vanban.org

Bản án 513/2019/HS-PT — Hình sự

TAND cấp cao tại TP Hồ Chí Minh Tuyên án 10/09/2019 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 10/09/2019 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lý Quốc N, Vạn Thế H, Trần Thị Kim

C, Hồ Thị Bé T, Lâm Thị Trúc L, Nguyễn Thị Tuyết M, Nguyễn Tấn P, Trần Ngọc C; sửa một phần Bản án sơ thẩm. Tuyên bố: Bị cáo Lý Quốc N, Vạn Thế H, Trần Thị Kim C, Hồ Thị Bé T, Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lý Quốc N và đồng phạm - Đánh bạc, tổ chức đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 248 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lý Quốc N, Vạn Thế H, Trần Thị Kim
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 17 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 513/2019/HS-PT
Ngày 10 tháng 9 năm 2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Văn Ý

Các Thẩm phán:

Ông Đặng Văn Thành

Ông Phạm Văn Công

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Hồng Hạnh - Thư ký Tòa án nhân dân

cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí

Minh: Ông Nguyễn Khánh Toàn - Kiểm sát viên, tham gia phiên tòa.

Ngày 10 tháng 9 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành

phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 43/2018/TLPT-HS ngày 07 tháng 01 năm 2019 đối với bị cáo Lý Quốc N, Vạn Thế H, Trần Thị Kim C, Hồ Thị Bé T, Lâm Thị Trúc L, Nguyễn Thị Tuyết M, Nguyễn Tấn P, Trần Ngọc C do có kháng cáo của các bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo.

Bị cáo có kháng cáo:

1. Lý Quốc N, sinh năm 1987; tại Thành phố Hồ Chí Minh.

Nơi cư trú: 80/4/73 đường T, Phường 14, Quận 6, Thành phố H; nghề

nghiệp: Kinh doanh; trình độ học vấn: 0/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lý Thường T, sinh năm 1959 và bà Bạch Thị Kiều C, sinh năm 1960; bị cáo có vợ là Mai Thị N, sinh năm 1990 và 02 con, lớn sinh năm 2017 nhỏ sinh năm 2019; tiền án, tiền sự: Không,

Bị cáo bị tạm giam từ ngày 23/11/2017 đến ngày 12/02/2018 Viện kiểm sát

nhân dân thành phố Hồ Chí Minh ra quyết định thay thế biện pháp ngăn chặn và lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt).

2. Vạn Thế H, sinh năm 1979; tại Thành phố Hồ Chí Minh.

Nơi cư trú: D3/4C Ấp 4, xã L, huyện B, Thành phố H; nghề nghiệp: Nhân

viên quản lý; trình độ học vấn: 6/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vạn Thẩm P (chết) và bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1952; bị cáo có vợ là Trương Thị H, sinh năm 1983; bị cáo có 02 con, lớn sinh năm 2002 và con nhỏ sinh năm 2011; tiền án, tiền sự: Không,

Bị cáo bị tạm giam từ ngày 21/11/2017 đến ngày 12/02/2018 Viện kiểm sát

nhân dân thành phố Hồ Chí Minh ra quyết định thay thế biện pháp ngăn chặn và lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt).

3. Trần Thị Kim C, sinh năm 1994; tại tỉnh Vĩnh Long.

Nơi cư trú: Ấp A, xã T, huyện B (nay là B), tỉnh V; chỗ ở: 113 đường N,

phường T, quận T, Thành phố H; nghề nghiệp: Nhân viên thu ngân; trình độ học vấn: 12/12; giới tính: Nữ; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Trần Văn D, sinh năm 1971 và bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1972; tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo bị tạm giam từ ngày 21/11/2017 đến ngày 29/11/2017 Cơ quan Cảnh sát

điều tra Công an thành phố Hồ Chí Minh ra quyết định thay thế biện pháp ngăn chặn và lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt).

