- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vũ Văn P phạm tội trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ khoản 1 Điều 48 của Bộ luật Hình sự và các điều 584, 585, 589 của Bộ luật Dân sự.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HỒNG BÀNG THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 53/2022/HS-ST Ngày 19-9-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HỒNG BÀNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Văn Mười
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Trần Ngọc Hải
Bà Đặng Thị Thu Hiền
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu - Thư ký Toà án nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Diệu Trang - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 9 năm 2022, tại điểm cầu trung tâm Tòa án nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng và tại điểm cầu thành phần Trại tạm giam Công an thành phố Hải Phòng; Tòa án nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 48/2022/TLST-HS ngày 10 tháng 8 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 53/2022/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 9 năm 2022 đối với bị cáo:
Vũ Văn P, sinh ngày 01 tháng 01 năm 1966 tại Hải Phòng; nơi ĐKHKTT: Số 20/35 đường H, phường Hạ Lý, quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng; nơi cư trú: Tổ 28 Cụm 4 phường Đ, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: Lớp 7/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Văn X và bà Vũ Thị Kh (đều đã chết); có vợ là Nguyễn Thị Cúc D; có 02 con, con lớn sinh năm 1996, con nhỏ sinh năm 2000; tiền án, tiền sự, nhân thân: Tại Bản án số 713/1989/HSST ngày 28/6/1989, Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân Tối Cao xử phạt 5 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”; tại Bản án số 05/HSST ngày 10/01/2001, Tòa án nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng xử phạt 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; tại Bản án số 145/HSST ngày 29/9/2005, Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng xử phạt 30 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”; bị bắt tạm giữ ngày 27/4/2022, tạm giam ngày 06/5/2022; có mặt.
Bị hại: Công ty Cổ phần Tập đoàn V; địa chỉ trụ sở: Ngõ 2 đường B, thị trấn N, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng.
- Người đại diện hợp pháp của bị hại: Ông Tô Đoàn P, sinh năm 1993; nơi cư trú: Thôn T, xã L, huyện An Dương, thành phố Hải Phòng là nhân viên Phòng kỹ thuật công ty (Văn bản ủy quyền ngày 27 tháng 4 năm 2022); vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 00 giờ 30 phút, ngày 27/4/2022, Vũ Văn P điều khiển xe mô tô Biển kiểm soát: 16P9-8921 từ nhà trọ tại số 37, cụm 4 tổ 28 phường Đ, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng đi một mình trên đường phố với mục đích tìm xem có tài sản nào sơ hở để lấy trộm. Khi đi đến khu vực trước cửa số nhà 140 - 150 đường H, phường H, quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng thì phát hiện 02 gốc cây còn nắp gang bảo vệ, quan sát xung quanh không có ai, P dùng cờ lê mang theo móc vào chốt bầu dục cố định của hai mảnh nắp gang bảo vệ rồi dùng sức bẻ chốt. Sau khi đã bẻ được chốt, P dùng hai tay cầm mảnh nắp gang nhấc lên làm gãy chốt thứ hai. P bê từng mảnh nắp gang để lên yên xe mô tô rồi đi ngược chiều theo đường Hoàng Văn Thụ ra đường L. Khi đến khu vực cổng Cảng 1 thì P điều khiển xe lên vỉa hè, bê hai mảnh nắp gang xuống sau đó quay lại khu vực trước cửa số nhà 140 - 150 đường Hoàng Văn Thụ. P tiếp tục dùng cờ lê bẻ chốt nắp gang còn lại rồi bê 2 mảnh nắp gang lên để phía sau xe chở về khu vực cổng Cảng 1. Tại đây P nhặt đá và đập những tấm gang vừa trộm được thành nhiều mảnh nhỏ rồi cho vào 03 bao tải P lấy ở ven đường. P bê tất cả lên xe rồi chở về nhà trọ. Khoảng 02 giờ 45 phút cùng ngày, P về phòng trọ và để 03 bao tải đựng các mảnh gang trước cửa phòng thì bị cơ quan Công an kiểm tra thu giữ và đưa về trụ sở làm việc.
Tang vật gồm: 01 xe mô tô Biển kiểm soát 16P9-8921; 01 cờ lê 17 bằng kim loại sáng màu; 16 mảnh vỡ của 04 tấm gang đúc, kích thước các mảnh: (31÷63)cm x (19,5÷37)cm x 2cm, trọng lượng bằng 137,2kg.
