- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên án về tội “Trộm cắp tài sản”: Tuyên bố Nguyễn Q phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 52/2023/HSST | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Ngày: 7/4/2023. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Hoàng Vương
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nghiêm Thị Xuân Huê.
2. Bà Đàm Thị Hồng Nhung.
- Thư ký phiên tòa:
+ Tại điểm cầu trung tâm: Ông Nguyễn Sơn Hà – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 1.
+ Tại điểm cầu thành phần: Ông Trần Minh Anh – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 1.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 1 tham gia phiên tòa:
+ Tại điểm cầu trung tâm: Ông Ngô Anh Hồng– Kiểm sát viên.
+ Tại điểm cầu thành phần: Ông Nguyễn Nhật Tân – Kiểm sát viên.
Ngày 7 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 45/2023/TLST- HS ngày 9 tháng 3 năm 2023 theo hình thức trực tuyến, gồm 02 điểm cầu: Điểm cầu trung tâm đặt tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 1, điểm cầu thành phần đặt tại Nhà tạm giữ Công an Quận 1. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 236/2023/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 03 năm 2023, đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Q. Tên gọi khác: Không có. Giới tính: Nam, sinh ngày: 22/9/1971. Tại: Thành phố Hồ Chí Minh. Hộ khẩu thường trú: 9.10 lô H1, chung cư Hoàng Diệu, Phường 9, Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh. Nơi ở hiện nay: Không nơi cư trú ổn định. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Phật. Trình độ học vấn: 02/12. Nghề nghiệp: làm bảo vệ. Họ tên - Cha: Nguyễn I (đã chết); họ tên - Mẹ: Nguyễn L (đã chết); Gia đình có 03 người con, bị cáo là con thứ ba trong gia đình. Vợ: Nguyễn R (sinh năm: 1979). Gia đình bị cáo có 01 người con sinh năm 2000.
Nhân thân:
- Ngày 15/10/1993, bị Tòa án nhân dân quận Gò Vấp xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” nhưng cho hưởng án treo (theo Bản án số 115/HSST), đã xóa án Q.
- Ngày 20/6/1994, Tòa án nhân dân quận Tân Bình xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, cộng với 12 tháng tù của bản án số 115/HSST ngày 15/10/1993 do Tòa án nhân dân quận Gò Vấp xét xử. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Q phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 24 tháng tù (theo Bản án số 98/HSST), chấp hành xong ngày 28/3/1996, đã xóa án Q.
- Ngày 28/5/1997, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 03 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” (theo Bản án số 847/HSST), chấp hành xong ngày 29/5/1999, đã xóa án Q.
- Ngày 28/12/2010, Tòa án nhân dân Quận 9 xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản” (theo Bản án số 131/2010/HSST), chấp hành xong ngày 17/01/2012, đã xóa án Q.
- Ngày 28/11/2013, Tòa án nhân dân Quận 9 xử phạt 03 năm tù về tội “Cướp giật tài sản” (theo Bản án số 169/2013/HSST), chấp hành xong ngày 14/02/2016, đã xóa án Q.
Tiền án, tiền sự: Không
Bị cáo bị bắt và tạm giam từ ngày 17/11/2022.
Bị cáo có mặt tại điểm cầu thành phần – Nhà tạm giữ Công an Quận 1.
Bị hại: Chị E, sinh năm: 1991 – (vắng mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Ông A, sinh năm: 1984 – (vắng mặt);
Địa chỉ: M, Phường R, quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người làm chứng:
Ông Nguyễn H, sinh năm: 1979– (vắng mặt);
Địa chỉ: D, Phường A, quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do cần tiền tiêu xài nên Nguyễn Q nảy sinh ý định tìm người có tài sản để sơ hở thì chiếm đoạt. Vào khoảng 10 giờ 30 phút ngày 13/11/2022, Q điều khiển xe mô tô kiểu dáng Wave, màu xanh – đen, biển kiểm soát 59C3-307.68 đến Thảo Cầm Viên Sài Gòn, số 02 đường Nguyễn Bỉnh Khiêm, phường Bến Nghé, Quận 1 gửi xe rồi đi bộ vào trong thì phát hiện tại khu vực chuồng voọc, chị Cao T đang bế con nhỏ xem thú và để 01 điện thoại di động hiệu Iphone XS Max kèm ốp lưng ở trong túi kéo phía sau của xe nôi nên Q tiếp cận, dùng tay mở khóa túi kéo lấy điện thoại di động của chị Thư rồi để trong túi quần phía trước, bên phải Q đang mặc sau đó lấy xe mô tô ra về. Q mang điện thoại vừa chiếm đoạt được đến cửa hàng điện thoại D, số N, Phường 3, quận Gò Vấp, Q bán cho Nguyễn L với giá 1.500.000 đồng nhưng L không có tiền mặt nên giới thiệu Q bán cho Nguyễn P ở cửa hàng Đồ Đồng Y bên cạnh, số P, quận Gò Vấp, P đồng ý mua điện thoại di động và đưa cho Q 1.500.000 đồng. Sau đó, Q điều khiển xe đi đến Công viên Gia Định, Phường 3, quận Gò Vấp thì bị anh Võ Huỳnh A (là Công an phường Bến Nghé) đưa về trụ sở Công an Phường Bến Nghé, Quận 1 làm rõ.
