vanban.org

Bản án 52/2019/HSST — Hình sự

TAND huyện Ứng Hòa, TP. Hà Nội Tuyên án 18/09/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Phan Bước G (tên gọi khác: Như Ý) phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Về vật chứng và trách nhiệm dân sự: Xác nhận việc người bị hại (anh Nguyễn Viết Cương) đã nhận lại tài sản bị mất là buồng chuối và không có yêu cầu, đề nghị gì khác. Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: tịch thu tiêu hủy 01 con dao; tịch thu hóa giá sung quĩ Nhà nư… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "TCTS - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phan Bước G (tên gọi khác: Như Ý) phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ỨNG HOÀ – TP. HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 52/2019/HSST
Ngày: 18/9/2019

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ỨNG HOÀ – TP. HÀ NỘI

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Đình Kiến

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đặng Viết Côi và bà Trịnh Thị Tuyên.

- Thƣ ký ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Diệu Tuyết – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Ứng Hòa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ứng Hoà tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Khuyến - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 9 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Ứng Hoà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 57/2019/HSST ngày 30/8/2019 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 56/2019/QĐXXST-HS ngày 04/9/2019 đối với bị cáo: Phan Bƣớc G - sinh năm 1995 (tên gọi khác: Như Ý); Quê quán: phường 4, thành phố S, tỉnh Đ; nơi ĐKHKTT: khóm 3, phường 3, thành phố S, tỉnh Đ; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóá 02/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Thvà bà Nguyễn Thị T; bố nuôi Phan Văn B (đã chết) và mẹ nuôi Phan Thanh N; chưa có vợ con. Tiền án: - Ngày 19/10/2017 bị TAND TP. Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp xử phạt 06 tháng tù về tội “ Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt ngày 16/02/2018;

- Ngày 22/11/2018 bị TAND huyện Ứng Hòa, TP. Hà Nội xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt ngày 17/3/2019. Tiền sự: Ngày 26/6/2017 bị Công an phường Bình Thạnh, huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp xử phạt hành chính 1.500.000đ về hành vi “Trộm cắp tài sản”, chưa chấp hành nộp phạt. Bị cáo đầu thú, bị tạm giam giữ từ ngày 09/7/2019 đến nay. Có mặt theo lệnh trích xuất. * Người bị hại: Anh Nguyễn Viết Cương – sinh năm 1972 (Vắng mặt) Nơi ĐKHKTT: thôn Thành Vật, xã Đồng Tiến, huyện Ứng Hòa, TP. Hà Nội Nơi ở: thôn Vĩnh Thượng, xã Sơn Công, huyện Ứng Hòa, TP. Hà Nội.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 07 giờ ngày 09/7/2019, Phan Bước G điều khiển xe đạp đi từ thị trấn Vân Đình đến khu vực Bặt Chùa, xã Liên Bạt thì nhặt được 01 con dao, rồi tiếp tục đi lên Cầu Lão, xã Trường Thịnh và đi thẳng đến xã Sơn Công, mục đích để trộm cắp tài sản. Khi đến vườn chuối nhà anh Nguyễn Viết Cương thấy nhiều buồng sắp chín, quan sát xung quanh không thấy ai thì xuống vườn chuối dùng dao cắt một buồng mang lên để ngang trên giỏ xe đạp đi bán. Khi G đi được khoảng 100m thì anh Cương nhìn thấy G chở buồng chuối cuống đang chảy nhựa, loại chuối giống vườn nhà mình nên yêu cầu dừng xe rồi quát “Chuối này ở đâu mày có?”, G trả lời “Vừa có một chú cho cháu”, anh Cương lại quát “Chú nào cho mày dẫn tao đến , tao cho mày thêm buồng nữa”. Biết không thể che giấu hành vi của mình nên G chỉ vào vườn chuối nhà anh Cương và nói “Cháu lỡ lấy trộm chuối, chú cho cháu xin”. Anh Cương báo Công an đến giải quyết, quá trình làm việc G xin đầu thú và khai báo toàn bộ sự việc.

Vật chứng thu giữ: - 01 buồng chuối xanh (loại chuối tây) có 07 nải (tồng số 110 quả, nặng 16kg); - 01 con dao mũi nhọn bằng kim loại màu trắng dài 12,5cm, phàn tay cầm có cuốn băng dính màu đen dài 06cm; -01 chiếc xe đạp mini màu xanh trắng, phía trước có giỏ màu ghi, trên khung xe có chữ liên doanh.

Kết luận định giá tài sản số 47 ngày 15/7/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Ứng Hòa xác định: buồng chuối có giá trị 115.000đ (Một trăm mười lăm nghìn đồng).

