vanban.org

Bản án 51/2023/HSST — Hình sự

TAND huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai Tuyên án 17/03/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Mai Công B phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Mai Công B 07 (bảy) năm tù; thời hạn tù tính từ ngày 25/09/2022. Tịch thu, tiêu hủy 01 phong bì (chứa mẫu vật sau giám định gồm: 01 thẻ nhựa, 01 tờ tiền pholyme mệnh giá 20.000 đồng…) được niêm phong chứa ma túy sau giám định số: 2068/KL-KTHS ngày 30/9/2022 của Phòng K (PC09) Công an … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Mai Công bằng phạm tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy - phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (điều 255 Luật sửa đổi, bổ sun…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Mai Công B phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 255 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TRẢNG BOM
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 51/2023/HSST.
Ngày: 17-03-2023.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đào Ngọc Nam.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Phạm Văn Bằng.

Ông Doãn Đức Hùng.

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Phạm Thị Thúy Kiều - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Đức Tâm - Kiểm sát viên.

Trong ngày 17 tháng 03 năm 2023, tại điểm cầu trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai và điểm cầu Nhà tạm giữ Công an huyện T, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 41/2023/HSST ngày 20 tháng 02 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 49/2023/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 03 năm 2023 đối với bị cáo:

Mai Công B, sinh năm 1994 tại Bến Tre; nơi đăng ký thường trú: Ấp P, xã B, huyện M, tỉnh Vĩnh Long; nơi ở: ấp P, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Phụ hồ; trình độ văn hóa (học vấn): 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Mai Hữu S và bà Lê Thị B1 (chết); bị cáo có vợ là Trần Thị Ngọc P (đã ly hôn) và 01 con sinh năm 2018; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo giam giữ từ ngày 25/09/2022. (Có mặt tại điểm cầu Nhà tạm giữ Công an huyện T, tỉnh Đồng Nai )

Người làm chứng:

+ Chị Nguyễn Lệ Kiều D, sinh năm 2000, nơi cư trú: ấp P, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai. (Vắng mặt)

+ Chị Phạm Thị Ngọc M, sinh năm 2006, địa chỉ: ấp S, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai. (Vắng mặt)

+ Anh Phạm Thiên L, sinh năm 2000, địa chỉ: ấp S, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai. (Vắng mặt)

+ Anh Phạm Thanh P1, sinh năm 2000, địa chỉ: ấp S, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 02 giờ 30 phút ngày 25/9/2022, Công an xã B tuần tra trên tuyến đường thuộc ấp P thì phát hiện Dư Trọng T đang giao 01 bình kim loại màu xanh Th khai là khí bơm bóng cười) cho Phạm Thiên L Lg khai do M Công Bằng đặt mua nhờ L nhận giúp). Công an xã B tiến hành kiểm tra hành chính căn nhà do B thuê tại ấp P, xã B, huyện T thì có 04 đối tượng gồm: Mai Công B, Phạm Thanh P1, Nguyễn Lệ Kiều D và Phạm Thị Ngọc M đang ở trong nhà. Qua kiểm tra trong phòng ngủ thì phát hiện 01 ống hút tự chế bằng tờ tiền mệnh giá 20.000 đồng cuộn tròn, 01 bịch nylon, 01 đèn chiếu không rõ nhãn hiệu, 01 loa hiệu H@F, 01 loa hiệu Sondmax A-4000, 01 bình khí cười, 10 bong bóng chưa qua sử dụng, 01 thẻ nhựa và 01 đĩa sứ do M cất giấu tại bồn rửa chén. Bằng khai đây là các dụng cụ mà các đối tượng vừa mới sử dụng ma túy. Tiến hành test nhanh các đối tượng đều dương tính với ma túy.

