) thẻ ngân hàng mang tên NGUYEN THI DAO do Nguyễn Thị Đ làm chủ sở hữu, không biết Q lấy thẻ để xào ma túy khay nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho chị Đ.

Tại bản cáo trạng số 44/CT- VKS ngày 04 tháng 5 năm 2022, Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng đã truy tố Nguyễn Đình Q về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 255 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng thực hành quyền công tố Nhà nước giữ nguyên toàn bộ nội dung bản Cáo trạng đã truy tố và căn cứ vào nhân thân, tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Khoản 1 Điều 255; điểm h , khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Đình Q từ 03 năm đến 04 năm tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung.

Về xử lý vật chứng, đề nghị: Tịch thu tiêu hủy: Chất bột màu trắng trong bì niêm phong ký hiệu G1 và chất bột của viên nén trong bì niêm phong ký hiệu G2 còn lại sau giám định; 01 (một) đĩa sứ màu trắng, đường kính 20cm. Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 (một) tờ tiền mệnh giá 10.000₫.

Bị cáo Nguyễn Đình Q thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng đã truy tố là đúng. Bị cáo nói lời sau cùng: bị cáo mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Thanh Khê, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Thanh Khê, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, Kiểm sát viên đều hợp pháp.

Quá trình điều tra, xét hỏi và tranh luận tại phiên tòa hôm nay bị cáo Nguyễn Đình Q đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập trong hồ sơ vụ án và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 09 giờ ngày 14 tháng 02 năm 2022, tại Phòng 404 Nhà nghỉ Minh Trường, địa chỉ 743 Nguyễn Tất Thành, phường Xuân Hà, quận Thanh Khê, Tp Đà Nẵng, Nguyễn Đình Q đã có hành vi chuẩn bị ma túy, dụng cụ, địa điểm rồi rủ Nguyễn Thị Đ cùng sử dụng trái phép chất ma túy. Đến khoảng 14 giờ cùng ngày thì bị Công an phường Xuân Hà, quận Thanh Khê bắt quả tang. Ma túy qua giám định có khối lượng 0,121 gam ma túy loại Ketamine, 0,451 gam ma túy loại MDMA.

Do đó hành vi của Nguyễn Đình Q phạm vào tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 255 của Bộ luật Hình sự như Cáo trạng số 44/CT- VKS ngày 04 tháng 5 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng đã truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Xét tính chất vụ án, hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo thì thấy:

Hành vi của bị cáo có tính chất nghiêm trọng, đã trực tiếp xâm phạm đến sự độc quyền trong việc quản lý các chất ma túy của Nhà nước. Bị cáo đủ khả năng nhận thức được việc tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy đang là tệ nạn của xã hội, là nguyên nhân của các tội phạm khác gây mất an ninh trật tự, sức khỏe và sự phát triển lành mạnh của nòi giống, ảnh hưởng xấu đến nhiều mặt của đời sống xã hội, nhưng bị cáo vẫn phạm tội. Bị cáo có tiền án, nhiều tiền sự, nhân thân rất xấu, nhiều lần đi cai nghiện bắt buộc về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Do đó cần phải xét xử nghiêm, hình phạt đối với bị cáo phải thỏa đáng và tương xứng với hành vi phạm tội, nhân thân bị cáo để bị cáo có điều kiện cải tạo tu dưỡng để trở thành công dân có ích cho xã hội.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo có 01 tiền án chưa được xóa án tích mà lại tiếp tục phạm tội, do đó lần phạm tội này thuộc trường hợp tái phạm, là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điển h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự cần được áp dụng cho bị cáo.

Bị cáo không có tài sản và thu nhập nên không áp dụng hình phạt bổ sung.

Từ những phân tích trên, xét lời luận tội của Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê về tội danh, mức hình phạt là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về xử lý vật chứng: Đối với Mẫu vật hoàn trả sau giám định được niêm phong trong 01 bì niêm phong số 25/GĐ-MT ngày 21/02/2022, có đóng dấu giáp lai của Phòng KTHS Công an Tp Đà Nẵng là vật Nhà nước cấm lưu hành; 01 (một) đĩa sứ màu trắng, đường kính 20cm là phương tiện bị cáo dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu tiêu hủy. Đối với 01 (một) tờ tiền mệnh giá 10.000₫ được cuộn tròn là phương tiện bị cáo dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước.

