- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tổ chức đánh bạc - phạm tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc (điều 322 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Trung K và bị cáo Đặng Văn S. Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 12/2022/HS-ST ngày 21-02-2022 của Tòa án nhân dân huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 17 Bộ luật Hình sự; Điều 321 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SÓC TRĂNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 52/2022/HS-PT. Ngày 22 - 6 - 2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:
Ông Nguyễn Văn Dũ.
Các Thẩm phán:
Ông Nguyễn Thành Hữu
Bà Tôn Thị Thanh Thúy
- Thư ký phiên tòa: Ông Châu Trần Nhật Nguyên – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa:
Ông Đào Tiến Thắng - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 6 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 31/2022/TLPT-HS ngày 01- 4 - 2022 đối với bị cáo Nguyễn Trung K và bị cáo Đặng Văn S, do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Trung K và bị cáo Đặng Văn S đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 12/2022/HS-ST ngày 21-02-2022 của Tòa án nhân dân huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng.
Các bị cáo có kháng cáo:
1. Nguyễn Trung K, sinh năm 1972; Tại: Huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng. Nơi đăng ký thường trú: Ấp H, xã H, huyện M, tỉnh Sóc Trăng; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa (học vấn): 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1948 (chết) và bà Nguyễn Thị A, sinh năm 1948 (sống); bị cáo có vợ là bà Phạm Thị T, sinh năm 1979 và có một người con sinh năm 2019; anh, em ruột chỉ có mình bị cáo; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. (Có mặt).
2. Đặng Văn S, sinh năm 1977; Tại: huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng. Nơi cư trú: Ấp L, xã G, huyện M, tỉnh Sóc Trăng; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa (học vấn): 7/12; dân tộc: Hoa; giới tính: nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Văn H, sinh năm 1950 và bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1951; bị cáo có vợ là Lê Thị Hồng N, sinh năm 1981 và có một người con sinh năm 2004; anh, em ruột có 06 người, lớn nhất sinh năm 1968, nhỏ nhất sinh năm 1980, bị cáo là con thứ; tiền án: Không; tiền sự: Không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. (Có mặt).
- Luật sư Võ Hoàng A, văn phòng luật sư Huỳnh Ánh T – Đoàn luật sư tỉnh Sóc Trăng bào chữa cho bị cáo Nguyễn Trung K. (Có mặt)
- Ngoài ra trong vụ án còn có các bị cáo Phạm Thị T, Thạch Đ, Đoàn Thị Cẩm T,Thạch Thị T, Huỳnh Văn T, Trần Văn P, Trương Thị P, Mã Thị N, Trần Thanh G, Nguyễn Thị Ngọc H và những người làm chứng. Do kháng cáo của bị cáo Nguyễn Trung K, Đặng Văn S không liên quan đến họ, cho nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án như sau: Vào chiều ngày 26/01/2020 (nhằm Mùng 02 tết Nguyên Đán năm 2020) tại nhà của hai vợ chồng Nguyễn Trung K và Phạm Thị T có tổ chức uống rượu mừng Tết Nguyên đán năm 2020 cùng với: Trần Văn P, Huỳnh Thị P, Mã Thị N, Lý Thành K, Huỳnh Văn T, Thạch Thị T, Đặng Văn S, Đoàn Thị Cẩm T, Nguyễn Thị Ngọc H, Trương Thị P, Trương Thị D, Trần Thanh G và Phạm Bạch L. Đến khoảng hơn 20 giờ 00 cùng ngày, thì Nguyễn Trung K đem bài tây, loại bài 52 lá và chiếu lát cho 09 người gồm: Trần Văn P, Mã Thị N, Đặng Văn S, Trương Thị P, Đoàn Thị Cẩm T, Huỳnh Văn T, Thạch Thị T, Trần Thanh G và Nguyễn Thị Ngọc H cùng chơi đánh bạc dưới hình thức đánh bài binh 06 lá (bài binh ấn độ) ăn thua bằng tiền tại khu vực nhà sau của Nguyễn Trung K và Phạm Thị T để hưởng tiền xâu. Đến khoảng hơn 21 giờ cùng ngày thì có thêm Thạch Đ đến và cùng tham gia đánh bạc với 09 người trên. Các đối tượng đánh bạc dưới hình thức chơi bài binh 06 lá (còn gọi là bài binh ấn độ) được thua bằng tiền Việt Nam.
