vanban.org

Bản án 52/2025/LĐ-ST — Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Hồng Đ về việc: “Tranh chấp yêu cầu vô hiệu hợp đồng lao động và điều chỉnh tên trên sổ bảo hiểm xã hội” với Công ty TNHH S nay là Công ty TNHH C (Long An).

1. Vô hiệu hợp đồng lao động giữa bà Lê Thị Hồng Đ (do bà Huỳnh Thị Luyến E là người trực tiếp lao động) với Công ty TNHH S từ tháng 6 năm 2011 đến tháng 6 năm 2011. 2. Điều chỉnh tên Lê Thị Hồng Đ trên sổ bảo hiểm số 8010020085 trong khoảng thời gian từ tháng 6 năm 2011 đến hết tháng 6 năm 2011 thà… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu — án lao động — "vô hiệu hợp đồng lao động"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Hồng Đ về việc: “Tranh chấp yêu cầu vô hiệu hợp đồng lao động và điều chỉnh tên trên sổ bảo hiểm xã hội” với Công ty TNHH S nay là Công ty TNHH C (Long An).
  • Căn cứ chính? Điều 30 Bộ luật Lao động; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 13 Bộ luật Lao động
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐỨC HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH LONG AN
Bản án số: 52/2025/LĐ-ST
Ngày: 31 – 3 – 2025
V/v “Vô hiệu hợp đồng lao động
và điều chỉnh tên trên sổ bảo hiểm xã hội”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Văn Công Thức

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Chí Lin;

2. Bà Nguyễn Thị Rạt.

Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Như Ý – Thư ký Toà án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.

Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Bà Đinh Thị Mai – Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án lao động thụ lý số 198/2024/TLST – LĐ ngày 31 tháng 10 năm 2024 về việc “Tranh chấp yêu cầu vô hiệu hợp đồng lao động và điều chỉnh tên trên sổ bảo hiểm xã hội ” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 23/2025/QĐXXST-LĐ ngày 03 tháng 3 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 21/2025/QĐ-HPT ngày 10/3/2025, giữa:

1. Nguyên đơn: Bà Lê Thị Hồng Đ, sinh năm 1989 (xin vắng mặt); Địa chỉ: Ấp A, xã A, huyện Đ, tỉnh Long An.

2. Bị đơn: Công ty TNHH S (nay là Công ty Trách nhiệm hữu hạn C);

Địa chỉ trụ sở: Ấp N, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An. Người đại diện theo pháp luật: Ông Chu Yuan H - Chức vụ Chủ tịch Hội đồng quản trị (xin vắng mặt).

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

3.1. Bảo hiểm xã hội tỉnh L; Địa chỉ trụ sở: Số H T, phường D, thành phố T, tỉnh Long An. Người đại diện theo ủy quyền: Ông Bùi Quang T – Phó Giám đốc (xin vắng mặt).

3.2. Bà Huỳnh Thị Luyến E, sinh năm 1994; địa chỉ: Ấp I, xã P, huyện P, tỉnh Bạc Liêu (xin vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 20 tháng 8 năm 2024 và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Lê Thị Hồng Đ trình bày:

Do không am hiểu quy định pháp luật nên vào năm 2011 bà có cho bà Huỳnh Thị Luyến E mượn giấy chứng minh nhân dân do bà đứng tên để xin việc làm tại Công ty TNHH S nay là nay là Công ty Trách nhiệm hữu hạn C (Long An); địa chỉ trụ sở: Ấp N, xã Đ, huyện Đ, Long An. Bà Luyến E có tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc theo Sổ bảo hiểm xã hội mã số 8011020095 trong khoảng thời gian từ tháng 6 năm 2011 đến hết tháng 6 năm 2011, thì bà Luyến E nghỉ việc.