Qua quá trình điều tra, B khai nhận: Bằng là người thường sử dụng ma túy tổng hợp, có thuê nhà và sinh sống cùng với D, M tại ấp P, xã B, huyện T. Vào khoảng 20 giờ 30 phút ngày 24/9/2022, B nhắn tin rủ D và M về nhà thuê để sử dụng ma túy thì D và M đồng ý. Sau đó, B liên lạc với M1 (không rõ nhân thân, lai lịch) mua 1.200.000 đồng ma túy tổng hợp (trong đó 900.000đ ma túy dạng “khay” và 300.000đ ma túy dạng “kẹo”). Sau khi mua được ma túy, B mở nhạc, đèn nháy trong phòng ngủ và bỏ ma túy vào đĩa sứ, B sử dụng nửa viên ma túy tổng hợp “kẹo”, nữa viên còn lại Bằng để trên đĩa sứ cùng với ma túy dạng “khay”. Vào khoảng 22 giờ 30 phút cùng ngày, D về và vào phòng ngủ của B, tự lấy thẻ nhựa chia ma túy “khay” trên đĩa thành “đường” rồi sử dụng tờ tiền mệnh giá 20.000 cuộn tròn hít ma túy. Bằng và D bơm bóng cười để sử dụng (bóng cười do B mua để sẵn trong phòng) rồi nằm nghe nhạc. Đến khoảng 23 giờ cùng ngày thì M về và vào phòng ngủ của B, M dùng thẻ nhựa tự chia ma tuý “khay” thành “đường” rồi sử dụng và nằm nghe nhạc cùng B, D. Khoảng 23 giờ 30 cùng ngày, L gọi điện thoại rủ M đi chơi thì M lại rủ L đến nhà B chơi, L đồng ý và rủ thêm P1 đi cùng. Khoảng 00 giờ ngày 25/9/2022, L và P1 đến nhà, được M mở cửa, dẫn vào phòng ngủ của B, B rủ L và P1 sử dụng ma tuý thì cả 2 đồng ý, B đưa đĩa sứ có sẵn ma tuý và ống hút bằng tờ tiền cho L và P1 sử dụng, B tiếp tục mời và đưa nửa viên ma tuý “kẹo” cho L và P1, L từ chối còn P1 thì cầm lấy bỏ vào miệng nuốt (sử dụng). Cả nhóm nằm nghe nhạc và sử dụng ma tuý, ai muốn sử dụng ma tuý hay bóng cười thì tự lấy sử dụng. Khoảng 02 giờ 15 phút ngày 25/9/2022, khí trong bình bóng cười hết nên B nhờ M liên hệ mua thêm 01 (một) bình khí bóng cười, M liên hệ đặt mua 01 bình khí bóng cười với giá 1.500.000 đồng của một người tên Q (không rõ tên thật, địa chỉ). Khoảng 30 phút sau, có người đến giao khí bóng cười nên B đưa tiền cho L và nhờ L ra đường trước nhà nhận. Đến khoảng 03 giờ cùng ngày, khi thấy có Công an đến kiểm tra thì B nói với các đối tượng dọn dẹp dụng cụ sử dụng ma túy để không bị phát hiện. Bằng tắt đèn, tắt nhạc, còn M thì cầm đĩa sứ đựng ma tuý “khay” xuống nhà bếp bỏ vào trong chậu nước. Lúc M cầm đĩa sứ thì thẻ nhựa, ống hút bằng tờ tiền mệnh giá 20.000 đồng và bịch nylon đựng ma tuý đã sử dụng rơi trên nền trong phòng ngủ.

Vật chứng thu giữ:

- 01 đĩa sứ được sử dụng để đựng ma tuý đã được rửa sạch do Phạm Thị Ngọc M cất giấu tại bồn nước rửa chén. 01 đèn chiếu không rõ nhãn hiệu, 01 loa hiệu H@F, 01 loa hiệu soundmax A-4000, 10 bong bóng chưa qua sử dụng.

- 01 ống hút tự chế bằng tiền mệnh giá 20.000đồng, 01 bịch nhựa (dùng để đựng ma tuý), 01 thẻ nhựa màu trắng được niêm phong trong phong bì giấy dán kín có chữ ký của Mai Công B và hình dấu tròn màu đỏ của Cơ quan CSĐT Công an huyện T.

- 01 bình kim loại màu xanh được niêm phong (M1) có chữ ký của M Công Bằng và hình dấu tròn màu đỏ của Cơ quan CSĐT Công an huyện T.