Đối với người đàn ông tên Hùng đưa ma túy cho Q, nhưng chưa rõ nhân thân lai lịch, Cơ quan CSĐT tiếp tục làm rõ, xử lý sau. Hội đồng xét xử thấy phù hợp

- Đối với Nguyễn Thị Đ không biết nguồn gốc ma túy, không bàn bạc, thống nhất hay cung cấp dụng cụ gì để sử dụng mà túy nên Cơ quan CSĐT Công an Q. Thanh Khe không đề cập đến, Hội đồng xét xử thấy phù hợp.

- Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Nguyễn Đình Q và Nguyễn Thị Đ, Công an Q. Thanh Khê đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính. Đối với bà Đỗ Thị Hải Y đại điện Hộ Kinh doanh Nhà nghỉ Minh Trường có hành vi người đứng đầu, người đại diện theo pháp luật, người được giao quản lý cơ sở cho thuê lưu trú để xảy ra hoạt động tàng trữ, mua bán, sử dụng trái phép chất ma túy trong Khu vực do mình quản lý, đã bị UBND Q. Thanh Khê ra Quyết định xử phạt hành chính 15.000.000₫ và tước quyền sử dụng Giấy phép, Giấy chứng nhận trong thời gian 09 tháng, Hội đồng xét xử thấy phù hợp.

- Đối với Xe môtô Honda Airblade màu đỏ đen, BKS: 43C1-88283 do chị Phan Thị Mỹ N đứng chủ sở hữu: ngày 14/02/2022, cho Q mượn sử dụng, không biết việc Q cất giấu và sử dụng ma túy nên Cơ quan CSĐT Công an Q. Thanh Khê đã trả cho chị N, Hội đồng xét xử thấy phù hợp.

- Đối với 01 điện thoại di động hiệu Samsung màu xanh, số Imei; 354668771820665/01, gắn sim số: 0935023534 và 01 (một) loa LG XBOOM màu đen, kích thước 69cmx30cmx30cm do chị Trịnh Thị Ngọc B (là dì ruột của Q) làm chủ sở hữu: sáng ngày 14/02/2022, Q mượn điện thoại và loa thùng nêu trên để nghe nhạc, chị B không biết Q dùng cho việc sử dụng ma túy nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho chị B, Hội đồng xét xử thấy phù hợp.

- Đối với Xe môtô Honda Vision màu đỏ đen, BKS: 43F1-47728 thu giữ của Nguyễn Thị Đ: xe do chị Nguyễn Thị N đứng tên trong giấy đăng ký xe; ngày 13 02/2022 chị N cho Đ mượn sử dụng không biết việc Đ đi sử dụng ma túy nên Cơ quan điều tra đã trả lại chị N, Hội đồng xét xử thấy phù hợp.

+ Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 11 màu trắng, số Imei: 357593322518377, gắn sim số: 090567778 và 01 (một) thẻ ngân hàng mang tên NGUYEN THI DAO do Nguyễn Thị Đ làm chủ sở hữu, Đ không biết Q lấy thẻ để xào ma túy khay nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho chị Đ, Hội đồng xét xử thấy phù hợp.

Về án phí: Án phí hình sự sơ thẩm bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào: Khoản 1 Ðiều 255; điểm h khoản 1 Điều 52, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Đình Q phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Đình Q 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 14/02/2022.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tuyên:

- Tịch thu tiêu hủy: Mẫu vật hoàn trả sau giám định được niêm phong trong 01 bì niêm phong số 25/GĐ-MT ngày 21/02/2022, có đóng dấu giáp lai của Phòng KTHS Công an Tp Đà Nẵng; 01 (một) đĩa sứ màu trắng, đường kính 20cm;

- Tịch thu sung công quỹ Nhà nước: 01 (một) tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng được cuộn tròn.

(Các vật chứng trên hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Thanh Khê theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 09 tháng 5 năm 2022 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an quận Thanh Khê và Chi cục Thi hành án dân sự quận Thanh Khê).

3. Về án phí: Căn cứ vào Điều 23 của Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 về việc “Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, sử dụng án phí, lệ phí Tòa án” của Uỷ ban thường vụ Q hội.

Bị cáo Nguyễn Đình Q phải chịu 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Án xử sơ thẩm công khai, báo cho bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