CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
T A N NH N N
CỘNG H A
HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
HU ỆN N
Độ ậ – Tự do – Hạnh h
T NH N B n án s : 51/2017/HSST Ngày: 28-12-2017
NHÂN DANH
NƯ C CỘNG H A
HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
T A N NH N N HU ỆN N TỈNH N
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Th ph n – ch a ph n a: Ông Hán Văn Nhuận
C c H h nh n d n:
1. Ông Phạm Ngọc Minh;
2. Ông Lê Quang Chính.
Thư ký phiên tòa: Ông Dương Khánh Hưng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh N
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Hằng – Ki m sát viên.
Ngày 28 tháng 12 năm 2017, tại H i trư ng Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh N xét x sơ th m v án hình s th lý s : 50/2017/HSST, ngày 04 tháng 12 năm 2017 đ i v i bị cáo:
Nguyễn Ngọ B, sinh ngày: 10/12/1998, tại Ninh Thuận.
Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn P, xã Phư c T, huyện N, tỉnh N; s CMND 264481765; nghề nghiệp: không; trình đ văn hóa 4/12; dân t c: Kinh; con ông Nguyễn Ngọc H i, sinh năm 1978 và bà Nguyễn Thị V, sinh năm 1978; tiền s : không; tiền án: không.
- Nhân thân: Ngày 10/02/2017 bị Công an huyện N x phạt vi phạm hành chính về hành vi “S d ng trái phép chất ma túy”.
Bị bắt tạm giữ ngày 11/11/2017, tạm giam ngày 14/11/2017. Hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện N, tỉnh N – Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Ngườ bị hạ : Anh Nguyễn Phan Xuân Th, sinh ngày 10//12/2000, trú tại: Khu ph 3, thị trấn P, huyện N, tỉnh N. (Vắng mặt)
Ngườ đạ d ện hợp ph p c a ngườ bị hạ : Ông Nguyễn Xuân U, sinh năm: 1957, trú tại: Khu ph 3, thị trấn P, huyện N, tỉnh N. (Có mặt)
NỘI UNG VỤ N:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ v án và diễn biến tại phiên tòa, n i dung v án được tóm tắt như sau:
Lúc 01 gi sáng ngày 29/9/2016, Nguyễn Ngọc B đi đến chùa An Lạc ở thôn P, P, N phá ổ khóa cổng rồi đi vào trong chùa lấy tr m 01 chiếc xe đạp điện hiệu SonSu của Nguyễn Phan Xuân Th là ngư i đang tu hành và học tập trong chùa đem đến cất giấu tại m t ngôi nhà bỏ hoang ở cùng thôn P (đây là ngôi nhà bà Ngoại của bạn B tên là Phạm Anh V không có ngư i ở nên giao cho V trông coi qu n lý), sáng ngày 29/9/2016 V phát hiện chiếc xe đạp điện trên đ trong nhà bà ngoại, V hỏi những ngư i xung quanh nhưng không có ai nhận nên V dùng r a đập phá m t s b phận làm cho xe bị hư hỏng. Ngày 02/10/2016 B đến gặp V thỏa thuận giao chiếc xe này cho V đ cấn trừ s tiền 500.000đ B nợ V trư c đó. Sau đó V nghe nói Nguyễn Phan Xuân Th ở trong chùa An Lạc bị mất xe đạp điện, V biết được em Nguyễn Thái T có quen biết v i Nguyễn Phan Xuân Th nên V đã nh em T kêu Nguyễn Phan Xuân T đến nhận xe, nhưng sau đó T báo lại là Th không nhận xe mà đã r i khỏi chùa bỏ đi đâu không rõ. Đến kho ng cu i tháng 10/2017 V tháo r i 01 cặp bánh xe ra bán phế liệu cho chị Võ Thị Kim Ph 120.000đ, sau đó V cho anh Trai là Phạm Anh Đ các b phần khác còn lại của xe đ bán phế liệu cho chị Ph được 150.000đ.
Tại biên b n định giá tài s n s 14/BB-ĐGTS, ngày 01/3/2017 của H i đồng định giá tài s n trong t t ng hình s huyện N đã kết luận xe đạp điện trên có giá trị là 2.780.822 đồng.
Tại biên b n định giá tài s n s 89/BB-ĐGTS ngày 03/10/2017 của H i đồng định giá trong t t ng hình s kết luận phần xe đạp điện bị hư hỏng trên có giá trị 710.000 đồng.
Về vật chứng: Chiếc xe đạp điện trên Phạm Anh V và Phạm Anh Đ đã tháo r i nên Cơ quan điều tra không thu giữ được.
