vanban.org

Bản án 52/2022/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng Tuyên án 07/04/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Bùi Bình M phạm tội “T chức s dụng trái ph p chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Bùi Bình M 07 (bảy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 22/12/2021. Về x lý v t chứng: Áp dụng Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, trả cho bị cáo Bùi Bình M 01(một) điện thoại di động hiệu Iphone 5, màu xám bạc gắn sim 0911.548.870 (đã được niêm phong không kiểm tra chất lượng bên tron… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Bình M bị truy tố về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy - phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (điều 255 Luật sửa đổi,…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Bùi Bình M phạm tội “T chức s dụng trái ph p chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH LÂM ĐỒNG
Bản án số: 52/2022/HS-ST
Ngày: 07 - 4 - 2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT - TỈNH LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huyền

Các Hội thẩm nhân dân: + Ông Dương Hải Long

+ Ông Đặng Nguyễn Văn Tích.

- Thư ký phiên toà: Ông Trần Thanh Tài - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Lạt - tỉnh Lâm Đồng

tham gia phiên tòa: Ông Đinh Đăng Nghĩa - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 4 năm 2022, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 16/2022/TLST-HS ngày 16 tháng 3 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 63/2022/QĐXXST - HS ngày 25/3/2022 đối với bị cáo:

Họ và tên: Bùi Bình M (còn gọi tên: Bẹo) sinh năm: 1990, tại: Quảng Ngãi; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và cư trú: Tổ A Hố B (nay là KP4), Phường M, Thành phố Đ, Tỉnh Lâm Đồng; trình độ học vấn: 9/12; nghề nghiệp: Thợ sơn nước; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông: Bùi Hữu H (đã chết) và bà: Đỗ Lệ T, sinh năm: 1968; chức vụ, đoàn thể, đảng phái: Không; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt, tạm giam ngày 22/12/2021, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an Thành phố Đà Lạt.

- Người làm chứng: Anh Võ Anh T1, sinh năm: 1994

Địa chỉ: Thôn Q, xã S, huyện L, Tỉnh Lâm Đồng.

- Người chứng kiến: Bà Nguyễn Thị M, sinh năm: 1954

Địa chỉ: Số C đường D, Phường T, Thành phố Đ, Tỉnh Lâm Đồng.

(Bị cáo có mặt; người làm chứng và người chứng kiến đều vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bùi Bình M là đối tượng sử dụng ma túy, quá trình sử dụng ma túy M có quen biết Lê Công Tiến c ng là người sử dụng ma túy. Sáng ngày 12/5/2021, Tiến mua 02 gói ma túy đá rồi mang tới phòng trọ của Bùi Bình M, số 21B, Phù Đổng Thiên Vương, phường 8, thành phố Đà Lạt, mục đích để rủ M cùng sử dụng. Khi tới phòng của M thì Tiến lấy 01 gói ma túy đá ra (01 gói ma túy còn lại Tiến để trong túi áo khoác) b ra giường trong phòng trọ của M rồi rủ M cùng sử dụng ma túy. Lúc này trong phòng trọ của M còn có thêm V nh Tuấn (bạn của M) c ng đang đây. Sau đó, M lấy 01 bình nhựa gắn ống thủy tinh (dụng cụ sử dụng ma túy), dùng kéo cắt gói ma túy của Tiến cho vào trong bình rồi lấy qu t gas khò ma túy để Tiến, M và Tuấn cùng sử dụng. Quá trình sử dụng ma túy thì M có vứt 01 v nylon đựng ma túy vào trong thùng rác, đồng thời n sử dụng ma túy bị v nên M b ra ngoài cửa phòng trọ. Trong khi sử dụng ma túy thì M đi ra ngoài còn T1, T2 n m trong phòng trọ của M tiếp tục sử dụng ma túy, đến khoảng 14 giờ 35 phút cùng ngày M về lại phòng trọ thì có Công an vào kiểm tra, bắt quả tang và thu giữ 01 gói nylon chứa chất tinh thể màu trắng nghi là ma túy trong túi áo khoác da màu đen của Lê Công Tiến cùng các dụng cụ sử dụng ma túy của M (BL: 27-53; 66-94; 103-120).