Bản cáo trạng số 55/CT-VKS ngày 30/8/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ứng Hòa truy tố Phan Bước G về tội: “Trộm cắp tài sản” qui định tại điểm b khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự (Viết tắt: BLHS). Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 của BLHS, xử phạt bị cáo từ 09 đến 12 tháng tù. Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy con dao, tịch thu hóa giá sung quĩ Nhà nước xe đạp thu giữ của bị cáo. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, tỏ ra ăn năn hối hận và xin Hội đồng xét xử (Viết tắt: HĐXX) giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Qúa trình tiến hành tố tụng trong giai đoạn điều tra, truy tố, Điều tra viên và Kiểm sát viên đều thực hiện đúng, đầy đủ các qui định của pháp luật.

Qúa trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đều thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội. Lời khai tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp lời khai của người bị hại, vật chứng thu giữ, kết luận định giá tài sản và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, HĐXX có đủ căn cứ xác định: Lợi dụng sự sơ hở trong việc quản lý tài sản của chủ sở hữu, sáng ngày 09/7/2019, Phan Bước G đã có hành vi lén lút dùng dao cắt trộm 01 buồng chuối tại vườn chuối của anh Nguyễn Viết Cương ở Vĩnh Thượng, Sơn Công, Ứng Hòa, Hà Nội trị giá 115.000đ (Một trăm mười lăm nghìn đồng). Mặc dù giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt không lớn, dưới mức truy cứu trách nhiệm hình sự; tuy nhiên, do bị cáo đã có 01 tiền sự, 02 tiền án đều về tội “Trộm cắp tài sản” và đều chưa được xóa án tích; hành vi vi phạm của các bản án trước đều là yếu tố định tội. Do vậy, hành vi chiếm đoạt tài sản lần này của bị bị cáo cũng là căn cứ định tội nên không xác định bị cáo phạm tội thuộc trường hợp tái phạm. Đối chiếu với qui định của pháp luật hình sự thì hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” qui định tại điểm b khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Bởi vậy, cáo trạng truy tố bị cáo về tội danh và điều khoản pháp luật áp dụng như đã viện dẫn là có căn cứ, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây hoang mang, lo lắng trong nhân dân, làm mất ổn định trật tự địa phương. Bị cáo đã có 01 tiền sự và 02 tiền án đều về hành vi trộm cắp tài sản, đã 02 lần phải chấp hành án phạt tù nhưng không coi đó là bài học để tu dưỡng, rèn luyện bản thân, lao động kiếm tiền bằng chính sức lực của mình; sau mỗi lần chấp hành song án phạt tù về được một thời gian, khi thấy có cơ hội lại tiếp tục phạm tội thể hiện sự bất chấp, coi thường pháp luật. Bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi nhưng cố ý vi phạm; vì vậy, cần phải có hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội, phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng cải tạo, giáo dục riêng và dăn đe, phòng ngừa chung.

Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt HĐXX thấy bị cáo không có tình tiết tăng nặng; quá trình điều tra cũng như tại phiên toà đều thành khẩn khai báo, bị cáo xin đầu thú nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự qui định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của BLHS. Xem xét hoàn cảnh bản thân và gia đình bị cáo thấy: Bị cáo chưa có vợ con, trình độ văn hóa thấp nên nhận thức có phần hạn chế, không có công việc và thu nhập không ổn định, từ nhiều năm nay sống lang thang, giá trị tài sản chiếm đoạt không lớn và đã trả lại cho người bị hại. Vì vậy, có thể xem xét cho bị cáo hưởng mức thấp của khung hình phạt, đồng thời miễn áp dụng hình phạt bổ sung để bị cáo yên tâm cải tạo, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật và chính sách nhân đạo của Đảng và Nhà nước đối với người phạm tội. [6] Về vật chứng và trách nhiệm dân sự: Người bị hại đã nhận lại tài sản bị mất và không có yêu cầu, đề nghị gì khác nên HĐXX không xét. Vật chứng còn lại là con dao cần tịch thu tiêu hủy, chiếc xe đạp là phương tiện phạm tội cần tịch thu hóa giá sung quĩ Nhà nước.

Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo, người bị hại được quyền kháng cáo theo qui định của pháp luật.

V× c¸c lÏ trªn,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Phan Bước G (tên gọi khác: Như Ý) phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

- Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt Phan Bước G 07 (Bẩy) tháng tù, thời điểm chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 09/7/2019; tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án. Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

2. Về vật chứng và trách nhiệm dân sự: Xác nhận việc người bị hại (anh Nguyễn Viết Cương) đã nhận lại tài sản bị mất là buồng chuối và không có yêu cầu, đề nghị gì khác. Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: tịch thu tiêu hủy 01 con dao; tịch thu hóa giá sung quĩ Nhà nước 01 chiếc xe đạp mini (dao và xe đạp có tình trạng, đặc điểm như Biên bản bàn giao vật chứng giữa Công an huyện Ứng Hòa và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ứng Hòa ngày 04/9/2019). 3. Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội qui định về án phí, lệ phí Toà án, bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

4. Căn cứ Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, người bị hại được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết, tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