Quá trình điều tra, Nguyễn Q khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên, lời khai của Q phù hợp với lời khai bị hại, người làm chứng, biên bản ghi nhận sự việc, biên bản thực nghiệm điều tra, các biên bản đối chất, nhận dạng và các tài liệu, chứng cứ do Cơ quan điều tra thu thập.
Theo Kết luận định giá tài sản số 316/KL-HĐĐGTS ngày 15/11/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự - Ủy ban nhân dân Quận 1 kết luận:
- Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone XS Max, dung lượng 64 Gb, màu vàng, số Imei: 357270099398412 trị giá 4.500.000 đồng;
- Đối với 01(một) ốp lưng giả da màu nâu trị giá 50.000 đồng.
Tại Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an Quận 1, Nguyễn Q khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội trên, lời khai của Q phù hợp các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Bản cáo trạng số: 57/CT-VKS-Q1 ngày 07/03/2023 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 1 đã truy tố bị cáo Nguyễn Q về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh tụng: Sau khi kiểm tra đầy đủ các chứng cứ buộc tội, gỡ tội và các tình tiết khác của vụ án, bị cáo đã thừa nhận hành vi sai trái do bị cáo gây ra đúng như nội dung bản cáo trạng đã nêu, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ. Như vậy, hành vi phạm tội của bị cáo đã có đủ cơ sở để kết luận bị cáo đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo qui định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Bị cáo có nhân thân rất xấu, từng rất nhiều bị xét xử về hành vi “Trộm cắp tài sản” và về tội “Cướp giật tài sản”. Tuy nhiên, quá trình Điều tra và tại Phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 đề nghị xử phạt bị cáo từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm tù, miễn hình phạt tiền đối với bị cáo.
Xử lý vật chứng thu giữ:
- Đối với 01(một) điện thoại di động hiệu Iphone XS Max, dung lượng 64 Gb, màu vàng, số Imei: 357270099398412; 01(một) ốp lưng giả da màu nâu, đã trả cho chị Cao Nguyễn Anh Thư. Bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường nên đề nghị không xem xét.
- Đối với số tiền 1.500.000 đồng thu giữ được khi bắt giữ bị cáo, là khoản tiền bị cáo khai nhận được của Nguyễn P. Ông P có yêu cầu nhận lại khoản tiền này là có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử hoàn trả lại khoản tiền này cho ông P.
- Đối với 01 xe mô tô biển kiểm soát 59C3-307.68, số khung: RLHJA3925NY413919, số máy: JA39E2832286. Qua xác minh do Nguyễn Q đứng tên đăng ký chủ xe. Đây là phương tiện bị cáo dùng để thực hiện hành vi phạm tội nên tịch thu sung quỹ Nhà nước.
Thu giữ của Nguyễn Q:
- Đối với số tiền 4.300.000 đồng, là tài sản cá nhân của bị cáo, không liên quan đến vụ án nên trả lại cho bị cáo.
- Đối với 01(một) điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy J7 Prime, màu vàng, số Imei1: 353415087531706, số Imei2: 353415087531704 là tài sản cá nhân của bị cáo không liên quan đến vụ án nên trả cho bị cáo.
Hiện tất cả vật chứng đang nhập kho Công an Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Q đã khai nhận hành vi phạm tội như kết luận điều tra và cáo trạng truy tố, bị cáo không có ý kiến tranh tụng gì và nói lời sau cùng bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, Quyết định tố tụng của cơ quan Điều tra Công an Quận 1, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 1, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, các đương sự khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Xét, lời khai của bị cáo tại phiên Tòa là phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan Điều tra và vụ án còn được chứng minh bằng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án như: Các biên bản hoạt động điều tra, biên bản ghi lời khai, biên bản hỏi cung, tờ tự khai, biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận định giá tài sản số 316/KLĐGTS ngày 15/11/2022,… nên có đủ căn cứ để Kết luận: Vào khoảng 10 giờ 30 phút ngày 13/11/2022, tại khu vực chuồng voọc, Thảo Cầm Viên Sài Gòn, số 02 đường Nguyễn Bỉnh Khiêm, phường Bến Nghé, Quận 1, Nguyễn Q có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 điện thoại di động hiệu Iphone XS Max, dung lượng 64 Gb, màu vàng kèm 01 ốp lưng giả da màu nâu, tổng trị giá 4.550.000 đồng, đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận bị cáo Nguyễn Q đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát nhân dân Quận 1 truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, thực hiện với quyết tâm cao. Vì động cơ, mục đích muốn có tiền tiêu xài nhưng lại lười lao động, bị cáo đã cố ý thực hiện tội phạm, bị cáo Q đã có hành vi lén lút chiếm đoạt chiếm đoạt tài sản. Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm hại đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự xã hội, trị an tại địa phương. Về nhân thân, tiền án tiền sự, bị cáo có nhân thân rất xấu, từng nhiều lần bị xét xử về tội “Trộm cắp tài sản” và “Cướp giật tài sản”. Do vậy, nên cần có mức án thật nghiêm khắc để giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung cho xã hội.