4. Hồ Thị Bé T, sinh năm 1995; tại tỉnh Hậu Giang.

Nơi cư trú: Ấp C, xã Đ, huyện D, tỉnh T; chỗ ở: 113 đường N, phường T,

quận T, Thành phố H; nghề nghiệp: Nhân viên thu ngân; trình độ học vấn: 12/12; giới tính: Nữ; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hồ Hoàng M, sinh năm 1972 và bà Phạm Thị N, sinh năm 1974; bị cáo có 01 con sinh ngày 16/7/2019; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giam từ ngày 21/11/2017 đến ngày 29/11/2017 Cơ quan Cảnh sát

điều tra Công an thành phố Hồ Chí Minh ra quyết định thay thế biện pháp ngăn chặn và lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt).

5. Lâm Thị Trúc L, sinh năm 1991; tại tỉnh Tiền Giang.

Nơi cư trú: Ấp H, xã H, huyện C, tỉnh T; nghề nghiệp: Nhân viên; trình độ

học vấn: 11/12; giới tính: Nữ; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lâm Văn N, sinh năm 1969 và bà Lê Thị T, sinh năm 1965; bị cáo có chồng là Du Kim L, sinh năm 1988 và có 03 con, lớn nhất sinh năm 2012, nhỏ nhất sinh năm 2015; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt).

6. Nguyễn Thị Tuyết M, sinh năm 1996; tại tỉnh Bình Phước.

Nơi cư trú: Ấp 8, xã T, huyện B, tỉnh B; nghề nghiệp: Không; trình độ học

vấn: 12/12; con ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1965 và bà Tiêu Minh P, sinh năm 1968; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt).

7. Nguyễn Tấn P, sinh năm 1986 tại tỉnh Tiền Giang.

Nơi cư trú: 673/5/1/1/2, Khu phố 2, phường B, quận B, Thành phố H;

nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 1/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn Đ, sinh năm 1956 và bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1950; bị cáo có vợ là Ngô Tân Q, sinh năm 1993; tiền án, tiền sự: Không,

Bị cáo bị tạm giam từ ngày 21/11/2017 đến ngày 12/02/2018 Viện kiểm sát

nhân dân thành phố Hồ Chí Minh ra quyết định thay thế biện pháp ngăn chặn và lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt).

8. Trần Ngọc C, sinh năm 1955; tại tỉnh Đồng Tháp.

Nơi cư trú: 130A đường B, phường B, quận B, Thành phố H; nghề

nghiệp: Không; trình độ học vấn: 9/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn U (chết) và bà Huỳnh Thị U, sinh năm 1932; bị cáo có vợ là Đoàn Thị H, sinh năm 1957 và 01 con sinh năm 1995; tiền án, tiền sự: Không,

Bị cáo bị tạm giam từ ngày 21/11/2017 đến ngày 29/11/2017 Cơ quan Cảnh sát

điều tra Công an thành phố Hồ Chí Minh ra lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt).

Người bào chữa cho bị cáo Lý Quốc N: Luật sư Âu Trung Huê, Đoàn luật sư

Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung

vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 10/11/2017, Lý Quốc N khai trương tiệm game Kim Hồ Lô, địa chỉ

564B Hương Lộ 2, phường B, quận B, Thành phố H và thuê Vạn Thế H làm nhân viên quản lý và giao cho Vạn Thế H tuyển các nhân viên thu ngân, nhân viên phục vụ trông coi các máy trong tiệm game, Lý Quốc N trả lương nhân viên từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng/tháng. Lý Quốc N, Vạn Thế H tuyển 4 nhân viên thu ngân gồm: Trần Thị Kim C, Hồ Thị Bé T, Lâm Thị Trúc L, Nguyễn Thị Tuyết M; 11 nhân viên phục vụ gồm: Lê Văn Trung, Trần Ngọc Tuyền, Đặng Thị Thu Vân, Sầm Thị Hồng Mai, Trần Thị Lý Em, Nguyễn Thị Ngọc Linh, Trần Thị Mỹ Duyên, Nguyễn Thị Kim Duyên, Ngô Thị Kim Nguyễn, Lương Bảo Ngọc và Nguyễn Thị Bích Hường.