Về dân s : Anh Nguyễn Phan Xuân Th yêu cầu bồi thư ng s tiền 2.780.822 đồng. Nguyễn Ngọc B đã thỏa thuận đồng ý bồi thư ng toàn b s tiền này cho Nguyễn Phan Xuân Th, nhưng hiện nay Biên chưa bồi thư ng được kho n nào.
Tại b n cáo trạng s 52/QĐ - KSĐT, ngày 30/11/2017 của Viện ki m sát nhân dân huyện N đã truy t bị cáo Nguyễn Ngọc B về t i “Tr m cắp tài s n” theo kho n 1 Điều 138 của B luật hình s .
Tại phiên tòa, Đại diện Viện ki m sát giữ nguyên Quyết định truy t bị cáo theo b n cáo trạng và đề nghị H i đồng xét x :
Áp d ng: Kho n 1 Điều 138, đi m g, h, p kho n 1 Điều 46; Điều 69; Điều 74 B luật hình s .
X phạt bị cáo Nguyễn Ngọc B từ 06 tháng đến 09 tháng tù.
Căn cứ vào các chứng cứ và các tài liệu đã được th m tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết qu tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Ki m sát viên, bị cáo và những ngư i tham gia t t ng khác tại phiên tòa.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG ÉT Ử:
Trên cơ sở n i dung v án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ v án đã được th m tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, H i đồng xét x nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định t t ng của Cơ quan điều tra Công an huyện N, Điều tra viên, Viện ki m sát nhân dân huyện N, Ki m sát viên trong quá trình điều tra, truy t đã th c hiện đúng về th m quyền, trình t thủ t c theo đúng quy định của B luật t t ng hình s . Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và ngư i tham gia t t ng khác không có ngư i nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành t t ng, ngư i tiến hành t t ng. Do đó, các hành vi, quyết định t t ng của Cơ quan tiến hành t t ng, ngư i tiến hành t t ng đã th c hiện đều đúng theo quy định của pháp luật.
Lúc 01 gi sáng ngày 29/9/2016, bị cáo Nguyễn Ngọc B đi đến chùa An Lạc ở thôn Phư c K, xã P, phá ổ khóa cổng rồi đi vào trong chùa lấy tr m 01 chiếc xe đạp điện hiệu SonSu của Nguyễn Phan Xuân Th là ngư i đang tu hành và học tập trong chùa đem đến cất giấu tại m t ngôi nhà bỏ hoang ở cùng thôn Phư c K (đây là ngôi nhà bà Ngoại của bạn B tên là Phạm Anh V không có ngư i ở nên giao cho V trông coi qu n lý), sáng ngày 29/9/2016 V phát hiện chiếc xe đạp điện trên đ trong nhà bà ngoại, V hỏi những ngư i xung quanh nhưng không có ai nhận nên V dùng r a đập phá m t s b phận làm cho xe bị hư hỏng. Ngày 02/10/2016 bị cáo B đến gặp V thỏa thuận giao chiếc xe này cho V đ cấn trừ s tiền 500.000đ bị cáo B nợ V trư c đó. Sau đó V nghe nói Nguyễn Phan Xuân Th ở trong chùa An Lạc bị mất xe đạp điện, V biết được em Nguyễn Thái T có quen biết v i Th nên V đã nh em T kêu Nguyễn Phan Xuân Th đến nhận xe, nhưng sau đó T báo lại là Th không nhận xe mà đã r i khỏi chùa bỏ đi đâu không rõ. Đến kho ng cu i tháng 10/2017 V tháo r i 01 cặp bánh xe ra bán phế liệu cho chị Võ Thị Kim Ph được 120.000đ, sau đó V cho anh Trai là Phạm Anh Đ các b phần khác còn lại của xe đ bán phế liệu cho chị Ph được 150.000 đồng.
Hành vi của bị cáo Nguyễn Ngọc B đã phạm vào t i “Tr m cắp tài s n” theo kho n 1 Điều 138 B luật hình s .
Hành vi của bị cáo Nguyễn Ngọc B là nguy hi m cho xã h i vì không những xâm phạm đến taì s n của công dân được pháp luật b o vệ mà còn gây mất trật t trị an tại địa phương. Do đó cần ph i x lý bị cáo m t mức hình phạt tương xứng v i tính chất, mức đ và hành vi mà bị cáo đã gây ra nhằm m c đích răn đe và góp phần phòng ngừa t i phạm. Tuy nhiên khi quyết định hình phạt cũng cần xem xét gi m nhẹ trách nhiệm hình phạt cho bị cáo B, bị cáo có các tình tiết gi m nhẹ trách nhiệm hình s là thành kh n khai báo và ăn năn h i c i; bị cáo phạm t i lần đầu và thu c trư ng hợp ít nghiêm trọng; bị cáo phạm t i gây thiệt hại không l n; tại th i đi m phạm t i bị cáo Nguyễn Ngọc B ở đ tuổi chưa thành niên (chưa đủ 18 tuổi) nên việc nhận thức về pháp luật còn hạn chế. Các tình tiết gi m nhẹ được quy định tại g, h, p kho n 1 Điều 46; Điều 69; Điều 74 B luật hình s .