Trong khi đó, từ năm 2008 đến tháng 3 năm 2020, bà Đ xin vào làm việc tại nhiều công ty khác nhau. Cụ thể: năm 2008 bà Đ xin vào làm việc tại Công ty TNHH H1 và Công ty TNHH M, cùng địa chỉ: Khu công nghiệp L, phường A, thị xã T, Tây Ninh, bà có tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc và được cấp Sổ bảo hiểm xã hội mã số 7208010628, đến tháng 3 năm 2009 thì bà xin nghỉ việc.

Từ tháng 6 đến hết tháng 7 năm 2010, bà Đ xin việc tại Công ty TNHH L1, được cấp số BHXH với mã số 8010020085 mang tên Lê Thị Hồng Đ.

Từ tháng 10 đến hết tháng 11 năm 2010, bà Đ xin vào làm việc tại Công ty TNHH D, được cấp mã số BHXH số 8010040087.

Tháng 02 đến tháng 6 năm 2011, bà Đ xin vào làm việc lại tại Công ty TNHh M, theo mã số BHXH số 7208010628

Từ tháng 9 đến tháng 10 năm 2013, bà Đ xin vào làm việc tại Công ty TNHH S1, và được cấp mã số BHXH mới là 8013030986.

Tháng 5 năm 2014 đến tháng 3 năm 2020, bà Đ xin vào làm việc tại Công ty TNHH MTV Y, khi đó công ty có yêu cầu bà tiến hành gom tất cả các sổ bảo hiểm xã hội như trên để cơ quan BHXH tiến hành gộp sổ thành sổ BHXH số 8010020085 trong đó có sổ BHXH số 8011020095 mà bà Luyến E mượn giấy CMND của bà tham gia làm việc 01 tháng (tháng 6 năm 2011) tại Công ty TNHH S.

Từ tháng 5 năm 2020 đến tháng 5 năm 2024 bà Đ xin vào làm việc tại Công ty TNHH W-T Bàng theo sổ BHXH số 8010020085 mnag tên Lê Thị Hồng Đ.

Do vậy, hiện nay tồn tại 02 sổ bảo hiểm xã hội số 8010020085 và số 7208010628 cùng mang tên Lê Thị Hồng Đ (trùng thời gian tham gia BHXH của tháng 6 năm 2011) nên bà Đ không thể thực hiện việc chốt sổ và lãnh bảo hiểm được. Do đó bà Đ khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết:

1/ Tuyên vô hiệu hợp đồng lao động lập tháng 6 năm 2011 giữa Lê Thị Hồng Đ (người thực hiện lao động là Huỳnh Thị Luyến E) với Công ty TNHH S nay là Công ty Trách nhiệm hữu hạn C (Long An).

2/ Điều chỉnh tên ghi trên sổ bảo hiểm xã hội mã số 8010020085 từ tên Lê Thị Hồng Đ sang tên bà Huỳnh Thị Luyến E tham gia lao động và tham gia bảo hiểm xã hội từ tháng 6/2011 đến hết tháng 06/2011 tại Công ty TNHH S.

Bị đơn người đại diện theo pháp luật của Công ty TNHH C (Long An) vắng mặt nhưng tại văn bản trình bày ý kiến, ông ERNG SOW NGOH người đại diện Ban giám đốc Công ty trình bày: Công ty TNHH C (gọi tắt là Công ty C) làm thủ tục mua lại Công ty TNHH S và chính thức hoạt động vào tháng 9 năm 2012; công ty vẫn kế thừa giấy phép đầu tư, mã số thuế từ Công ty S.