Trong tiệm game, tại tầng trệt, Lý Quốc N để các máy Đặt Thú, Bắn Cá,

Long Hổ, Cơ Rô Chuồn Bích, Roulette để các đối tượng đánh bạc bằng hình thức dùng tiền mua điểm để chơi và sau đó đổi điểm lấy tiền. Lý Quốc N thuê 02 người Trung Quốc (không rõ lai lịch) có tên Len (Tương) và Xuẻn (Toàn) làm kỹ thuật cài đặt máy vi tính với tỷ lệ thắng thua là 60-40, theo dõi lên điểm và xuống điểm, đồng thời sửa chữa bảo hành các máy trên. Tiệm game hoạt động từ 07 giờ 30 phút đến 22 giờ, chia làm hai ca, ca 1: từ 07 giờ 30 phút đến 16 giờ, ca 2: từ 16 giờ đến 22 giờ. Hàng ngày vào khoảng 7 giờ 30 phút, Lý Quốc N giao tiền cho Vạn Thế H, Vạn Thế H đưa lại cho nhân viên thu ngân để trả tiền đánh bạc thắng thua trong ngày. Cuối ngày, Vạn Thế H kiểm tra thắng thua trong ngày rồi đưa lại cho Lý Quốc N.

Ngày 20/11/2017, Lý Quốc N đưa cho Vạn Thế H số tiền 215.463.000

đồng. Vạn Thế H giao lại cho nhân viên thu ngân để trả tiền đánh bạc thắng thua trong ngày.

Trần Thị Kim C, Hồ Thị Bé T, Lâm Thị Trúc L, Nguyễn Thị Tuyết M

được Vạn Thế H thuê làm nhân viên thu ngân với mức lương 5.000.000 đồng/tháng, tính đến thời điểm bị bắt đã làm được 10 ngày. Nhiệm vụ là nhận tiền dùng để đánh bạc từ Vạn Thế H và thu tiền bán điểm cho các đối tượng đánh bạc vào chơi bằng cách tích điểm vào thẻ từ thông qua máy vi tính tại quầy. Sau khi tích điểm vào thẻ từ, đưa thẻ từ này cho nhân viên phục vụ cầm đến đưa cho các đối tượng đánh bạc tại các máy game để chơi đánh bạc. Khi các đối tượng đánh bạc muốn đổi điểm thành tiền thì sẽ kiểm tra điểm trên thẻ và đổi điểm thành tiền theo tỷ lệ 10 điểm trên thẻ đổi được 100.000 đồng.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh thu giữ 01 sổ

ghi chép thu chi tiền sử dụng đánh bạc từ ngày 10/11 đến 20/11/2017 tại quầy thu ngân. Vạn Thế H, Lâm Thị Trúc L, Nguyễn Thị Tuyết M, Trần Thị Kim C và Hồ Thị Bé T đã ký xác nhận các trang ghi chép sổ thu chi tiền sử dụng đánh bạc.

Ngày 20/11/2017 khi Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố Hồ

Chí Minh bắt quả tang thì có 02 đối tượng đánh bạc trên 5.000.000 đồng gồm: Trần Ngọc C và Nguyễn Tấn P.

Trần Ngọc C khai: khoảng 17 giờ 00 phút ngày 20/11/2017, Trần Ngọc C

đến tiệm game Kim Hồ Lô để chơi đánh bạc. Trần Ngọc C sử dụng 5.000.000 đồng mua được 500 điểm trên thẻ đánh bạc bằng hình thức Long Hổ tại máy số 5, vị trí số 5. Lúc bị bắt quả tang, Trần Ngọc C có số điểm là 33.150 điểm tương ứng với số tiền 33.150.000 đồng.

