vanban.org

Bản án 52/2025/HSST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố các bị cáo H, A phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”;

Điểm b, đ khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015 đối với các bị cáo H, A; Bị cáo H 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tam giam bị cáo ngày 28/10/2024. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "nguyen thanh hoai - phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (điều 255 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo H, A phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”;
  • Căn cứ chính? Điều 255 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHA DA
THÀNH PHỐ CAM RANH
TỈNH KHÁNH HOÀ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 52/2025/HSST
Ngày: 05/6/2025

NHA DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHA DA THÀNH PHỐ CAM RANH, TỈNH KHÁNH HÒA

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Bảy Nhuận

- Hội thẩm nhA dA:

Ông Phan Văn Hoạt

Ông Lê XuA Hoàng

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Trần Hữu XuA Quỳnh – Thư ký Tòa án nhA dA thành phố Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhA dA thành phố Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Nhật Hoàng TA - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhA dA thành phố Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 59/2024/HSST ngày 13/5/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 53/2025/QĐXXST-HS ngày 21/5/2025, Thông báo về việc thay đổi thời gian mở phiên tòa số 1032/TB-TA ngày 02/6/2025 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: H (tên gọi khác: Thẹo), sinh năm 1995 tại Khánh Hòa; giới tính: Nam; nơi cư trú: Tổ dA phố Đ, phường C, thành phố R, tỉnh Khánh Hòa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 07/12; quốc tịch: Việt Nam; dA tộc: Kinh; tôn giáo: Không; cha: Không rõ và mẹ: Nguyễn Thị Thu V; có 01 con sinh năm 2020.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/10/2024. Có mặt.

2. Họ và tên: A, sinh năm 1996 tại Ninh Thuận, giới tính: Nữ; nơi thường trú: Thôn B, xã T, huyện N, tỉnh Ninh Thuận; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 09/12; quốc tịch: Việt Nam; dA tộc: Kinh; tôn giáo: Không; cha: Nguyễn C và mẹ: Trần Thị K; có 01 con sinh năm 2018.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/10/2024. Có mặt.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Ông Nguyễn Thành H, sinh năm 1987; địa chỉ: Tổ dA phố L, phường R, thành phố Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt tại phiên tòa.

2. Bà Nguyễn Thị Thu V, sinh năm 1964; địa chỉ: Tổ dA phố B, phường C, thành phố Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt tại phiên tòa.

3. Ông Trần Văn K, sinh năm 1965; địa chỉ: đường 1C, phường V, thành phố B, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt tại phiên tòa.

* Người làm chứng:

1. Ông Trương Văn K, sinh năm 1972; địa chỉ: Tổ dA phố T, phường C, thành phố Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt tại phiên tòa.

2. Bà Võ Thị Minh H, sinh năm 1978; địa chỉ: Tổ dA phố T, phường T, thành phố Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

H, A là người nghiện ma túy. A thuê phòng trọ số 3 thuộc dãy nhà trọ của bà Võ Thị Minh H ở tổ dA phố L, phường Cam Lộc, thành phố Cam Ranh để ở.

Khoảng 07 giờ 45 phút ngày 28/10/2024, H liện lạc qua ứng dụng messenger rủ A sử dụng ma túy. A đồng ý và nói H đến phòng trọ của mình để sử dụng ma túy. H điều khiển xe mô tô đi từ nhà của mình đến phòng trọ của A. Khi đến phòng trọ của A thì H ngồi chơi một lúc rồi điều khiến xe mô tô đến khu vực bến cá thuộc phường Cam Lợi, thành phố Cam Ranh mua 300.000 đồng ma túy của người tên Đen (chưa rõ lai lịch) để cùng A sử dụng (gồm 08 đoạn ống hút nhựa bên trong có chứa ma túy đá).