Các vụ việc tranh chấp hợp đồng lao động của người lao động, ký hợp đồng lao động, làm việc với Công ty S giai đoạn trước tháng 9/2012 thì không liên quan đến quyền, trách nhiệm, nghĩa vụ của Công ty Chutex Long An

Công ty Chutex Long An không yêu cầu hay tranh chấp gì liên quan đến người lao động trong giai đoạn trước tháng 9.2012.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Huỳnh Thị Luyến E vắng mặt nhưng tại bản tự khai ngày 15/11/2024, trình bày: Bà xác nhận có mượn giấy chứng minh nhân dân của bà Lê Thị Hồng Đ để xin vào làm việc tại Công ty TNHH S trong từ tháng 6 năm 2011 đến hết tháng 6 năm 2011 và có tham gia bảo hiểm xã hội mã số 8010020085 nhưng thông tin ghi trên hợp đồng lao động là tên Lê Thị Hồng Đ. Bà thống nhất với yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Hồng Đ, không có tranh chấp hay yêu cầu gì trong vụ án này và đề nghị Tòa án giải quyết vụ việc theo qui định pháp luật.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, Bảo hiểm xã hội tỉnh L trình bày: Căn cứ vào hồ sơ, dữ liệu quản lý thu, sổ, thẻ và chính sách BHXH, bảo hiểm y tế, BHTN, bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, Bảo hiểm xã hội tỉnh L xác định Công ty TNHH S, địa chỉ trụ sở: ấp N, xã Đ, Đ, Long An, có tham gia đóng bảo hiểm, bảo hiểm thất nghiệp cho bà Lê Thị Hồng Đ vào tháng 6/2011 trên sổ số bảo hiểm xã hội 8010020085. Qua tra cứu dữ liệu chi trả chính sách BHXH, BHTN tại BHXH tỉnh L đến ngày 11/02/2025, bà Đ chưa giải quyết các chế độ, chính sách về BHXH và chi trả trợ cấp BHTN

BHXH tỉnh Long An không cung cấp được hợp đồng lao động theo đề nghị của Tòa án và đề nghị được vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án.

Quan điểm Kiểm sát viên tại phiên tòa:

Về tố tụng: Việc thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền. Về trình tự thủ tục đảm bảo theo quy định của tố tụng trong việc thu thập chứng cứ, xác minh. Toà án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử thực hiện đúng chức năng nhiệm vụ và quyền hạn. Các bên đương sự thực hiện đúng tố tụng về quyền và nghĩa vụ.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 49 của Luật lao động số 45/2019/QH14 ngày 20/11/2019 của Quốc hội Khóa 14, chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị Hồng Đ về việc vô hiệu hợp đồng lao động giữa bà Lê Thị Hồng Đ (do bà Huỳnh Thị Luyến E thực hiện) với Công ty TNHH S nay là Công ty C; địa chỉ: Ấp N, xã Đ, Đ, Long An, thời gian lao động từ tháng 6/2011 đến tháng 6/2011; Điều chỉnh tên trên sổ bảo hiểm xã hội số 8010020085 từ tên Lê Thị Hồng Đ sang tên Huỳnh Thị Luyến E, thời gian lao động từ tháng 6 năm 2011 đến tháng 6 năm 2011 tại Công ty TNHH S.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

. Về thủ tục tố tụng:

. Về thẩm quyền và quan hệ pháp luật cần giải quyết: Xét yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Hồng Đ như trên, Hội đồng xét xử thấy quan hệ pháp luật cần giải quyết trong vụ án là: “Tranh chấp yêu cầu vô hiệu hợp đồng lao động và Điều chỉnh tên trên sổ bảo hiểm xã hội” vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại Điều 32 Bộ luật Tố tụng dân sự. Công ty TNHH C (Long An) tiền thân là Công ty TNHH S có trụ sở tại ấp N, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An nên Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

. Về tư cách tố tụng, thời hiệu và phạm vi giải quyết.

Bà Lê Thị Hồng Đ là người khởi kiện được xác định là nguyên đơn, Công ty TNHH S nay là Công ty TNHH C (Long An) là người bị kiện được xác định là bị đơn. Bà Huỳnh Thị Luyến E và Bảo hiểm xã hội tỉnh L được xác định là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trong vụ án.