Nguyễn Tấn P khai: khoảng 15 giờ 00 phút ngày 20/11/2017, Nguyễn Tấn

P đến tiệm game Kim Hồ Lô để chơi đánh bạc. Nguyễn Tấn P sử dụng 1.000.000 đồng mua được 100 điểm trên thẻ đánh bạc bằng hình thức Long Hổ, tại máy số 5, vị trí số 6. Lúc bị bắt quả tang, Nguyễn Tấn P có số điểm là 14.000 điểm tương ứng với số tiền 14.000.000 đồng.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh các bị

cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội nêu trên. Tổng số tiền thu lợi bất chính do Lý Quốc N và đồng phạm tổ chức đánh bạc có được từ ngày 10/11/2017 đến 20/11/2017 (bắt quả tang) là 675.530.000 đồng (trong đó Lý Quốc N khai trả tiền thuê nhà 150.000.000 đồng, trả nợ 400.000.000 đồng, còn lại chi phí khác 125.530.000 đồng).

Vật chứng vụ án:

- 175.000.000 đồng;

- 01 sổ ghi chép thu chi tiền sử dụng đánh bạc trong ngày, có chữ ký xác

nhận của Vạn Thế H, Trần Thị Kim C và Hồ Thị Bé T;

- 06 máy trò chơi điện tử gồm: 01 máy Đặt Thú, 02 máy Bắn Cá, 01 máy

Long Hổ, 01 máy Cơ Rô Chuồn Bích, 01 máy Roulette;

- 01 CPU máy tính SN 690D051207063A75;

- 01 màn hình AOC;

- 01 bàn phím Logitech;

- 01 máy đọc thẻ từ;

- 86 thẻ từ;

- 01 màn hình AOC, 01 bàn phím Logitech và CPU.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 444/2018/HS-ST ngày 21/11/2018 của Tòa

án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định:

1. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 1999 sửa đổi,

bổ sung năm 2009; điểm a khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Tuyên bố bị cáo Lý Quốc N, Vạn Thế H, Trần Thị Kim C, Hồ Thị Bé T,

Nguyễn Thị Tuyết M, Lâm Thị Trúc L phạm tội “Tổ chức đánh bạc”.

Xử phạt bị cáo Lý Quốc N: 05 (năm) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt

bị cáo chấp hành án được trừ đi thời gian đã tạm giam bị cáo từ ngày 23/11/2017 đến ngày 12/02/2018.

Xử phạt bị cáo Vạn Thế H: 04 (bốn) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt

bị cáo chấp hành án được trừ đi thời gian đã tạm giam bị cáo từ ngày 21/11/2017 đến ngày 12/02/2018.

Xử phạt bị cáo Trần Thị Kim C 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt

bị cáo chấp hành án được trừ đi thời gian đã tạm giam bị cáo từ ngày 21/11/2017 đến ngày 29/11/2017.

Xử phạt bị cáo Hồ Thị Bé T 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị

cáo chấp hành án được trừ đi thời gian đã tạm giam bị cáo từ ngày 21/11/2017 đến ngày 29/11/2017.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Tuyết M 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ

ngày bắt bị cáo chấp hành án.

Xử phạt bị cáo Lâm Thị Trúc L 03 (ba) năm tù (Áp dụng thêm khoản 2 Điều 51

Bộ luật hình sự). Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án.

- Căn cứ khoản 1 Điều 248 Bộ luật Hình sự năm 1999 sửa đổi bổ sung

năm 2009; điểm s, i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Tấn P, Trần Ngọc C phạm tội “Đánh bạc”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Tấn P 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày

bắt bị cáo chấp hành án được trừ đi thời giam bị cáo bị tạm giam trước đó từ ngày 21/11/2017 đến ngày 12/02/2018.

Xử phạt bị cáo Trần Ngọc C 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt

bị cáo chấp hành án trừ đi thời gian bị cáo bị tạm giam trước đó từ ngày 21/11/2017 đến ngày 29/11/2017.

2. Về xử lý vật chứng:

- Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017;

Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự 2015;

Buộc bị cáo Lý Quốc N nộp lại số tiền 500.530.000 đồng để tịch thu, nộp

ngân sách nhà nước.

Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước:

Đối với số tiền 175.000.000 đồng.