Sau đó, H đưa ma túy đến phòng trọ của A rồi lấy 01 đoạn ống hút nhựa bên trong có chứa ma túy đá cùng A sử dụng ma túy, còn 07 đoạn còn lại Hoài nói với A để sử dụng tiếp. Khi A và Hoài đang sử dụng ma túy thì có Nguyễn Thành Hưng (là người đang điều trị nghiện dạng chất thuốc phiện bằng chất Methadone tại Trung tâm Y tế thành phố Cam Ranh) đến. H rủ H cùng sử dụng ma túy. H, A đồng ý. Khi H, A, Hg đang cùng nhau sử dụng ma túy thì bị phát hiện, bắt quả tang.

Thu giữ: 01 chai nhựa có nắp đậy màu trắng được đục hai lỗ: Một lỗ gắn đoạn ống hút nhựa màu xanh-trắng, lỗ còn lại gắn đoạn ống thủy tinh có một đầu hình cầu, bên trong phần đầu hình cầu của ống thủy tinh có chứa chất tinh thể nghi là ma túy (niêm phong ký hiệu A); 07 đoạn ống nhựa bên trong túi quần trước bên phải của H, có kích thước khác nhau, được hàn kín hai đầu và đều chứa tinh thể rắn màu trắng (niêm phong ký hiệu B) và một số đồ vật khác.

Tại Kết luận giám định số 620/2024/KL-KTHS ngày 04/11/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Khánh Hòa kết luận: Tinh thể màu trắng trong mẫu ký hiệu A, B gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine; mẫu A có khối lượng 0,0788g; mẫu B có khối lượng 1,3844g.

Tại bản cáo trạng số 42/CT-VKSCR-HS ngày 24/3/2025, Viện kiểm sát nhA dA thành phố Cam Ranh truy tố các bị cáo H, A về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b, đ khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhA dA thành phố Cam Ranh đã giữ nguyên kết luận truy tố đối với các bị cáo; đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử như sau:

Áp dụng điểm b, đ khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo H, A, áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình đối với bị cáo A;

Về mức hình phạt, đề nghị xử phạt các bị cáo như sau:

- Bị cáo H: Từ 07 năm 06 tháng đến 07 năm 09 tháng tù;

- Bị cáo A: Từ 07 năm 03 tháng đến 07 năm 06 tháng tù.

Về vật chứng vụ án: Đề nghị xử lý theo quy định.

Các bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội có diễn biến như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhA dA thành phố Cam Ranh đã nêu và cho rằng việc truy tố các bị cáo là đúng.

Tại lời nói sau cùng: Các bị cáo đều mong muốn Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt của các bị cáo để các bị cáo sớm về với gia đình, chăm sóc con cái.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng:

Tại phiên tòa, vắng mặt tất cả người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng tuy nhiên việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt những người này.

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhA dA thành phố Cam Ranh, Kiểm sát viên trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, những người người tham gia tố tụng đều không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, quyết định, hành vi tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện đều hợp pháp.

Về trách nhiệm hình sự:

Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận tội của các bị cáo là phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án, Kết luận giám định đã được thẩm tra tại phiên tòa nên có đủ cơ sở xác định:

Khoảng 09 giờ 40 phút ngày 28/10/2024, tại phòng trọ số 3 của A thuộc dãy nhà trọ của bà Võ Thị Minh Hiếu ở tổ dA phố Lộc An, phường Cam Lộc, thành phố Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa; H, A đã có hành vi tổ chức cho chính mình và Nguyễn Thành Hưng (là người đang điều trị nghiện dạng thuốc phiện bằng chất Methadone) sử dụng trái phép chất ma túy. Thu giữ 1,4632g ma túy lại Methamphetamine. Trong đó, Hoài là người rủ A và Hưng sử dụng ma túy, mua ma túy cho cả nhóm sử dụng; A là người sử dụng phòng trọ của mình và cung cấp dụng cụ sử dụng ma túy phục vụ cho việc cả nhóm sử dụng ma túy.

Như vậy, hành vi của các bị cáo đã phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b, đ khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự.