Thời hiệu khởi kiện: Bà Lê Thị Hồng Đ khởi kiện Công ty TNHH S nay là Công ty TNHH C (Long An) vì cho rằng quyền lợi bị xâm phạm do hợp đồng lao động giả tạo nên bà Lê Thị Hồng Đ có quyền khởi kiện theo quy định tại Điều 190 Bộ Luật lao động năm 2019, Điều 184 và Điều 186 Bộ luật Tố tụng dân sự.

. Chứng cứ, nghĩa vụ chứng minh và luật áp dụng.

Quá trình tố tụng: Bà Lê Thị Hồng Đ có nộp chứng cứ là: hai sổ BHXH mã số 8010020085 và 7208010628 và quá trình tham gia bảo hiệm xã hội.

Tòa án xét xử trên cơ sở chứng cứ do người khởi kiện cung cấp và chứng cứ do Tòa án thu thập khi thấy cần thiết theo quy định tại khoản 4 Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự. Về chứng cứ chứng minh cho lời trình bày các đương sự Tòa án đã thu thập đầy đủ.

Bộ luật Lao động để áp dụng giải quyết tranh chấp: Các bên tranh chấp hợp đồng lao động trong thời gian năm 2011 nên Bộ luật Lao động được áp dụng để giải quyết tranh chấp là Bộ luật Lao động năm 1994 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2002, 2006, 2007). Thời điểm giải quyết tranh chấp thì Bộ luật Lao động năm 2019 và Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đang có hiệu lực pháp luật nên được áp dụng.

Tòa án lập biên bản về kiểm tra việc giao nộp tiếp cận, công khai chứng cứ và đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung và xét xử vụ án trong phạm vi đương sự yêu cầu.

.Về nội dung:

. Về hợp đồng lao động: Bà Lê Thị Hồng Đ khởi kiện yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động được giao kết giữa bà Lê Thị Hồng Đ (nhưng do bà Huỳnh Thị Luyến E là người trực tiếp lao động) với Công ty TNHH S là vô hiệu. Tuy nhiên, bà Lê Thị Hồng Đ, bà Huỳnh Thị Luyến E không cung cấp được hợp đồng lao động do bị thất lạc. Căn cứ vào văn bản của Bảo hiểm xã hội tỉnh L xác định Công ty TNHH S có tham gia đóng bảo hiểm cho bà Lê Thị Hồng Đ từ tháng 6 năm 2011 đến tháng 6 năm 2011 theo sổ bảo hiểm số 8010020085 nên có căn cứ xác định giữa bà Lê Thị Hồng Đ với Công ty TNHH S có giao kết hợp đồng lao động, thời hạn hợp đồng từ tháng 06 năm 2011 đến tháng 6 năm 2011 (một tháng).

. Xét thấy, bà Lê Thị Hồng Đ có cho bà Huỳnh Thị Luyến E mượn chứng minh nhân dân mang tên Lê Thị Hồng Đ để giao kết hợp đồng lao động và trực tiếp tham gia lao động, đóng bảo hiểm xã hội từ tháng 6 năm 2011 đến tháng 6 năm 2011 tại Công ty TNHH S theo sổ BHXH số 8010020085. Trong khi đó bà Lê Thị Hồng Đ cũng trực tiếp tham gia lao động tại Công ty TNHH M và tham gia bảo hiểm với sổ bảo hiểm xã hội số 720801062 từ tháng 02 năm 2011 đến tháng 6 năm 2011.

Như vậy có căn cứ xác định trong khoảng thời gian từ tháng 6 năm 2011 thì người mang tên Lê Thị Hồng Đ cùng lúc tham gia bảo hiểm xã hội tại hai doanh nghiệp là Công ty TNHH S và Công ty TNHH M.