Tiếp tục lưu hồ sơ vụ án: 01 sổ ghi chép thu chi tiền sử dụng đánh bạc

trong ngày, có chữ ký xác nhận của Vạn Thế H, Trần Thị Kim C và Hồ Thị Bé T (lưu giữ tại hồ sơ vụ án bút lục 541)

Tịch thu, tiêu hủy:

- 06 máy trò chơi điện tử gồm: 01 máy Đặt Thú, 01 máy Bắn Cá, 01 máy

bắn cá rồng; 01 máy Long Hổ, 01 máy Cơ ,Rô, Chuồng, Bích, 01 máy Roulette;

- 01 CPU máy tính SN 690D051207063A75;

- 01 màn hình AOC;

- 01 bàn phím Logitech;

- 01 máy đọc thẻ từ;

- 86 thẻ từ;

- 01 màn hình AOC, 01 bàn phím Logitech và CPU.

(Thông báo về việc tiếp nhận tang vật ngày 06/01/2018 của Cục thi hành án Dân sự Thành phố Hồ Chí Minh; Lệnh xuất kho vật chứng số 752-37 ngày 25/01/2018; Phiếu nhâp kho vật chứng số 462/PNK/2017 ngày 28/12/2017; Giấy nộp tiền vào tài khoản kho bạc nhà nước Quận 10 ngày 30/8/2018).

Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

Sau khi xét xử sơ thẩm, từ ngày 26 đến ngày 28/11/2018 bị cáo Lý Quốc

N kháng cáo với lý do cấp sơ thẩm chưa làm rõ số tiền đánh bạc, thu lợi bất chính dẫn đến lượng hình cao, xin giảm án được hưởng án treo; bị cáo Vạn Thế H kháng cáo xin giảm án và được hưởng án treo; bị cáo Trần Thị Kim C, Hồ Thị Bé T, Lâm Thị Trúc L, Nguyễn Thị Tuyết M, Nguyễn Tấn P và Trần Ngọc C kháng cáo xin được hưởng án treo.

Tại phiên tòa, trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp

cao tại Thành phố Hồ Chí Minh có quan điểm: Cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Lý Quốc N, Vạn Thế H, Trần Thị Kim C, Hồ Thị Bé T, Lâm Thị Trúc L, Nguyễn Thị Tuyết M về tội: “Tổ chức đánh bạc” và bị cáo Nguyễn Tấn P, Trần Ngọc C về tội: “Đánh bạc” là đúng tội; bị cáo Nghệ là người chủ mưu tổ chức đánh bạc, bị cáo Hào là người tham gia vụ án tích cực, quản lý việc tổ chức đánh bạc hàng ngày; bị cáo Chi, Thi, Ly, Mai tham gia với vai trò giúp sức để bị cáo Nghệ thực hiện việc tổ chức đánh bạc. Bị cáo Phước và Châu tham gia đánh bạc với số tiền rất lớn, cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Phước 9 tháng tù và bị cáo Châu 12 tháng tù là quá nhẹ. Tại phiên tòa phúc thẩm các bị cáo không cung cấp tài liệu chứng cứ mới, để làm căn cứ giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo, nên bác toàn bộ kháng cáo của các bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Luật sư bào chữa cho bị cáo Nghệ cho rằng hành vi phạm tội của bị cáo

mới thực hiện 10 ngày, bị cáo phạm tội lần đầu, sau khi phạm tội, bị cáo thật thà khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo là lao động chính trong gia đình, đang nuôi 2 con nhỏ, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn kháng cáo của bị cáo giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt. Bị cáo không tranh tụng, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Các bị cáo Hào, Chi, Ly, Mai không tham gia tranh tụng, chỉ xin Hội đồng

xét xử giảm nhẹ hình phạt và cho các bị cáo được hưởng án treo, vì hoàn cảnh gia đình của các bị cáo rất khó khăn, đều đang nuôi con nhỏ, là lao động chính trong gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã

được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

- Đơn kháng cáo của bị cáo Lý Quốc N, Vạn Thế H, Trần Thị Kim C, Hồ

Thị Bé T, Lâm Thị Trúc L, Nguyễn Thị Tuyết M, Nguyễn Tấn P và Trần Ngọc C đúng luật định, nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.