Tang v t thu gi :

- 01 gói nylon màu trắng trong được hàn kín, kích thước 1,5 x 3cm bên trong chứa chất tinh thể màu trắng nghi là ma túy; 01 chiếc áo da màu đen; 01 chai nhựa hiệu Sting có gắn ống thủy tinh, có đầu tròn bị v ; 01 qu t gas tự chế; 01 kéo kim loại; 01 gói nylon kích thước 1,3x3cm bên trong không đựng gì.

Thu giữ của Lê Công T1: 01 ĐTDĐ Nokia bàn phím bấm gắn sim số 0792.490.950; 01 xe mô tô hiệu rblade biển số 49D1- 071.73; Thu giữ của V nh Tuấn: 01 điện thoại di động hiệu Oppo 92 gắn sim số 0944.312.468.

- Thu giữ của Bùi Bình M: 01 ĐTDĐ hiệu Iphone 5, màu xám bạc gắn sim 0911.548.870.

Kết luận giám định số 487/GĐ-PC09 ngày 18/5/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lâm Đồng xác định: M u tinh thể đựng trong một gói nylon được niêm phong gửi giám định là ma túy, khối lượng 0,1695 gam (không phẩy một sáu chín lăm ), loại Methamphetamine.

Methamphetamine là chất ma túy nằm trong Danh mục II, STT: 323, Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ (BL: 99-102).

- Đối với Lê Công Tiến: Hành vi cung cấp ma túy cho Bùi Bình M và V Anh T2 cùng sử dụng trái phép chất ma túy đã đủ căn cứ cấu thành tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, quy định tại Điều 255 Bộ luật hình sự với vai trò chuẩn bị ma túy để đưa trái phép chất ma túy vào người khác và đã được Tòa án nhân dân thành phố Đà Lạt xét xử theo Bản án số 218/2021/HSST ngày 25/11/2021.

- Đối với Bùi Bình M: Phòng trọ số 21B, Phù Đổng Thiên Vương, Phường 8, Thành phố Đà Lạt là địa điểm do M thuê và quản lý, khi Lê Công Tiến mang ma túy tới rủ M cùng sử dụng thì M đã đồng ý và lấy dụng cụ sử dụng ma túy của M ra để sử dụng. M là người cắt gói ma túy của Tiến cho vào dụng cụ sử dụng ma túy của M và trực tiếp đốt ma túy rồi mời Tuấn cùng sử dụng. Hành vi của M đã đủ căn cứ cấu thành tội “T chức s dụng trái ph p chất ma túy”, quy định tại Điều 255 của Bộ luật hình sự với vai trò chuẩn bị công cụ, phương tiện, địa điểm để đưa trái phép chất ma túy vào người khác.

Tại bản cáo trạng số 69/CT-VKS ngày 16/3/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Lạt truy tố bị cáo Bùi Bình M về tội “T chức s dụng trái ph p chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Bùi Bình M khai nhận, bản thân bị cáo là người sử dụng ma túy. Vào ngày 12/5/2021, sau khi Lê Công T1 tới phòng trọ của M, số 21B, Phù Đổng Thiên Vương, Phường 8, Thành phố Đà Lạt, đưa cho M 01 gói ma túy mục đích để rủ M cùng sử dụng thì M đồng ý nên M có lấy 01 bình nhựa gắn ống thủy tinh (dụng cụ sử dụng ma túy của M), dùng kéo cắt gói ma túy của T1 cho vào trong bình rồi lấy qu t gas khò ma túy để T1, M và T2 cùng sử dụng như cáo trạng truy tố là hoàn toàn chính xác và xin được giảm nh hình phạt.

Sau phần luận tội, đại diện Viện kiểm sát v n giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Bùi Bình M về tội “T chức s dụng trái ph p chất ma túy” và đề nghị áp dụng điểm và áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 và 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự, xử phạt Bùi Bình M từ 07(bảy) đến 07 (bảy năm) 06 (sáu) tháng tù.