. Về tiền án tiền sự: Không.
. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an Quận 1 và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Q thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn nên xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo theo qui định tại điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
. Về hình phạt bổ sung, theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”. Do đó, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Xét tính chất mức độ, hành vi phạm tội của các bị cáo, Hội đồng xét xử miễn hình phạt tiền đối với bị cáo.
. Đối với Nguyễn Văn Q và Nguyễn P qua điều tra chưa đủ cơ sở xác định Q, P biết điện thoại di động Q bán do phạm tội mà có nên Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an Quận 1 không xử lý là có căn cứ chấp nhận.
. Về yêu cầu bồi thường trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng của vụ án:
* Về trách nhiệm bồi thường dân sự:
- Đối với 01(một) điện thoại di động hiệu Iphone XS Max, dung lượng 64 Gb, màu vàng, số Imei: 357270099398412; 01 ốp lưng giả da màu nâu, đã trả cho chị Cao Nguyễn Anh Thư. Bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Đối với yêu cầu xin được nhận lại số 1.500.000 đồng của ông Nguyễn P. Xét, do khi mua điện thoại ông P không biết đây là tài sản do người khác phạm tội mà có. Tại phiên toà bị cáo thừa nhận đây là khoàn tiền ông P, bị cáo chưa kịp tiêu sài nên đồng ý trả lại cho ông P. Do đó, Hội đồng xét xử có cở sở chấp nhận hoàn trả cho ông Nguyễn P số tiền là 1.500.000 đồng là số tiền thu giữ được khi bắt bị cáo.
* Về xử lý vật chứng:
- Đối với 01 xe mô tô biển kiểm soát 59C3-307.68, số khung: RLHJA3925NY413919, số máy: JA39E2832286. Qua xác minh do Nguyễn Q đứng tên đăng ký chủ xe, là phương tiện bị cáo dùng thực hiện hành vi phạm tội nên tịch thu sung quỹ Nhà nước.
Thu giữ của Nguyễn Q:
- Đối với số tiền 4.300.000 (VNĐ) đồng là tài sản cá nhân của bị cáo không liên quan đến vụ án nên trả lại cho bị cáo.
- Đối với 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy J7 Prime, màu vàng, số Imei1: 353415087531706, số Imei2: 353415087531704 là tài sản cá nhân của bị cáo không liên quan đến vụ án nên trả cho bị cáo.
. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định tại Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 và khoản 1 Điều 21 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, các đương sự khác được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên án về tội “Trộm cắp tài sản”: Tuyên bố Nguyễn Q phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Q 02 (hai) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 17/11/2022. Tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án. Thời hạn tạm giam là 45 (bốn mươi lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án ngày 07/4/2023.
Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015;
- Hoàn trả cho Nguyễn P số tiền 1.500.000 đồng là khoản tiền thu giữ của bị cáo khi bắt bị cáo. Theo lệnh nhập kho vật chứng số 47/LNK-ĐTTH ngày 10/02/2023.
- Trả lại cho bị cáo số tiền 4.300.000 (VNĐ) đồng thu giữ của bị cáo. Đây là tài sản cá nhân của bị cáo không liên quan đến vụ án.
- Trả lại cho bị cáo 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy J7 Prime, màu vàng, số Imei1: 353415087531706, số Imei2: 353415087531704 là tài sản cá nhân của bị cáo không liên quan đến vụ án nên trả cho bị cáo.
Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015;
- Tịch thu sung quỹ Nhà nước đối với 01 xe mô tô biển kiểm soát 59C3-307.68, số khung: RLHJA3925NY413919, số máy: JA39E2832286. Qua xác minh do Nguyễn Q đứng tên đăng ký chủ xe, là phương tiện bị cáo dùng thực hiện hành vi phạm tội.
(Theo lệnh nhập kho vật chứng số 47/LNK-ĐTTH ngày 10/02/2023 của Công an Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh).
Áp dụng Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 và khoản 1 Điều 21 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; buộc bị cáo Nguyễn Q phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.
Áp dụng Điều 26 Luật thi hành án dân sự; trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Áp dụng vào Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 bị cáo được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tòa tuyên án. Đối với người tham gia tố tụng vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày được giao bản án hoặc ngày niêm yết bản án.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân TP. HCM; - VKSND TP. HCM; - VKSND Quận 1, TP. HCM; - Chi cục THADS Q.1, TP. HCM; - Công an Quận 1, TP. HCM; - Phòng PC 53; - Sở Tư pháp TP. HCM; - Bị cáo; - Bị hại; - Các đương sư; - Lưu hồ sơ vụ án.(TK Minh Anh). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Minh Hoàng Vương |