Tại Kết luận định giá tài sản số 25/KL-HĐĐGTS ngày 28/4/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự, Ủy ban nhân dân quận Hồng Bàng kết luận: 16 mảnh vỡ của 04 tấm gang đúc dạng hình chữ U dùng để đậy gốc cây, đã qua sử dụng, bề mặt han gỉ oxy hóa, kích thước các mảnh: (31÷63) cm x (19,5÷37) cm x 2cm, trọng lượng bằng 137,2kg, thành tiền là 7.000.000 đồng.
Tại Cơ quan điều tra, Vũ Văn P khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, phù hợp với vật chứng thu giữ, Kết luận định giá tài sản và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Về vật chứng: 01 xe mô tô Biển kiểm soát: 15P9-8921; 01 cờ lê 17 bằng sắt màu trắng chuyển Chi cục Thi hành án dân sự quận Hồng Bàng.
Về trách nhiệm dân sự: Công ty Cổ phần Tập đoàn Việt Úc yêu cầu bị cáo phải bồi thường thiệt hại là 02 tấm gang đúc dạng hình chữ U dùng để đậy gốc cây có trị giá là 7.000.000 đồng.
Tại Cáo trạng số 47/CT-VKSHB ngày 08/8/2022 của Viện Kiểm sát nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng đã truy tố bị cáo Vũ Văn P về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, bị cáo Vũ Văn P đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung trên, phù hợp với lời khai của bị hại, phù hợp với vật chứng thu giữ, Kết luận định giá tài sản và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Sau khi được hỏi về nghĩa vụ nộp án phí tại Bản án số 10 ngày 19/01/1989, bị cáo khai mẹ đẻ bị cáo đã nộp xong rồi, thời gian lâu bị cáo không nhớ.
Bị hại Công ty Cổ phần Tập đoàn V vắng mặt, có đơn yêu cầu bị cáo phải bồi thường thiệt hại là 02 tấm gang đúc dạng hình chữ U dùng để đậy gốc cây có trị giá là 7.000.000 đồng.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ nguyên Cáo trạng truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng; rút áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự; đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Vũ Văn P với mức án từ 18 tháng đến 21 tháng tù về tội "`Trộm cắp tài sản".
- Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền theo khoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình sự, do bị cáo là lao động tự do, không có thu nhập, không có tài sản riêng.
- Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ khoản 1 Điều 48 của Bộ luật Hình sự và các điều 584, 585, 589 của Bộ luật Dân sự; cần buộc bị cáo Vũ Văn P phải bồi thường cho Công ty Cổ phần Tập đoàn Việt Úc 04 (bốn) tấm gang đúc của 02 nắp gang dạng hình chữ U dùng để đậy gốc cây có trị giá là 7.000.000 đồng.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu 01 xe mô tô Biển kiểm soát: 15P9-8921 là phương tiện dùng vào việc phạm tội sung công quỹ Nhà nước; tịch thu tiêu hủy 01 cờ lê 17 bằng sắt màu trắng.
- Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tố tụng:
Về tài liệu, chứng cứ Cơ quan cảnh sát điều tra, Công an quận Hồng Bàng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Hồng Bàng, Kiểm sát viên thu thập; bị cáo cung cấp đều thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có khiếu nại về những chứng cứ, tài liệu đã thu thập, cung cấp. Do đó, những chứng cứ, tài liệu trong vụ án đều hợp pháp.
[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Hồng Bàng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Hồng Bàng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng như đã nêu trên. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Về sự vắng mặt của bị hại:
Bị hại Công ty Cổ phần Tập đoàn V đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do; có đơn yêu cầu phải bồi thường thiệt hại là 02 tấm gang đúc dạng hình chữ U dùng để đậy gốc cây có trị giá là 7.000.000 đồng. Bị cáo và đại diện Viện kiểm sát không đề nghị hoãn phiên tòa về sự vắng mặt của bị hại. Xét thấy bị hại đã có lời khai tại giai đoạn điều tra và việc vắng mặt của họ tại phiên tòa không gây trở ngại cho việc xét xử. Căn cứ Điều 292 của Bộ luật tố tụng hình sự; Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị hại.