Về x lý v t chứng: Trả cho bị cáo 01 điện thoại di động hiệu Iphone 5, màu xám bạc gắn sim 0911.548.870.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ s nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan T1 hành tố tụng, người T1 hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan T1 hành tố tụng, người T1 hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo Bùi Bình M: Vào ngày 12/5/2021, bạn của M là Lê Công T1 tới phòng trọ của M, số 21B, Phù Đổng Thiên Vương, Phường 8, Thành phố Đà Lạt, đưa cho M 01 gói ma túy để rủ M cùng sử dụng. Lúc này trong phòng trọ của M còn có thêm V nh Tuấn (bạn của M). M lấy 01 bình nhựa gắn ống thủy tinh (dụng cụ sử dụng ma túy), dùng kéo cắt gói ma túy của Tiến cho vào trong bình rồi lấy qu t gas khò ma túy để T1, M và T2 cùng sử dụng. Quá trình sử dụng ma túy thì M có vứt 01 v nylon đựng ma túy vào trong thùng rác, đồng thời n sử dụng ma túy bị v nên M b ra ngoài cửa phòng trọ. Trong khi sử dụng ma túy thì M đi ra ngoài còn T1, T2 n m trong phòng trọ của M tiếp tục sử dụng ma túy, đến khoảng 14 giờ 35 phút cùng ngày M về lại phòng trọ thì có Công an vào kiểm tra, bắt quả tang và thu giữ 01 gói nylon chứa chất tinh thể màu trắng là ma túy trong túi áo khoác da màu đen của Lê Công Tiến cùng các dụng cụ sử dụng ma túy. Sau khi lên Công an làm việc, M được tại ngoại thì không còn lại phòng trọ số 21B Phù Đổng ThiênVương, Phường 8 - Đà Lạt, nên Cơ quan điều tra Công an thành phố Đà Lạt ra quyết định truy nã. Đến ngày 22/12/2021, thì M mới biết mình bị truy nã nên đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Tại Kết luận giám định số 487/Gđ-PC09 ngày 18/5/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lâm Đồng kết luận: M u tinh thể đựng trong 01 (một) gói nylon được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng: 0,1695g (không phẩy bốn hai không chín gam), loại Methamphetamine.

Xét thấy, bản thân Bùi Bình M là đối tượng sử dụng ma túy. Bị cáo biết rõ việc tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, nhưng bị cáo v n thực hiện nh m th a mãn cho nhu cầu cá nhân. Hành vi của bị cáo không chỉ vi phạm pháp luật về chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội tại địa phương mà còn là một trong những nguyên nhân góp phần gây ra những tệ nạn xã hội khác. Căn cứ lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa; lời khai của bị cáo, của người làm chứng và người chứng kiến trong quá trình điều tra, phù hợp với tài liệu chứng cứ đã thu thập trong quá trình điều tra vụ án. Có đủ căn cứ kết luận hành vi của Bùi Bình M phạm vào tội “T chức s dụng trái ph p chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật hình sự như cáo trạng số 69/CT-VKSĐL ngày 16/3/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng truy tố và kết luận của Kiểm sát viên tại phiên tòa là hoàn toàn có căn cứ và đúng pháp luật.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo thể hiện sự ăn năn hối lỗi về hành vi phạm tội; có ông bà ngoại được tặng thư ng Huân chương kháng chiến hạng nhất, nên áp dụng điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự là tình tiết giảm nh cho bị cáo là phù hợp.

Trong vụ án này, đối với hành vi phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy của Lê Công T1 và Võ Anh T2 đã được xem xét xét xử tại Bản án số 218/2021/HSST ngày 25/11/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Lạt, nên không đề cập.

Về x lý v t chứng: Cơ quan Điều tra đã thu giữ của Bùi Bình M 01(một) điện thoại di động hiệu Iphone 5, màu xám bạc gắn sim 0911.548.870, xét thấy không liên quan đến việc giải quyết vụ án và thi hành án nên trả lại cho bị cáo là phù hợp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Bùi Bình M phạm tội “T chức s dụng trái ph p chất ma túy”.

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 và 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự;

Xử phạt bị cáo Bùi Bình M 07 (bảy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 22/12/2021.

2. Về x lý v t chứng: Áp dụng Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, trả cho bị cáo Bùi Bình M 01(một) điện thoại di động hiệu Iphone 5, màu xám bạc gắn sim 0911.548.870 (đã được niêm phong không kiểm tra chất lượng bên trong).

(Theo biên bản giao, nh n tang v t ngày 22/3/2022 gi a Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đà Lạt và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Đà Lạt).

3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án;

Buộc bị cáo Bùi Bình M phải chịu 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo được quyền làm đơn kháng cáo để yêu cầu xét xử theo thủ tục phúc thẩm./.

Cỡ chữ