Hình thức đánh bạc là sử dụng loại bài tây 52 lá, nhưng chỉ sử dụng các lá bài từ bốn lá A (át) đến bốn lá 10 (mười) tổng số là 40 lá bài để chơi, mỗi tụ sẽ được chia 06 lá bài và người chơi sẽ tự sắp xếp phân thành 02 phần (mỗi phần 03 lá) và so điểm từng phần với nhà cái nếu ai lớn điểm hơn thì thắng. Quá trình chơi thì mỗi ván bài được chia làm 06 tụ, trong đó có một tụ là của người làm cái, còn các tụ còn lại là của những người trực tiếp đặt cược (còn gọi là tụ tay em) để ăn thua trực tiếp với nhà cái và các tụ tay em chỉ trực tiếp ăn thua với nhà cái, không trực tiếp ăn thua với nhau. Đồng thời những người khác đứng hoặc ngồi bên ngoài không trực tiếp đặt tụ, cầm bài (còn gọi là những người ké thạnh bên ngoài) tiến hành đặt tiền cược thêm vào những tụ tay em để ăn thua với tụ làm cái. Tỉ lệ tiền đặt cược thắng thua trong quá trình đánh bài nêu trên là 1:1, nghĩa là nếu đặt cược số tiền 100.000 đồng, thì thắng là thắng được 100.000 đồng, còn thua thì cũng thua 100.000 đồng. Trong đó, trung bình mỗi người tham gia đánh bạc sẽ đặt cược từ 50.000 đồng đến 100.000 đồng/01 ván bài, trung bình mỗi ván bài tổng số tiền cược của 05 tụ tay em thấp nhất là 250.000 đồng đến 500.000 đồng/01 ván bài.
Sòng bạc hoạt động đánh bạc liên tục cho đến khoảng 00 giờ 30, ngày 27/01/2020 (không xác định được đã chơi bao nhiêu ván bài) thì bị các đối tượng là đồng bọn của Thạch Đ gồm: Hoàng Viết T, Lê Văn M, Nguyễn Minh K, Đặng Văn D, Lê Văn L và người thanh niên tên T dùng thủ đoạn giả làm Công an vào bắt quả tang sòng bạc để chiếm đoạt tiền tại chiếu bạc và tiền trên người những người có mặt trong sòng bạc tại nhà Nguyễn Trung K được tổng số tiền 69.800.000 đồng rồi tẩu thoát (Hành vi chiếm đoạt tiền này của các các đối tượng trên đã được xét xử xong trong vụ án về Tội cướp tài sản).
Quá trình điều tra đã làm rõ sòng bạc nói trên diễn ra tại nhà của Nguyễn Trung K và Phạm Thị T do Nguyễn Trung K và Phạm Thị T cùng tổ chức, trong đó: Nguyễn Trung K chuẩn bị bài, chiếu lát để tổ chức cho những người đánh bạc tại khu vực nhà sau để tiến hành thu tiền xâu, Phạm Thị T cũng có trực tiếp thu tiền xâu của người làm cái với mức thu sẽ từ 50.000 đồng đến 100.000 đồng cho 10 ván bài người đó làm cái, từ khi bắt đầu chơi đánh bạc đến khi bị các đối tượng giả danh Công an vào cướp thì Nguyễn Trung K khai nhận đã trực tiếp thu tiền sâu khoảng 02 lần, mỗi lần 50.000 đồng.
Hành vi tham gia đánh bạc của Trần Văn P, Mã Thị N, Đặng Văn S, Trương Thị P, Đoàn Thị Cẩm T, Huỳnh Văn T, Thạch Thị T, Thạch Đ, Trần Thanh G và Nguyễn Thị Ngọc H được xác định như sau:
Đối với Thạch Đ: Tham gia đánh bạc lúc khoảng hơn 21 giờ 00 ngày 26/01/2020, khi đến thì Thạch Đ mang theo trên người tổng số tiền là 7.500.000 đồng, mục đích là dùng đánh bạc. Tham gia đánh bạc với hình thức là trực tiếp đặt tụ và ké thạnh, bản thân bị can đã trực tiếp tham gia chơi tổng cộng được khoảng 20 ván bài, kết quả đã thua hết số tiền 7.500.000 đồng.