- Xét nội dung đơn kháng cáo của các bị cáo thì thấy:

. Lúc 20 giờ 30 phút ngày 20/11/2017, Cơ quan Công an bắt quả tang

tại số 564B Hương Lộ 2, phường B, quận B do Lý Quốc N làm chủ, các bị cáo Vạn Thế H, Trần Thị Kim C, Hồ Thị Bé T, Lâm Thị Trúc L, Nguyễn Tuyết Mai đang tổ chức 12 máy game cho 29 đối tượng đánh bạc ăn thua bằng tiền với quy mô lớn, nên cấp sơ thẩm tuyên bố các bị cáo đã phạm tội: “Tổ chức đánh bạc” theo quy định tại Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 1999 được sửa đổi, bổ sung năm 2009 và bị cáo Nguyễn Tấn P và Trần Ngọc C đã tham gia đánh bạc ăn thua bằng tiền trên 5 triệu đồng nên phạm tội: “Đánh bạc” theo quy định tại Điều 248 Bộ luật Hình sự năm 1999 được sửa đổi, bổ sung năm 2009 là đúng người, đúng tội.

. Theo tài liệu sổ ghi chép Cơ quan điều tra đã thu thập, thì tổng số tiền

thu lợi bất chính trong thời gian từ ngày 10/11/2017 đến ngày 20/11/2017 các bị cáo Lý Quốc N, Vạn Thế H, Trần Thị Kim C, Hồ Thị Bé T, Lâm Thị Trúc L, Nguyễn Thị Tuyết M tổ chức đánh bạc là 675.530.000 đồng (bl: 542 đến 564) là phù hợp, nên cấp sơ thẩm xác định các bị cáo phạm tội thuộc trường hợp “Thu lợi bất chính đặc biệt lớn” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 1999 được sửa đổi, bổ sung năm 2009. Bị cáo Nguyễn Tấn P và Trần Ngọc C đã tham gia đánh bạc, với tổng số tiền đánh bạc của bị cáo Nguyễn Tấn P là 14.000.000 đồng, Trần Ngọc C là 33.150.000 đồng được quy định tại khoản 1 Điều 248 Bộ luật Hình sự năm 1999 được sửa đổi, bổ sung năm 2009 là có căn cứ.

. Cấp sơ thẩm xác định trong vụ án này bị cáo Lý Quốc N là chủ cơ sở

đánh bạc, là kẻ chủ mưu, cầm đầu trong vụ án, bị cáo thuê Vạn Thế H quản lý, điều hành việc tổ chức đánh bạc, trong 10 ngày tổ chức đánh bạc bị cáo đã thu lợi bất chính 675.530.000 đồng là đặc biệt lớn. Bị cáo Vạn Thế H được bị cáo Lý Quốc N tin tưởng thuê làm người quản lý cơ sở đánh bạc, giao nhiệm vụ tuyển nhân viên; bị cáo quản lý, điều hành việc tổ chức đánh bạc và thu chi tiền bạc hàng ngày, bị cáo là đồng phạm tham gia với vai trò thực hành tích cực nhất, nếu không có bị cáo Vạn Thế H thì không thực hiện được việc tổ chức đánh bạc. Bị cáo Trần Thị Kim C, Hồ Thị Bé T, Lâm Thị Trúc L, Nguyễn Thị Tuyết M được bị cáo Vạn Thế H thuê làm nhân viên thu ngân; hàng ngày nhận tiền của bị cáo Vạn Thế H và thu tiền bán điểm; các bị cáo biết hình thức chơi game tích điểm, đổi lấy tiền là hình thức đánh bạc ăn thua bằng tiền, nhưng các bị cáo vẫn thực hiện nên tòa án cấp sơ thẩm quy kết các bị cáo là đồng phạm là có căn cứ.