Do đó, việc bà Huỳnh Thị Luyến E tham gia trực tiếp lao động với Công ty TNHH S nhưng hợp đồng lao động ghi tên Lê Thị Hồng Đ là vi phạm quy định tại khoản 1, khoản 4 Điều 30 Bộ luật Lao động năm 1994 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2002, 2006, 2007), vi phạm nguyên tắc “trung thực” theo quy định tại khoản 1 Điều 15 của Bộ Luật Lao động, vi phạm các hành vi bị cấm như gian lận, giả mạo hồ sơ trong việc thực hiện BHXH, BHTN theo quy định tại khoản 4 Điều 17 của Luật BHXH số 58/2014/QH13 ngày 20 tháng 11 năm 2014 nên có cơ sở xác định hợp đồng lao động giữa bà Lê Thị Hồng Đ với Công ty TNHH S là không có hiệu lực.

Từ các nhận định nêu trên, xét yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Hồng Đ là có căn cứ nên được chấp nhận.

. Về hậu quả của hợp đồng lao động bị vô hiệu: Do hợp đồng lao động bị vô hiệu nên sẽ điều chỉnh tên Lê Thị Hồng Đ trên Sổ bảo hiểm xã hội số 8010020085 trong giai đoạn từ tháng 6 năm 2011 đến hết tháng 6 năm 2011 tại Công ty TNHH S thành tên Huỳnh Thị Luyến E.

. Bà Huỳnh Thị Luyến E, Công ty TNHH S nay là Công ty TNHH C (Long An) không có tranh chấp gì trong vụ án nên không đề cập xem xét.

. Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa tham gia phiên tòa là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử ghi nhận.

.Về án phí: Ghi nhận ý kiến của bà Lê Thị Hồng Đ: tự nguyện chịu án phí lao động sơ thẩm đồng sung ngân sách nhà nước.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 5, Điều 32, Điều 35, Điều 39, Điều 68, Điều 184, Điều 186, Điều 91, Điều 93, Điều 97, Điều 147, Điều 195, Điều 196, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ khoản 1, khoản 4, Điều 30 Bộ luật Lao động năm 1994 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2002, 2006, 2007);

Căn cứ Điều 13, khoản 1 Điều 15; Điều 18, Điều 21, Điều 49, Điều 50, Điều 51 và Điều 190 Bộ Luật Lao động năm 2019;

Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Hồng Đ về việc: “Tranh chấp yêu cầu vô hiệu hợp đồng lao động và điều chỉnh tên trên sổ bảo hiểm xã hội” với Công ty TNHH S nay là Công ty TNHH C (Long An).

1.1. Vô hiệu hợp đồng lao động giữa bà Lê Thị Hồng Đ (do bà Huỳnh Thị Luyến E là người trực tiếp lao động) với Công ty TNHH S từ tháng 6 năm 2011 đến tháng 6 năm 2011.

1.2. Điều chỉnh tên Lê Thị Hồng Đ trên sổ bảo hiểm số 8010020085 trong khoảng thời gian từ tháng 6 năm 2011 đến hết tháng 6 năm 2011 thành tên Huỳnh Thị Luyến E.

Bà Lê Thị Hồng Đ và bà Huỳnh Thị Luyến E được quyền liên hệ cơ quan bảo hiểm xã hội tỉnh L để điều chỉnh tên trên sổ bảo hiểm xã hội số 8010020085 từ tên Lê Thị Hồng Đ sang tên Huỳnh Thị Luyến E.

2. Về án phí lao động sơ thẩm: Bà Lê Thị Hồng Đ tự nguyện chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí lao động sơ thẩm sung vào ngân sách nhà nước, nhưng được chuyển từ tiền tiền tạm ứng án phí mà bà Lê Thị Hồng Đ đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 6170 ngày 25/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Hòa, tỉnh Long An, sang án phí để thi hành.

3. Án xử sơ thẩm, tuyên án công khai, nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày được Tòa án tống đạt hoặc niêm yết bản án theo quy định pháp luật tố tụng.

4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