Đối với Đặng Văn S: Tham gia đánh bạc lúc khoảng hơn 20 giờ 00 ngày 26/01/2020, khi đến thì Đặng Văn S mang theo trên người tổng số tiền là 500.000 đồng, dùng để chơi đánh bạc. Trong lúc đánh bạc mượn tiền của bà Phạm Bạch L số tiền 20.000.000 đồng, trong đó, Đặng Văn S đã lấy ra số tiền 5.000.000 đồng để trực tiếp dưới chiếu bạc dùng tham gia đánh bạc, còn lại số tiền 15.000.000 đồng không dùng đánh bạc. Tham gia đánh bạc với hình thức là làm nhà cái và trực tiếp đặt tụ, tham gia rất nhiều ván bài, không xác định được đã tham gia cụ thể bao nhiêu ván bài. Kết quả thua hết số tiền 4.000.000 đồng.
Đối với Trần Văn P: Tham gia đánh bạc lúc khoảng hơn 20 giờ 00 ngày 26/01/2020, khi đến thì Trần Văn P mang theo trên người tổng số tiền là 8.500.000 đồng, trong đó số tiền 500.000 đồng dùng đánh bạc, còn lại số tiền 8.000.000 đồng không dùng đánh bạc. Tham gia đánh bạc với hình thức là trực tiếp đặt tụ, tham gia chơi đánh bạc được rất nhiều ván bài, không xác định được đã tham gia cụ thể bao nhiêu ván bài, kết quả cuối thua hết số tiền 300.000 đồng.
Đối với Đoàn Thị Cẩm T: Tham gia đánh bạc lúc khoảng 21 giờ 00 ngày 26/01/2020, khi đến thì Đoàn Thị Cẩm T mang theo trên người tổng số tiền là 900.000 đồng, mục đích là dùng số tiền này để chơi đánh bạc. Tham gia đánh bạc với 02 hình thức là trực tiếp đặt tụ và ké thạnh, tham gia chơi tổng cộng được 06 ván bài, kết quả thua hết số tiền là 300.000 đồng.
Đối với Thạch Thị T: tham gia đánh bạc lúc khoảng 20 giờ 00 ngày 26/01/2020, khi đến thì Thạch Thị T mang theo trên người tổng số tiền là 5.700.000 đồng, trong đó: dùng đánh bạc là 700.000 đồng, còn lại số tiền 5.000.000 đồng không dùng đánh bạc. Tham gia đánh bạc với 02 hình thức là trực tiếp đặt tụ và ké thạnh, tham gia chơi được nhiều ván bài, không xác định được đã tham gia cụ thể bao nhiêu ván bài, đang tham gia thì bị các đối tượng vào thực hiện hành vi cướp tài sản nên bỏ vào phòng trốn, bỏ lại số tiền sử dụng đánh bạc tại chiếu bạc, không xác định được ăn thua.
Đối với Huỳnh Văn T: Thì Huỳnh Văn T đến địa điểm đánh bạc và tham gia đánh bạc lúc khoảng 20 giờ 00 ngày 26/01/2020, không mang theo tiền, quá trình tham gia đánh bạc thì Huỳnh Văn T và vợ là Thạch Thị T cùng tham gia thay phiên nhau chơi đặt cược một tụ bài, tiền đặt cược là do Thạch Thị T giữ, quản lý.
Đối với Mã Thị N: Tham gia đánh bạc lúc khoảng hơn 20 giờ 00 ngày 26/01/2020, khi đến thì Mã Thị N mang theo trên người tổng số tiền là hơn 4.100.000 đồng, trong số tiền này Mã Thị N dùng và sẽ dùng đánh bạc là 100.000 đồng, số tiền 4.000.000 đồng còn lại thì Mã Thị N đã sử dụng vào mục đích khác, không dùng đánh bạc. Tham gia đánh bạc với hình thức là ké thạnh, tham gia chơi được 02 ván bài, kết quả có 01 ván thắng và 01 ván thua.