- Về các tình tiết của vụ án:
Về tội danh: Tại phiên tòa, bị cáo Vũ Văn P đã khai nhận hành vi phạm tội như nội dung trên, phù hợp với lời khai của bị hại; phù hợp với vật chứng thu giữ, Kết luận định giá tài sản và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 0 giờ 30 phút ngày 27/4/2022, Vũ Văn P có hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản là 02 tấm gang đúc dạng hình chữ U dùng để bảo vệ gốc cây có trị giá là 7.000.000 đồng của Công ty Cổ phần tập đoàn V. Tại thời điểm thực hiện hành vi (ngày 27/4/2022), bị cáo là người trên 18 tuổi, có đầy đủ năng lực hành vi hình sự. Bị cáo thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp. Như vậy hành vi của bị cáo đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân quận Hồng Bàng thành phố Hải Phòng truy tố bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng là có cơ sở và đúng quy định của pháp luật.
- Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội:
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu về tài sản được pháp luật bảo vệ mà còn gây mất trật tự trị an xã hội.
- Xét về nhân thân của bị cáo:
Bị cáo Vũ Văn P có 03 tiền án. Tại Bản án số 713/1989/HSST ngày 28/6/1989, Tòa P thẩm Tòa án nhân dân Tối Cao xử phạt 5 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”; tại Bản án số 05/HSST ngày 10/01/2001, Tòa án nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng xử phạt 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; tại Bản án số 145/HSST ngày 29/9/2005, Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng xử phạt 30 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” đều đã được xóa án tích, cho thấy bị cáo có nhân thân xấu, không từ bỏ con đường phạm tội.
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Tại Bản cáo trạng số 47/CT-VKSHB ngày 08/8/2022 của Viện Kiểm sát nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng có nêu: Bản án số 10 ngày 19/01/1989 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xử phạt 05 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”, tài liệu điều tra chưa xác định bị cáo đã thi hành xong án phí, do vậy chưa được xóa án tích nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, sau khi được hỏi về nghĩa vụ nộp án phí bị cáo khai mẹ đẻ bị cáo đã nộp xong, thời gian lâu bị cáo không nhớ; đại diện Viện kiểm sát đã rút áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo. Hội đồng xét xử xác định tại Bản án số 10 ngày 19/01/1989 bị cáo đã được xóa án tích. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự khác theo quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bi cáo có thái độ khai báo thành khẩn, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, tình tiết giảm nhẹ, trên cơ sở đề nghị của Kiểm sát viên và kết quả xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa; sau khi xem xét các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn, bắt bị cáo phải tiếp tục chấp hành tại cơ sở giam giữ trong một thời hạn nhất định mới có đủ điều kiện giáo dục bị cáo và phát huy tác dụng răn đe, đáp ứng yêu cầu phòng ngừa chung.
- Về hình phạt bổ sung:
Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình sự thì “người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”. Tuy nhiên do bị cáo không có nghề nghiệp, không có tài sản riêng. Vì vậy Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
- Về trách nhiệm dân sự:
Căn cứ khoản 1 Điều 48 của Bộ luật hình sự và các điều 584, 585, 589 của Bộ luật Dân sự; cần buộc bị cáo Vũ Văn P phải bồi thường cho bị hại Công ty Cổ phần Tập đoàn V 02 (hai) tấm gang đúc dạng hình chữ U dùng để đậy gốc cây có trị giá là 7.000.000 đồng.
- Về xử lý vật chứng:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu 01 xe mô tô Biển kiểm soát: 15P9-8921 là phương tiện dùng vào việc phạm tội sung công quỹ Nhà nước; tịch thu tiêu hủy 01 cờ lê 17 bằng sắt màu trắng cũ đã qua sử dụng.
- Về án phí:
Bị cáo Vũ Văn P phải nộp 200.000 nghìn đồng án phí hình sự và 350.000 nghìn đồng án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
- Về quyền kháng cáo đối với bản án:
Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt: Vũ Văn P 21 (hai mươi mốt) tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản". Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 27/4/2022.
Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ khoản 1 Điều 48 của Bộ luật Hình sự và các điều 584, 585, 589 của Bộ luật Dân sự. Buộc bị cáo Vũ Văn P phải bồi thường cho Công ty Cổ phần Tập đoàn V 02 (hai) tấm gang đúc dạng hình chữ U dùng để đậy gốc cây có trị giá là 7.000.000 (bảy triệu) đồng.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357 Bộ luật Dân sự tương ứng với thời gian chưa thi hành án.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu 01 xe mô tô Biển kiểm soát: 15P9-8921 sung công quỹ Nhà nước; tịch thu tiêu hủy 01 cờ lê 17 bằng sắt màu trắng cũ đã qua sử dụng. (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 16 8/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng).