- 01 bình kim loại màu xanh được niêm phong (M2) có chữ ký của Dư Trọng T và hình dấu tròn màu đỏ của Cơ quan CSĐT Công an huyện T.

- 01 điện thoại Iphone 6 màu xám số sim 0343842903, 01 xe mô tô hiệu Honda Airblade màu đen đỏ biển số 60B4-18833 của B.

- 01 điện thoại Iphone X màu đen gắn sim 0975514100, 01 xe mô tô hiệu Honda Vision màu đen biển số 60H1-20487 (số máy: JF66E0823520, số khung: RLHJF5816GY746350) của T.

- 01 điện thoại Iphone 13 màu hồng số sim 0389642253 của M.

- 01 điện thoại SamSung Galaxy A12 màu đen số sim 0336341470 của D.

- 01 điện thoại Redmi 7A màu đen số sim 0363540893, 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Vario màu ghi đen, biển số: 93P1-41073 của L.

- 01 điện thoại Redmi Note 11S màu đen số sim 0334536135 của P1.

Tại bản kết luận giám định số 2068/KL-KTHS ngày 30/9/2022 của phòng K Công an tỉnh Đ kết luận: Mẫu chất bột màu trắng dính trên 01 (một) tờ tiền polymer mệnh giá 20.000 đồng cuộn tròn, 01 (một) gói nylon và 01 (một) thẻ nhựa được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, loại: Ketamine, mẫu dạng vết không xác định được khối lượng.

Tại bản kết luận giám định số 5390/KL-KTHS ngày 20/10/2022 của Phân viện khoa học hình sự - Bộ C, kết luận:

+ Mẫu ký hiệu M1: không còn khí nén trong bình để tiến hành giám định;

+ Mẫu ký hiệu M2: Chứa thành phần khí Nitrous Oxide (N2O); Khối lượng: 2,6 Kg. Khi N2O không có trong Danh mục các chất ma túy và tiền chất ban hành kèm theo Nghị định số 57/2022 NĐ-CP của Chính phủ ngày 25 tháng 8 năm 2022.

Tại Cáo trạng số: 54/CT-VKS-TB ngày 16 tháng 02 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom đã truy tố bị cáo Mai Công B về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b, c khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị: Tuyên bố bị cáo M Công Bằng phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và xử phạt bị cáo M Công Bằng từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù; đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong sau giám định số: 2068/KL-KTHS ngày 30/9/2022 của Phòng K (PC09) Công an tỉnh Đ (chứa 01 thẻ nhựa, 01 tờ tiền polymer mệnh giá 20.000 đồng, 01 túi ni long đựng ma túy) và 01 đĩa sứ; đề nghị tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 đèn chiếu không rõ nhãn hiệu, 01 loa hiệu H@F, 01 loa hiệu soundmax A-4000, 01 điện thoại Iphone 6 màu xám số sim 0343842903 là công cụ, phương tiện phạm tội; buộc bị cáo chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung đã nêu trong cáo trạng, nội dung phân tích, luận tội của Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên tòa và không có ý kiến bào chữa gì thêm. Đồng thời, trong lời nói sau cùng, bị cáo cũng đã đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để tạo điều kiện cho bị cáo sớm hòa nhập cộng đồng và làm người có ích cho xã hội.

Đối với Nguyễn Lệ Kiều D, Phạm Thị Ngọc M, Phạm Thanh P1 và Phạm Thiên L có hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” vi phạm vào Khoản 1 Điều 23 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 nên Công an huyện T đã xử phạt vi phạm hành chính;

Đối với Dư Trọng T làm nghề giao hàng được một người tên Q (không rõ tên thật, địa chỉ) thuê đi giao bình kim loại màu xanh (chứa khí N2O), T không biết bên trong bình kim loại chứa khí gì, Cơ quan điều tra Công an huyện T không có căn cứ xử lý.