Đối với Trương Thị P: Tham gia đánh bạc lúc khoảng gần 22 giờ 00 ngày 26/01/2020, khi đến đem theo 500.000 đồng dùng đánh bạc, tham gia với hai hình thức ké thạnh và trực tiếp đặt tụ, tham gia chơi khoảng 04 đến 05 ván bài, kết quả thua hết 100.000 đồng.
Đối với Trần Thanh G: Tham gia đánh bạc lúc khoảng hơn 20 giờ 00 ngày 26/01/2020, tham gia đánh bạc với hình thức ké thạnh vào tụ đặt cược của Đặng Văn S, tham gia chơi được nhiều ván bài, không xác định được đã tham gia cụ thể bao nhiêu ván bài.
Đối với bị can Nguyễn Thị Ngọc H: Tham gia đánh bạc lúc khoảng 20 giờ 00 ngày 26/01/2020, tham gia với hai hình thức làm nhà cái và trực tiếp đặt tụ, tham gia chơi được nhiều ván bài, không xác định được đã tham gia cụ thể bao nhiêu ván bài.
Quá trình điều tra cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng xác định trong đêm ngày 26 và rạng sáng ngày 27/01/2020, Nguyễn Trung K và Phạm Thị T tổ chức 10 người khác đánh bạc trái phép cùng một lúc tại nhà của mình để thu tiền xâu gồm các Trần Văn P, Đặng Văn S, Thạch Đ, Thạch Thị T, Huỳnh Văn T, Đoàn Thị Cẩm T, Mã Thị N, Trần Thanh G, Trương Thị P và Nguyễn Thị Ngọc H cùng tham gia đánh bạc trái phép ăn thua bằng tiền với nhau dưới hình thức chơi bài binh ấn độ 06 lá với tổng số tiền dùng đánh bạc là 15.700.000 đồng (trong đó: của bị can Thạch Đ là 7.500.000 đồng, của Đặng Văn S là 5.500.000 đồng, của Đoàn Thị Cẩm T là 900.000 đồng, của Thạch Thị T là 700.000 đồng, của Trần Văn P là 500.000 đồng, của Trương Thị P là 500.000 đồng, của Mã Thị N là 100.000 đồng).
Quá trình điều tra và tại phiên toà, Nguyễn Trung K, Phạm Thị T thừa nhận hành vi tổ chức đánh bạc. Trần Văn P, Đặng Văn S, Thạch Đ, Thạch Thị T, Huỳnh Văn T, Đoàn Thị Cẩm T, Mã Thị N, Trương Thị P, Trần Thanh G và Nguyễn Thị Ngọc H thừa nhận hành vi đánh bạc.
Về vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng không thu giữ.
Đối với Huỳnh Thị P, Lý Thành K, Trương Thị D và Phạm Bạch L có mặt tại nhà Nguyễn Trung K, tuy nhiên không chứng minh được có tham gia đánh bạc nên không đặt ra xem xét là có căn cứ.
Đối với hành vi cướp tài sản của Thạch Đ, Hoàng Viết T, Lê Văn M, Nguyễn Minh K, Đặng Văn D, Lê Văn L đã được xét xử tại Bản án số 08/2021/HSST ngày 25/02/2021 của Tòa án nhân dân huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng nên không đặt lại xem xét.
* Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 12/2022/HS-ST ngày 21-02-2022 của Tòa án nhân dân huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng quyết định:
Tuyên bố:
Bị cáo Nguyễn Trung K và Phạm Thị T phạm tội “Tổ chức đánh bạc”.
Cáo bị cáo Trần Văn P, Đặng Văn S, Thạch Đ, Thạch Thị T, Huỳnh Văn T, Đoàn Thị Cẩm T, Mã Thị N, Trần Thanh G, Trương Thị P và Nguyễn Thị Ngọc H cùng phạm tội: “Đánh bạc”.
1/ Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17; Điều 50, Điều 58; khoản 1 Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Nguyễn Trung K.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Trung K 01 (một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày bị cáo tự nguyện chấp hành án hoặc bắt bị cáo chấp hành án.