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Vũ Văn P phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm và 350.000 (ba trăm năm mươi nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo đối với bản án:
Bị cáo Vũ Văn P được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Bị hại Công ty Cổ phần tập đoàn V được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- VKSND thành phố Hải Phòng;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND quận Hồng Bàng;
- TAND thành phố Hải Phòng;
- Cơ quan điều tra Công an quận Hồng Bàng;
- Chi cục THADS quận Hồng Bàng;
- Cơ quan Thi hành án hình sự quận Hồng Bàng;
- PV 06 Công an thành phố Hải Phòng;
- Sở Tư pháp thành phố Hải Phòng;
- Bị cáo;
- Bị hại;
Lê Văn Mười
- Lưu hồ sơ vụ án. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Lê Văn Mười Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Bị cáo;
- Bị hại;
- Người đại diện hợp pháp của bị hại;
- VKSND thành phố Hải Phòng;
- VKSND quận Hồng Bàng;
- TAND thành phố Hải Phòng;
- Cơ quan điều tra Công an quận Hồng Bàng;
- Chi cục THADS quận Hồng Bàng;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- Cơ quan Thi hành án hình sự quận Hồng Bàng;
- PV 06 Công an thành phố Hải Phòng;
- Sở Tư pháp thành phố Hải Phòng;
- Lưu hồ sơ vụ án.
Lê Văn Mười THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Lê Văn Mười Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Bị cáo;
- Bị hại;
- VKSND thành phố Hải Phòng;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND quận Ngô Quyền;
- TAND thành phố Hải Phòng;
- Cơ quan điều tra Công an quận Ngô Quyền;
- Chi cục THADS quận Ngô Quyền;
- Cơ quan Thi hành án hình sự quận Ngô Quyền;
- PV 06 Công an thành phố Hải Phòng;
- Sở Tư pháp thành phố Hải Phòng;
- Lưu hồ sơ vụ án.
Lê Văn Mười THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Lê Văn Mười Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Bị cáo;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- Bị hại;
- VKSND thành phố Hải Phòng;
- VKSND quận Ngô Quyền;
- TAND thành phố Hải Phòng;
- Cơ quan điều tra Công an quận Ngô Quyền;
- Chi cục THADS quận Ngô Quyền;
- Cơ quan Thi hành án hình sự quận Ngô Quyền;
- PV 06 Công an thành phố Hải Phòng;
- Sở Tư pháp thành phố Hải Phòng;
Lê Văn Mười
- Lưu hồ sơ vụ án. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Lê Văn Mười Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Bị cáo;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- Bị hại;
- VKSND thành phố Hải Phòng;
- VKSND quận Ngô Quyền;
- TAND thành phố Hải Phòng;
- Cơ quan điều tra Công an quận Ngô Quyền;
- Chi cục THADS quận Ngô Quyền;
- Cơ quan Thi hành án hình sự quận Ngô Quyền;
- PV 06 Công an thành phố Hải Phòng;
- Sở Tư pháp thành phố Hải Phòng;
Lê Văn Mười
- Lưu hồ sơ vụ án. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Lê Văn Mười Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Bị cáo;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- Bị hại;
- VKSND thành phố Hải Phòng;
- VKSND quận Ngô Quyền;
- TAND thành phố Hải Phòng;
- Cơ quan điều tra Công an quận Ngô Quyền;
- Chi cục THADS quận Ngô Quyền;
- Cơ quan Thi hành án hình sự quận Ngô Quyền;
- PV 06 Công an thành phố Hải Phòng;
- Sở Tư pháp thành phố Hải Phòng;
Lê Văn Mười
- Lưu hồ sơ vụ án. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Lê Văn Mười
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Bị hại; - VKSND thành phố Hải Phòng; - VKSND quận Ngô Quyền; - TAND thành phố Hải Phòng; - Cơ quan điều tra Công an quận Ngô Quyền; - Chi cục THADS quận Ngô Quyền; - Cơ quan Thi hành án hình sự quận Ngô Quyền; - PV 27 Công an thành phố Hải Phòng; - Sở Tư pháp thành phố Hải Phòng; - Lưu hồ sơ vụ án. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Văn Mười THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Văn Mười |