vanban.org

Bản án 52/2024/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An Tuyên án 26/08/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38

của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Bùi Văn T, 18 (Mười tám) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 17/06/2024. [2] Xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và khoản Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma tuý - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? [1] Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN QUẾ PHONG
TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 52/2024/HS-ST
Ngày 26-8-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẾ PHONG - TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lương Huyền Anh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lang Văn Hải

Ông Lê Văn Lương

- Thư ký phiên tòa: Ông Lang Thanh Như - Thư ký Toà án nhân dân huyện

Quế Phong, tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An

tham gia phiên toà: Ông Quang Văn Dù - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 8 năm 2024, tại Điểm cầu trung tâm: Trụ sở Tòa án nhân

dân huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An và điểm cầu thành phần: Toà án nhân dân thị xã Thái Hoà đưa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 51/2024/TLST-HS ngày 02 tháng 08 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 52/2024/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 08 năm 2024 đối với :

Bị cáo: Bùi Văn T, tên gọi khác: Không; Sinh ngày 17/10/1992 tại huyện

Q, tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: Bản Đ, xã T, huyện Q, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ học vấn: 06/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Bùi Văn T (Đã chết) và bà Bùi Thị T (Đã chết); vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không. Nhân T: Năm 2018, bị Toà án nhân dân huyện Quế Phong xử phạt 12 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo bản án số 60/2018/HSST ngày 11/09/2018, chấp hành xong hình phạt tù ngày 10/06/2019. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/06/2024. Có mặt.

- Người chứng kiến: Anh Bùi Văn C, sinh năm: 1974. Nơi cư trú: Xóm P,

xã M, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung

vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 14 giờ ngày 17/06/2024, bị cáo Bùi Văn T, đi đến khu vực nghĩa

trang thuộc địa phận xóm H, xã M, huyện Q với mục đích tìm mua ma tuý để sử dụng. Đến nơi gặp một người đàn ông không quen biết tự giới thiệu tên T ở xã M, bị cáo T hỏi mua với người này được 01 gói ma tuý được bọc bằng mảnh vỏ bao ni lông màu hồng với giá 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng). Sau khi mua được ma tuý bị cáo cầm gói ma tuý ở tay trái và đi về nhà. Trên đường về thì bị phát hiện, bắt quả tang. Thu giữ của bị cáo T 01 gói chất bột màu trắng nghi là Hê rô in.

Kết luận giám định số: 665/KL-KTHS(Đ2-MT) ngày 16/6/2024 của

Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nghệ An kết luận: Mẫu chất bột màu trắng thu giữ của Bùi Văn T gửi giám định là ma túy, loại Heroine, có khối lượng 0,2 gam (Không phẩy hai gam).

Bản Cáo trạng số 54/CT-VKS-QP ngày 01/8/2024 của Viện kiểm sát nhân

dân huyện Quế Phong đã truy tố Bùi Văn T về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa: Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên Quyết định truy tố

của Bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự để xử phạt bị cáo: Bùi Văn T từ 15 (Mười lăm) tháng tù đến 18 (Mười tám) tháng tù, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đề nghị miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo; Tịch thu, tiêu huỷ 0,1g Hê rô in là vật chứng còn lại của vụ án.

Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, không có ý kiến gì

tranh luận bổ sung. Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã

được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến

hành tố tụng: Điều tra viên, Cơ quan điều tra Công an huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An, Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.

Hành vi phạm tội của bị cáo: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa

hôm nay, bị cáo Bùi Văn T đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp lời khai của người chứng kiến, phù hợp với biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang ngày 17/06/2024, và các chứng cứ tài liệu khác có trong hồ sơ. Như vậy có đủ cơ sở để kết luận:

Vào hồi 15 giờ 15 phút, ngày 17/6/2024, tại khu vực Xóm H, xã M,

huyện Q, bị cáo Bùi Văn T đang có hành vi tàng trữ trái phép chất 0,2 gam Hê rô in với mục đích để sử dụng thì bị tổ công tác Công an xã Hạnh Dịch phát hiện bắt quả tang.

Hành vi mà bị cáo đã thực hiện đã cấu thành tội: Tàng trữ trái phép chất

ma túy. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Như vậy quyết định truy tố của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Quế Phong đối với bị cáo về tội danh và điều khoản trên là có căn cứ đúng pháp luật.

Tính chất, mức độ hậu quả của vụ án: Bị cáo là người có đầy đủ năng

lực trách nhiệm hình sự đã cố ý thực hiện tội phạm nghiêm trọng xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự trị an tại địa phương và là một trong những nguyên nhân gây nên các tệ nạn xã hội và tội phạm. Vì vậy việc cách ly bị cáo ra khỏi cộng đồng xã hội một thời gian nhất định để nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung là cần thiết.

Tình tiết tăng nặng: Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách

nhiệm Hình sự.

Tuy nhiên bị cáo có nhân T xấu về tội tàng trữ trái phép chất ma tuý

nhưng đã được xoá án tích, nên khi lượng hình cần xem xét.

Tình tiết giảm nhẹ: Có 01 tình tiết giảm nhẹ. Bị cáo có thái độ khai

báo thành khẩn, ăn năn hối cải nên Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.

Hình phạt bổ sung: Bị cáo là đối tượng nghiện, không có tài sản ản gì

đáng giá,nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Đối với người đàn ông tên T đã có hành vi bán ma túy cho bị cáo Bùi

Văn T, do không xác định được lai lịch, địa chỉ nên không có căn cứ để điều tra xử lý.

Xử lý vật chứng: Đối với 0,2 gam Hê rô in, đã lấy 0,1g Hê rô in đi

giám định, còn lại 0,1 gam Hê rô in; mảnh vỏ bao ni lông màu hồng và vỏ phong niêm phong vật chứng ban đầu cần tịch thu và tiêu hủy.

Đề nghị của Đại diện viện kiểm sát là phù hợp.

Án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38

của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Bùi Văn T, 18 (Mười tám) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 17/06/2024.

[2] Xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và khoản

2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tuyên tịch thu, tiêu hủy 0,1g (Không phẩy một gam) Heroin là vật chứng

còn lại của vụ án và mảnh vỏ bao ni lông màu hồng và vỏ phong niêm phong vật chứng ban đầu.

Đặc điểm và tình trạng vật chứng như trong biên bản giao nhận ngày

22/08/2024 giữa cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An.

[3] Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị

quyết 326/2016/UBTVQH Bị cáo phải chịu 200.000đ tiền án phí hình sự sơ thẩm.

[4] Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án lên Toà án nhân

dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án kể từ ngày tuyên án./. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND, VKSND tỉnh NA;

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- VKSND huyện Quế Phong;

- Công an huyện Quế Phong;

- UBND xã Tiền Phong;

- Bị cáo, Trại tạm giam;

- Người bào chữa;

- Sở Tư Pháp tỉnh Nghệ An;

Lương Huyền Anh

- Chi cục THADS huyện Quế Phong;

- Lưu: VP, hồ sơ vụ án THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lương Huyền Anh

Cỡ chữ