Tuy nhiên, cấp sơ thẩm xác định các bị cáo phạm tội có tổ chức, quy định

tại điểm a khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017 là chưa phù hợp. Bởi vì, để thực hiện được việc tổ chức đánh bạc bằng hình thức thông qua máy chơi game thì phải có người quản lý, người thu ngân, đổi điểm nên bị cáo Lý Quốc N chỉ thuê bị cáo Vạn Thế H quản lý cơ sở đánh bạc, còn việc thuê người thu ngân, đổi điểm thành tiền, phục vụ đánh bạc thì giao cho bị cáo Vạn Thế H tùy chọn. Thực tế hành vi tổ chức đánh bạc, được diễn ra bình thường hàng ngày, các bị cáo chỉ là những đồng phạm, giúp sức cho bị cáo Lý Quốc N tổ chức đánh bạc, để được trả lương; hành vi của các bị cáo không được phân công, cấu kết chặt chẽ như phạm tội có tổ chức, nên hành vi phạm tội của các bị cáo chỉ là đồng phạm giản đơn.

Cấp sơ thẩm đã xem xét, phân tích, đánh giá vai trò, nhân thân, của bị cáo

Lý Quốc N, Vạn Thế H và áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 để xử phạt bị cáo Lý Quốc N 5 năm tù, Vạn Thế H 4 năm tù là quá nghiêm khắc; bởi lẽ, hành vi tổ chức đánh bạc của bị cáo Lý Quốc N và Vạn Thế H mới thực hiện được 10 ngày thì bị phát hiện, trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đều là lao động chính trong gia đình đang nuôi con nhỏ, nên xét thấy cần giảm cho các bị cáo một phần mức án, cũng đủ để cho thấy sự nghiêm minh của pháp luật, đảm bảo giáo dục riêng và phòng ngừa chung về tội phạm này.

Các bị cáo Trần Thị Kim C, Hồ Thị Bé T, Lâm Thị Trúc L, Nguyễn Thị

Tuyết M là người làm thuê, không hưởng lợi, tham gia với vai trò thực hành mới 10 ngày, chưa được nhận lương; tại cấp phúc thẩm các bị cáo khai nhận khi vào làm không biết đây là hình thức đánh bạc, sau vài ngày các bị cáo mới biết là hình thức đánh bạc, nhưng vì do cần việc làm để có tiền lo cho gia đình nên các bị cáo đồng ý làm thuê cho bị cáo Lý Quốc N và Vạn Thế H. Hơn nữa, khi phạm tội các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; các bị cáo là lao động chính đang nuôi con nhỏ và nuôi cha mẹ ốm đau; phạm tội lần đầu, có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, đủ điều kiện để được hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

. Đối với bị cáo Nguyễn Tấn P tham gia đánh bạc với số tiền là 14.000.000 đồng, Trần Ngọc C đánh bạc với số tiền 33.150.000 đồng là rất lớn. Hành vi đánh bạc của các bị cáo đã xâm phạm đến trật tự an ninh tại địa phương, là một trong những nguyên nhân làm đổ vỡ hạnh phúc gia đình. Tuy nhiên, cấp sơ thẩm cũng nhận định đây là lần đầu các bị cáo phạm tội và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, các bị cáo thật thà khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của các bị cáo; hiện nay các bị cáo đều có nơi cư trú rõ ràng và bị cáo Trần Ngọc C 64 tuổi nên không cần thiết phải đưa đi tập trung cải tạo, mà giao về địa phương quản lý, giáo dục theo quy định tại Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 là phù hợp.

. Đối với 11 nhân viên bị cáo Vạn Thế H thuê làm nhân viên phục vụ trông coi, trực bàn game, phục vụ ăn uống…là những người làm công ăn lương, Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh không truy tố, nên cấp sơ thẩm không xét xử các đối tượng này là phù hợp.

. Từ những căn cứ trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát không phù hợp nên không được chấp nhận; chấp nhận đơn kháng cáo của bị cáo Lý Quốc N, Vạn Thế H, Trần Thị Kim C, Hồ Thị Bé T, Lâm Thị Trúc L, Nguyễn Thị Tuyết M, Nguyễn Tấn P và Trần Ngọc C, sửa một phần bản án sơ thẩm. Các bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị

có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355 Bộ luật tố tụng hình sự.

1. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lý Quốc N, Vạn Thế H, Trần Thị Kim

C, Hồ Thị Bé T, Lâm Thị Trúc L, Nguyễn Thị Tuyết M, Nguyễn Tấn P, Trần Ngọc C; sửa một phần Bản án sơ thẩm.

Tuyên bố: Bị cáo Lý Quốc N, Vạn Thế H, Trần Thị Kim C, Hồ Thị Bé T,

Lâm Thị Trúc L, Nguyễn Thị Tuyết M phạm tội: “Tổ chức đánh bạc”. Bị cáo Nguyễn Tấn P, Trần Ngọc C phạm tội: “Đánh bạc”.

- Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ

sung năm 2009. Điều 17, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Xử phạt: Bị cáo Lý Quốc N 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù

tính từ ngày thi hành án được khấu trừ thời gian đã tạm giam bị cáo từ ngày 23/11/2017 đến ngày 12/02/2018.

Xử phạt: Bị cáo Vạn Thế H 03 (ba) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính

từ ngày thi hành án được khấu trừ thời gian đã tạm giam bị cáo từ ngày 21/11/2017 đến ngày 12/02/2018.

- Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ

sung năm 2009; Điều 17, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 58, Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Xử phạt: Bị cáo Trần Thị Kim C 03 (ba) năm tù nhưng cho hưởng án treo thời

gian thử thách 05 (năm) năm, tính từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo Trần Thị Kim C cho Ủy ban nhân dân phường T, quận T, Thành

phố Hồ Chí Minh giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp bị cáo Trần Thị Kim C thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy

định tại khoản 1 Điều 69 Luật thi hành án hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Hồ Thị Bé T 03 (ba) năm tù nhưng cho hưởng án treo thời gian

thử thách 05 (năm) năm tính từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo Hồ Thị Bé T cho Ủy ban nhân dân phường T, quận T, Thành phố

Hồ Chí Minh giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp bị cáo Hồ Thị Bé T thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định

tại khoản 1 Điều 69 Luật thi hành án hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Lâm Thị Trúc L 03 (ba) năm tù nhưng cho hưởng án treo thời

gian thử thách 05 (năm) năm tính từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo Lâm Thị Trúc L cho Ủy ban nhân dân xã H, huyện C, tỉnh T

giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp bị cáo Lâm Thị Trúc L thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy

định tại khoản 1 Điều 69 Luật thi hành án hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị Tuyết M 03 (ba) năm tù nhưng cho hưởng án

treo thời gian thử thách 05 (năm) năm, tính từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo Nguyễn Thị Tuyết M cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện B, tỉnh B

giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp bị cáo Nguyễn Thị Tuyết M thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo

quy định tại khoản 1 Điều 69 Luật thi hành án hình sự.

- Căn cứ khoản 1 Điều 248 Bộ luật Hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung

năm 2009. Điểm s, i khoản 1 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Tấn P 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời

gian thử thách 18 (mười tám) tháng tính từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo Nguyễn Tấn P cho Ủy ban nhân dân phường B B, quận B, Thành

phố Hồ Chí Minh giám sát và giáo dục trong thời gian thủ thách.

Trường hợp bị cáo Nguyễn Tấn P thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy

định tại khoản 1 Điều 69 Luật thi hành án hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Trần Ngọc C 01 (một) năm tù nhưng cho hưởng án treo

thời gian thử thách 02 (hai) năm tính từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo Trần Ngọc C cho Ủy ban nhân dân phường B, quận B, Thành

phố Hồ Chí Minh giám sát và giáo dục trong thời gian thủ thách.

Trường hợp bị cáo Trần Ngọc C thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định

tại khoản 1 Điều 69 Luật thi hành án hình sự.

2. Về án phí hình sự phúc thẩm: Áp dụng Nghị quyết

326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Các bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị

đã có hiệu lực pháp luật.

3. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (ngày

10/9/2019)./.

Cỡ chữ