Áp dụng điểm b Khoản 1 Điều 47 BLHS năm 2015 buộc bị cáo Nguyễn Trung K nộp số tiền thu lợi bất chính là 100.000 đồng.
2/ Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58; Điều 35; Điều 50 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Phạm Thị T.
Xử phạt bị cáo Phạm Thị T số tiền 50.000.000 đồng.
3/ Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 17, Điều 50, Điều 58, khoản 1 Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Thạch Đ.
Xử phạt bị cáo Thạch Đ 09 (chín) tháng tù. Tổng hợp hình phạt 13 (mười ba) năm tại Bản án hình sự sơ thẩm số 112/2021/HSST ngày 19/5/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương. Buộc bị cáo Thạch Đ chấp hành hình phạt chung là 13 (mười ba) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày bị tạm giữ ngày 22 tháng 02 năm 2020.
4/ Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; h khoản 1 Điều 50, Điều 52; khoản 1 Điều 56, Điều 17, Điều 58, khoản 1 Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Trần Văn P.
Xử phạt bị cáo Trần Văn P 09 (Chín) tháng tù. Tổng hợp hình phạt 09 (chín) tháng tù tại Bản án hình sự sơ thẩm số 27/2021/HSST ngày 02/6/2021 của Tòa án nhân dân huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang. Buộc bị cáo Trần Văn P chấp hành hình phạt chung là 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày bị cáo tự nguyện chấp hành án hoặc bắt bị cáo chấp hành án.
5/ Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 50, Điều 58; khoản 1 Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Đặng Văn S.
Xử phạt bị cáo Đặng Văn S 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày bị cáo tự nguyện chấp hành án hoặc bắt bị cáo chấp hành án.
6/ Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58, Điều 35; Điều 50 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Đoàn Thị Cẩm T.
Xử phạt bị cáo Đoàn Thị Cẩm T số tiền 30.000.000 đồng.
7/ Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58, Điều 35; Điều 50 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Thạch Thị T.
Xử phạt bị cáo Thạch Thị T số tiền 30.000.000 đồng.
8/ Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58; Điều 35; Điều 50 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Huỳnh Văn T.
Xử phạt bị cáo Huỳnh Văn T số tiền 30.000.000 đồng.
9/ Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58, Điều 35; Điều 50 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Mã Thị N.
Xử phạt bị cáo Mã Thị N số tiền 30.000.000 đồng.
10/ Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58, Điều 35; Điều 50 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Trương Thị P .
Xử phạt bị cáo Trương Thị P số tiền 30.000.000 đồng.
11/ Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58, Điều 35; Điều 50 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Nguyễn Thị Ngọc H.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Ngọc H số tiền 30.000.000 đồng.
12/ Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58, Điều 35; Điều 50 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Trần Thanh G.
Xử phạt bị cáo Trần Thanh G số tiền 30.000.000 đồng.
Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên xử lý vật chứng, án phí, quyền kháng cáo theo luật định.
* Đến ngày 28-02-2022, bị cáo Đặng Văn S có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt hoặc cho hưởng án treo, với các lý do: Hiện nay hoàn cảnh gia đình khó khăn, vợ bị bệnh đang điều trị bệnh viện ung bướu tp Hồ Chí Minh, con nhỏ đi học không ai đưa rước, 03 ao tôm trong giai đoạn 30 ngày không ai chăm sóc.
* Ngày 03/3/2022 bị cáo Nguyễn Trung K kháng cáo xin áp dụng hình phạt tiền, giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo. Với các lý do:
- Về nhân thân bị cáo: Về lý lịch mẹ bị cáo tên Nguyễn Thị Ánh 75 tuổi (còn sống, chưa chết) sức khõe không được tốt, bị cáo trực tiếp nuôi dưỡng, bà Ánh có Huân chương kháng chiến hạng III;
- Bị cáo thu lợi bất chính không nhiều, chỉ 100.000 đồng. Vụ việc xãy ra ngày mùng 2 tết theo tập quán bà con đánh bài cho vui, bị cáo không tổ chức quy mô chuyên nghiệp, gia đình bị cáo sống bằng nghề bán tạp hóa;
- Liên quan trong vụ án, bị có công đi trình báo đến cơ quan pháp luật khi bị cướp sòng bạc và tự nguyện khai báo nhiều tình tiết giúp cơ quan chức năng nhanh chóng giải quyết vụ án;
- Nhân thân bị cáo trong sạch, không có tiền án, tiền sự, bị cáo chưa từng đá gà, đánh bạc hay thực hiện hành vi vi phạm pháp luật nào khác, bị cáo chí thú làm ăn và cố gắng chấp hành tốt pháp luật;
- Bị cáo tự nguyện nộp 100.000 đồng số tiền thu lợi bất chính;
* Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Các bị cáo Nguyễn Trung K, Đặng Văn S giữ nguyên nội dung kháng cáo.
- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Trung K đề nghị Hội đồng xét xử xem xét:
+ Về tội danh và hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Trung K thống nhất với bản án sơ thẩm.
+ Đối với mức án cấp sơ thẩm xét xử 01 năm tù là quá nghiêm khắc đối với bị cáo; Bởi lẽ tình tiết: khi sòng bài bị cướp bị cáo đi trình báo và khai ra việc chơi bài, nhưng cơ quan điều tra không lập biên bản về việc tự nguyện khai báo về tổ chức đánh bài ăn tiền; Bị cáo tích cực giúp cơ quan điều tra nhanh chóng tội phạm; khắc phục nộp 100.000 đồng sau khi xét xử sơ thẩm đây là tình tiết giảm nhẹ tại điểm b khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự. Do tính chất vụ án ngày tết chơi cho vui không mang tính chuyên nghiệp. Cho nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Trung K, áp dụng hình phạt chính là phạt tiền; hoặc giảm nhẹ hình phạt hoặc cho hưởng án treo.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm áp dụng Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự đối với bị cáo Đặng Văn S và bị cáo Nguyễn Trung K. Giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo và phạm vi xét xử phúc thẩm: Xét Đơn kháng cáo của các bị cáo Đặng Văn S lập ngày 28-02-2022, bị cáo Nguyễn Trung K lập ngày 03/3/2022 và nộp trực tiếp tại trụ sở Tòa án cấp sơ thẩm ngày 01/03/2022 và ngày 04/3/2022 là đúng quy định về người kháng cáo, thời hạn kháng cáo, hình thức, nội dung theo quy định của các điều 331, 332 và điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét nội dung kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Trung K và bị cáo Đặng Văn S về việc xin được áp dụng hình phạt chính là phạt tiền; hoặc giảm nhẹ hình phạt hoặc cho hưởng án treo.
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Mỹ Xuyên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Xuyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Xét về hành vi phạm tội của các bị cáo như sau: Vào đêm ngày 26 và rạng sáng ngày 27/01/2020, tại ấp Hòa Phuông, xã Hòa Tú 1, huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng, vì muốn hưởng lời từ việc thu tiền xâu của những người đánh bạc nên bị cáo Nguyễn Trung K và vợ là Phạm Thị T đã có hành vi tổ chức đánh bạc bằng cách cung cấp địa điểm, bài và chiếu cho 10 bị cáo gồm: Trần Văn P, Đặng Văn S, Thạch Đ, Thạch Thị T, Huỳnh Văn T, Đoàn Thị Cẩm T, Mã Thị N, Trần Thanh G, Trương Thị P và Nguyễn Thị Ngọc H đánh bạc với nhau bằng hình thức chơi bài binh ấn độ 06 lá được thua bằng tiền trong cùng một lúc với tổng số tiền dùng để đánh bạc là 15.700.000 đồng. Do đó, tòa án cấp sơ thẩm xác định các bị cáo Nguyễn Trung K và vợ là Phạm Thị T phạm “Tội tổ chức đánh bạc”, quy định tại điểm a Khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình sự 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017); và hành vi của các bị cáo Trần Văn P, Đặng Văn S, Thạch Đ, Thạch Thị T, Huỳnh Văn T, Đoàn Thị Cẩm T, Mã Thị N, Trần Thanh G, Trương Thị P và Nguyễn Thị Ngọc H đã đủ yếu tố cấu thành “Tội đánh bạc”, quy định tại Khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) là hoàn toàn có căn cứ đúng quy định của pháp luật.