Cáo trạng của Viện kiểm sát nhA dA thành phố Cam Ranh và kết luận của Kiểm sát viên tại phiên tòa truy tố các bị cáo H, A theo đúng tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Về tính chất, mức độ nguy hiểm và vai trò, nhA thA của từng bị cáo trong vụ án:

Xét thấy: Hành vi phạm tội của các bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, là nguyên nhA làm phát sinh các loại tệ nạn xã hội khác, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn thành phố. Các bị cáo bản thA là người nghiện ma túy, sử dụng trái phép chất ma túy, còn có hành vi chuẩn bị ma túy, dụng cụ, địa điểm sử dụng ma túy cho nhiều người khác sử dụng thể hiện thái độ xem thường pháp luật, nên cần phải xử lý nghiêm nhằm răn đe và phòng ngừa chung.

Đối với bị cáo H là người chủ động rủ A và Hưng cùng sử dụng trái phép chất ma túy, liên lạc mua ma túy, chuẩn bị ma túy cho cả nhóm sử dụng nên có vai trò cao nhất, tuy nhiên bị cáo có nhA thA tốt. Vì vậy, cần thiết phải xử phạt nghiêm khắc đối với bị cáo và cao hơn bị cáo A, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục, cải tạo bị cáo; đồng thời răn đe và phòng ngừa tội phạm.

Đối với bị cáo A, sau khi nghe bị cáo Hoài rủ sử dụng ma túy chung thì bị cáo đã đồng ý sử dụng phòng trọ của mình và cung cấp dụng cụ để cho cả nhóm sử dụng, khi bị cáo Hoài rủ Hưng sử dụng ma túy chung thì bị cáo cũng đồng ý, tuy nhiên bị cáo cũng có nhA thA tốt. Vì vậy, cũng cần phải có một mức án tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để cái tạo bị cáo trở thành công dA có ích cho xã hội.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo H, A không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo H, A đều khai báo thành khẩn, tỏ ra ăn năn hối hận về hành vi phạm tội của mình đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015; bị cáo A có ông nội là thương binh đã có công với cách mạng đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015. Vì vậy, cần xem xét tình tiết này để Hội đồng xét xử giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo khi lượng hình để các bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật mà an tâm, phấn đấu cải tạo tốt.

Ngoài hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, khi bị bắt quả tang, còn thu giữ 07 đoạn ống nhựa trong túi quần của H có khối lượng 1,3844g là ma túy loại Methamphetamine theo Kết luận giám định số 620 ngày 04/11/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Khánh Hòa. Do đó, hành vi tàng trữ số ma túy trên có dấu hiệu của tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Tòa án nhA dA thành phố Cam Ranh đã trả hồ sơ cho Viện kiểm sát nhA dA thành phố Cam Ranh để đề nghị điều tra, xử lý về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Tuy nhiên, theo bản Cáo trạng số 42/CT-VKSCR-HS ngày 24/3/2025 Viện kiểm sát nhA dA thành phố Cam Ranh xác định đối với 1,4632g ma túy loại Methamphetamine đã thu giữ mà nhóm H đang sử dụng chưa kịp sử dụng hết thì bị phát hiện nên không truy cứu trách nhiệm hình sự về tội phạm khác và tại Văn bản số 397/VKS-HS ngày 13/5/2025 Viện kiểm sát nhA dA Thành phố Cam Ranh vẫn giữ nguyên bản Cáo trạng. Do đó, theo quy định về giới hạn xét xử tại Điều 298 của Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử chỉ tiến hành xét xử các bị cáo theo hành vi bị truy tố. Đối với hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, kiến nghị Cơ quan điều tra có thẩm quyền tiếp tục xem xét, xử lý theo quy định.

Đối với hành vi H khai nhận mua ma túy cho cả nhóm sử dụng của đối tượng tên Đen (không rõ lai lịch). Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Cam Ranh chưa làm rõ nhA thA, lai lịch, chưa đủ căn cứ chứng minh nên đề nghị tiếp tục điều tra làm rõ, xử lý theo quy định.