Xét tính chất, mức đ phạm t i, tình tiết gi m nhẹ, hậu qu và nhân thân bị cáo Nguyễn Ngọc B. H i đồng xét x cần ph i cách ly các bị cáo Nguyễn Ngọc B ra khỏi xã h i m t th i gian đ bị cáo B có điều kiện c i tạo, học tập trở thành công dân t t, có ích cho xã h i sau này.
Đ i v i hành vi của Phạm Anh V đập phá làm hư hỏng xe đạp điện nhưng thiệt hại 710.000 đồng không đủ định lượng đ x lý hình s nên Cơ quan điều tra tách ra x lý hành chính là có căn cứ và đúng pháp luật nên H i đồng xét x không xem xét.
Đ i v i hành vi của Phạm Anh V và Phạm Anh Đ bán các b phận của xe đạp điện trên, xét thấy hành vi hạn chế, chưa đến mức ph i x lý hình s ; đ i v i chị Võ Thị Kim Ph mua lại m t s b phận của xe đạp điện do V và Đ bán, nhưng chị Ph không biết đây là tài s n do phạm t i mà có nên Cơ quan điều tra không x lý hình s nên H i đồng xét x chấp nhận.
Về trách nhiệm bồi thư ng thiệt hại: Quá trình điều tra ngư i bị hại Nguyễn Phan Xuân Th yêu cầu bị cáo Nguyễn Ngọc B ph i bồi thư ng trị giá xe đạp điện là 2.780.822 đồng; bị cáo Nguyễn Ngọc B đã thỏa thuận đồng ý bồi thư ng theo yêu cầu của anh Nguyễn Phan Xuân Th.
Về án phí dân s sơ th m: Trong quá trình điều tra bị cáo và ngư i bị hại đã tho thuận v i nhau về việc bồi thư ng 2.780.822 đồng. Theo đi m f Điều 23 Nghị quyết 326/2016/ UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thư ng v Qu c H i về mức thu, miễn, thu, n p qu n lý và s d ng án phí và lệ phí tòa án quy định trư c khi mở phiên tòa, đương s , bị cáo tho thuận được v i nhau về việc bồi thư ng thiệt hại và đề nghị Tòa án nghi nhận việc bồi thư ng thiệt hại thì họ không ph i chịu án phí dân s sơ th m.
Vì các l trên;
U ẾT ĐỊNH:
Tuy n : Bị cáo Nguyễn Ngọc B phạm t i: “Tr m cắp tài s n”
d ng: Kho n 1 Điều 138; đi m g, h, p kho n 1 Điều 46; Điều 69; Điều 74 B luật hình s .
ử hát: Nguyễn Ngọc B 06 (Sáu) tháng tù, th i hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ ngày 11/11/2017.
Trá h nhiệm dân sự: Áp d ng: Điều 584; Điều 585; Điều 586; Điều 590 B luật dân s năm 2015.
Công nhận s thỏa thuận của bị cáo Nguyễn Ngọc B và ngư i bị hại Nguyễn Phan Xuân Th. Bu c bị cáo Nguyễn Ngọc B ph i bồi thư ng cho Nguyễn Phan Xuân Th 2.780.822 đồng.
K từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của ngư i được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất c các kho n tiền, hàng tháng bên ph i thi hành án còn ph i chịu kho n tiền lãi của s tiền còn ph i thanh toán theo Điều 357, kho n 2 Điều 468 của B luật dân s năm 2015 quy định, tương ứng v i th i gian chưa thi hành án.
“…Trư ng hợp b n án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân s thì ngư i được thi hành án dân s , ngư i ph i thi hành án dân s có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, t nguyện thi hành án hoặc bị cư ng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân s ; th i hiệu thi hành án được th c hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân s ”.
V án h : Bị cáo Nguyễn Ngọc B ph i n p 200.000 đồng án phí hình s sơ th m.
Án x công khai sơ th m có mặt bị cáo, Ngư i đại diện hợp pháp của ngư i bị hại; Quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày k từ ngày tuyên án. Đ i v i ngư i bị hại vắng mặt quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày k từ ngày nhận được b n án hoặc niêm yết hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh N; - VKSND huyện N; - Công an huyện N; - Chi c c THADS huyện N; - Bị cáo, Những ngư i tham gia t t ng; - Sở Tư Pháp tỉnh N; - Lưu. | TM HỘI ĐỒNG ÉT Ử THẨM Thẩm hán – Ch tọa hi n t a Hán Văn Nhuận |