Xét kháng cáo xin được áp dụng hình phạt chính là phạt tiền; hoặc giảm nhẹ hình phạt hoặc cho hưởng án treo của bị cáo Nguyễn Trung K. Xét thấy, khi lượng hình, Hội đồng xét xử sơ thẩm đã áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Nguyễn Trung K: bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Bên cạnh đó Bị cáo Nguyễn Trung K có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Bị cáo có mẹ ruột là bà Nguyễn Thị A được nhà nước tặng huân chương kháng chiến hạng ba, có bà ngoại là bà Lê Thị N được nhà nước tặng huân chương kháng chiến hạng nhất và có bà ngoại vợ là bà Huỳnh Thị Tươi là người có công với cách mạng nên đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Nguyễn Trung K trình bày các lý do: Về lý lịch mẹ bị cáo tên Nguyễn Thị Ánh 75 tuổi (còn sống, chưa chết) sức khỏe không được tốt, bị cáo trực tiếp nuôi dưỡng, bà A có Huân chương kháng chiến hạng III; Bị cáo thu lợi bất chính không nhiều, chỉ 100.000 đồng. Vụ việc xãy ra ngày mùng 2 tết theo tập quán bà con đánh bài cho vui, bị cáo không tổ chức quy mô chuyên nghiệp, gia đình bị cáo sống bằng nghề bán tạp hóa; Liên quan trong vụ án, bị có công đi trình báo đến cơ quan pháp luật khi bị cướp sòng bạc và tự nguyện khai báo nhiều tình tiết giúp cơ quan chức năng nhanh chóng giải quyết vụ án; Nhân thân bị cáo trong sạch, không có tiền án, tiền sự, bị cáo chưa từng đá gà, đánh bạc hay thực hiện hành vi vi phạm pháp luật nào khác, bị cáo chí thú làm ăn và cố gắng chấp hành tốt pháp luật;
Xét thấy, các lý do bị cáo nêu trên cấp sơ thẩm đã xem xét và áp dụng cho bị cáo. Riêng đối với kháng cáo bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, phạm tội lần đầu. Xét thấy, bị cáo đủ điều kiện để được hưởng án treo theo quy định tại Điều 2, Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP, ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo và Nghị quyết số 01/2022 ngày 15/4/2022, của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết 02 nêu trên. Tuy nhiên, do tình hình tội phạm hiện nay diễn biến phức tạp nhất là các tội danh có liên quan đến đánh bạc hoặc tổ chức đánh bạc. Bị cáo là người đứng ra tổ chức cho các bị cáo khác đánh bạc, cho nên đối với việc xin được áp dụng hình phạt chính là phạt tiền; hoặc cho hưởng án treo. Hội đồng xét xử xét thấy kháng cáo của các bị cáo phần này là không có cơ sở.
Đối với kháng cáo xin được giảm án: Xét thấy, tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay bị cáo cung cấp biên lai thu tiền ngày 03/03/2022 tại Chi cục thi hành án huyện Mỹ Xuyên, bị cáo tự nguyện nộp số tiền thu lợi bất chính 100.000 đồng sau khi án sơ thẩm đã tuyên. Đây là tình tiết giảm nhẹ mới sau khi xét xử sơ thẩm theo Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ bị cáo tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong việc phát hiện tội phạm hoặc trong quá trình giải quyết vụ án, tình tiết này bị cáo là bị hại trong án cướp tài sản, bị cáo đi trình báo. Theo hướng số 212/TANDTC-PC ngày 13/9/2019 của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn: Tình tiết “ Người phạm tội tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong việc phát hiện tội phạm hoặc trong quá trình giải quyết vụ án” được hiểu là trường hợp người phạm tội có những hành vi, lời khai thể hiện sự hợp tác tích cực với cơ quan có trách nhiệm trong việc nhanh chóng làm sáng tỏ vụ án, giúp các cơ quan này phát hiện thêm tội phạm mới hoặc đồng phạm mới”. Như vậy, theo hướng dẫn nêu trên thì hành vi bị cáo đi tố cáo hành vi cướp tài sản (cướp sòng bạc) của bị cáo không thuộc hướng dẫn nêu trên, cho nên không có cơ sở để Hội đồng xét xử chấp nhận tình tiết giảm nhẹ này tại điểm t khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự.