Đối với Nguyễn Thành Hưng có hành vi cùng Hoài và A sử dụng ma túy. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Cam Ranh đã chuyển hồ sơ để xử lý vi phạm hành chính theo quy định là phù hợp.

Về vật chứng vụ án:

Đối với số lượng ma túy còn lại sau giám định gồm có 1,1452g ma túy loại Methamphetamine (đã niêm phong) và các vật dụng gồm 01 đoạn ống nhựa màu trắng - tím, 02 quẹt gas, xét thấy không còn giá trị sử dụng, nên tịch thu, tiêu hủy.

Đối với vật chứng là 01 điện thoại di động hiệu Oppo, màu đỏ (thu giữ của Nguyễn Thanh Hoài); 01 điện thoại di động hiệu Iphone 13 Promax, màu xanh (thu giữ của Nguyễn Thị A) xét thấy đây là công cụ, phương tiện phạm tội nên tịch thu, sung quỹ nhà nước.

Về trách nhiệm dA sự: Không có yêu cầu nên không xét.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố các bị cáo H, A phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”;

Áp dụng:

- Điểm b, đ khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015 đối với các bị cáo H, A;

- Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015 đối với bị cáo A.

2. Xử phạt:

- Bị cáo H 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tam giam bị cáo ngày 28/10/2024.

- Bị cáo A 07 (bảy) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tam giam bị cáo ngày 28/10/2024.

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

3.1 Tịch thu tiêu hủy số vật chứng gồm:

- 01 (một) phong bì được niêm phong, trên phong bì có chữ ký và ghi tên của bà Nguyễn Hoàng Quang Anh, ông Nguyễn Khăc Huy, Nguyễn Hương Thảo, Nguyễn Lê Thành Phương và hình dấu tròn của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Khánh Hòa. Theo Kết luận giám định số 620/2024/KL-KTHS ngày 04/11/2024 của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Khánh Hòa thì mẫu vật bên trong là ma túy loại Methamphetamine còn lại sau giám định, được niêm phong trong phong bì có ký hiệu B, có khối lượng 1,1452g (một phẩy một bốn năm hai gam).

- 01 (một) phong bì được niêm phong, trên phong bì có chữ ký và ghi tên của bà Nguyễn Hoàng Quang Anh, ông Nguyễn Khắc Huy, Nguyễn Hương Thảo, Nguyễn Lê Thành Phương và hình dấu tròn của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Khánh Hòa. Theo Kết luận giám định số 620/2024/KL-KTHS ngày 04/11/2024 của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Khánh Hòa thì mẫu vật bên trong là 01 ống thủy tinh có một đầu hình cầu, được niêm phong trong phong bì có ký hiệu A.

- 01 (một) đoạn ống nhựa màu trắng - tím, có một đầu hàn kín và một đầu hở, bên trong không có chứa gì.

- 01 (một) quẹt gas màu xanh.

- 01 (một) quẹt gas màu xanh - trắng, có một đầu bị vỡ và được gắn với một miếng giấy bạc.

3.2 Sung quỹ nhà nước số vật chứng gồm:

- 01 (một) điện thoại di động OPPO màu đỏ, kiểu máy: GPH1923, gắn sim 1 số: 0376970961, gắn sim 2 số: 0356973959, tình trạng máy đã qua sử dụng, không kiểm tra được chất lượng máy, bị nứt màn hình, phía sau mặt vỏ có vết nứt (thu giữ của Nguyễn Thanh H) (tại thời điểm giao nhận màn hình bị bể, pin bị phồng, số sim không còn hoạt động).

- 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 13 Promax, màu xanh, số Seri K9T9RL6LLC, gắn sim số: 0837322090, tình trạng đã qua sử dụng, không kiểm tra được chất lượng máy (thu giữ của Nguyễn Thị A) (tại thời điểm giao nhận số sim không còn hoạt động).

Số vật chứng nói trên được mô tả tại Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 21/4/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an tỉnh Khánh Hòa và Chi cục Thi hành án dA sự Thành phố Cam Ranh.

4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án:

Các bị cáo H, A mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Quyền kháng cáo: Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