Khi xét xử tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá xem xét toàn diện vụ án, xử bị cáo 01 năm tù là đầu khung hình phạt, thõa đáng. Ngoài ra, bị cáo chỉ được hưởng một tình tiết giảm nhẹ tại điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự, cho nên căn cứ vào khoản 3 điều 54 Bộ luật hình sự, không thể xét xử bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt mà điều luật đã quy định.
Xét kháng cáo của bị cáo Đặng Văn S: Trong vụ án này, bị cáo Sang đã dùng số tiền tham gia đánh bạc tại chiếu bạc là 5.500.000 đồng là nhiều hơn so với các bị cáo khác tham gia tại chiếu bạc. Các tình tiết giảm nhẹ cấp sơ thẩm đã áp dụng: phạm tội lần đầu và thuộc trường họp ít nghiêm trọng, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Ngoài ra bị cáo Đặng Văn S là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Từ đó cấp sơ thẩm xét xử bị cáo 06 tháng tù là có căn cứ.
Tại phiên tòa hôm nay bị cáo Đặng Văn S cũng không nêu ra được những căn cứ nào mới để được giảm nhẹ hình phạt hoặc cho hưởng án treo. Cho nên, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đặng Văn S và giữ nguyên bản án sơ thẩm đối với bị cáo.
Lời bào chữa của vị luật sư cho bị cáo Nguyễn Trung K , Hội đồng xét xử không chấp nhận.
Lời đề nghị của Kiểm sát viên là có căn cứ, Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí hình phúc thẩm: Bị cáo Nguyễn Trung K, bị cáo Đặng Văn S mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng; theo quy định tại khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm b khoản 2 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Các phần khác của quyết định bản án sơ thẩm không kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đối với bị cáo Nguyễn Trung K và bị cáo Đặng Văn S.
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Trung K và bị cáo Đặng Văn S. Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 12/2022/HS-ST ngày 21-02-2022 của Tòa án nhân dân huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng.
Tuyên bố:
Bị cáo Nguyễn Trung K và Phạm Thị T phạm tội “Tổ chức đánh bạc”.
Cáo bị cáo Trần Văn P, Đặng Văn S, Thạch Đ, Thạch Thị T, Huỳnh Văn T, Đoàn Thị Cẩm T, Mã Thị N, Trần Thanh G, Trương Thị P và Nguyễn Thị Ngọc H cùng phạm tội: “Đánh bạc”.
1/ Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Khoản 3 điều 54; Điều 17; Điều 50, Điều 58; khoản 1 Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Nguyễn Trung K.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Trung K 01 ( một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày bị cáo tự nguyện chấp hành án hoặc bắt bị cáo chấp hành án.
2/ Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 50, Điều 58; khoản 1 Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Đặng Văn S.
Xử phạt bị cáo Đặng Văn S 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày bị cáo tự nguyện chấp hành án hoặc bắt bị cáo chấp hành án.
Về án phí hình phúc thẩm: Buộc bị cáo Đặng Văn S phải chịu là 200.000 đồng. Bị cáo Nguyễn Trung K không phải chịu.
Các phần khác của quyết định bản án hình sự sơ thẩm không kháng cáo, kháng nghị, không nêu trong quyết định này, đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Sóc Trăng (01 bản) - TAND huyện MX (02 bản) - VKSND huyện MX (01 bản) - CQĐT - Công an huyện MX (01 bản) - CQTHAHS-Công an huyện MX (01 bản) - Chi cục THADS huyện MX (01 bản) - Bị cáo (02 bản) - Trại tạm giam- Công an tỉnh Sóc Trăng (01 bản) - PKTNV&THA-TAND tỉnh Sóc Trăng (01 bản) - CQTHAHS- Công an tỉnh Sóc Trăng (01 bản) - Sơ Tư pháp; (01 bản); Lưu (04 bản) | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Văn Dũ |