Đối với người tên Q thuê T đi giao 01 kim loại màu xanh (chứa khí N2O), do chưa xác định được nhân thân, lai lịch nên Cơ quan điều tra Công an huyện T tiếp tục xác minh, làm rõ, có căn cứ xử lý sau;

Đối với đối tượng tên M1 là người bán ma túy cho B, do chưa xác định được nhân thân, lai lịch nên Cơ quan điều tra Cơ quan điều tra Công an huyện T tiếp tục xác minh, làm rõ, có căn cứ xử lý sau.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Những chứng cứ, tài liệu do Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thu thập; do bị cáo và người tham gia tố tụng khác cung cấp là đúng quy định của pháp luật tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử không ai có ý kiến thắc mắc, khiếu nại gì về tính hợp pháp của các chứng cứ nên những chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án là hợp pháp.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận: Vào tối ngày 24/9/2022 đến rạng sáng ngày 25/9/2022, Mai Công B đã có hành vi rủ rê, cung cấp chất ma túy loại Ketamine, các dụng cụ sử dụng ma túy và địa điểm cho Nguyễn Lệ Kiều D, Phạm Thị Ngọc M (sinh ngày 01/6/2006, tính tại thời điểm bắt quả tang thì M chưa đủ 18 tuổi), Phạm Thanh P1 và Phạm Thiên L để cùng nhau sử dụng ma túy tại căn nhà B thuê ở thuộc ấp P, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai. Sự thừa nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của người làm chứng cùng các chứng cứ khác được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc cung cấp chất ma túy và dụng cụ sử dụng ma túy cho người khác sử dụng là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố ý hành động phạm tội, bất chấp sự trừng trị của pháp luật. Như vậy, đã có đủ cơ sở kết luận: bị cáo M Công Bằng phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b, c khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ thì thấy: Bị cáo V và D1 có nhân thân tốt. Bị cáo S1 có nhân thân xấu. Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 để giảm nhẹ một phần mức hình phạt cho bị cáo. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Xử lý vật chứng:

Tịch thu, tiêu hủy 01 phong bì (chứa mẫu vật sau giám định gồm: 01 thẻ nhựa, 01 tờ tiền pholyme mệnh giá 20.000 đồng…) được niêm phong sau giám định số: 2068/KL-KTHS ngày 30/9/2022 của Phòng K (PC09) Công an tỉnh Đ và 01 đĩa sứ.

Tịch thu, sung ngân sách nhà nước 01 đèn chiếu không rõ nhãn hiệu, 01 loa hiệu H@F, 01 loa hiệu soundmax A-4000, 01 điện thoại Iphone 6 màu xám số sim 0343842903.

Đối với 01 bình kim loại màu xanh được hoàn lại sau giám định không chứa khí; 10 bong bóng chưa qua sử dụng; 01 xe mô tô hiệu Honda Airblade màu đen đỏ biển số 60B4-18833, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T đã trả cho B;

Đối với 01 bình kim loại màu xanh được hoàn lại sau giám định có chứa khí N20, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T tách ra, xử lý sau.

Đối với 01 xe mô tô hiệu Honda Vision màu đen biển số 60H1-20487 (số máy: JF66E0823520, số khung: RLHJF5816GY746350) thu giữ của T có khung, số máy không trùng khớp với biển số xe. Qua xác minh là của chị Lê Thị L1 bị mất trộm tại huyện V, tỉnh Đồng Nai. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T đã thông báo cho Công an huyện V và tách ra, xử lý sau.

Đối với 01 điện thoại Iphone X màu đen gắn sim 0975514100; 01 điện thoại Iphone 13 màu hồng số sim 0389642253 của M; 01 điện thoại SamSung Galaxy A12 màu đen số sim 0336341470 của D; 01 điện thoại Redmi 7A màu đen số sim 0363540893, 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Vario màu ghi đen, biển số: 93P1-41073 của L và 01 điện thoại Redmi Note 11S màu đen số sim 0334536135 của P1, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T đã trả cho chủ sở hữu do không liên quan đến việc phạm tội.

Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Về hành vi tố tụng, thẩm quyền tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra, của Điều tra viên, của Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của pháp luật. Qua quá trình điều tra và truy tố, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ vào điểm b, c khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

- Tuyên bố bị cáo Mai Công B phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

- Xử phạt bị cáo Mai Công B 07 (bảy) năm tù; thời hạn tù tính từ ngày 25/09/2022.

2. Căn cứ khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự 2015.

- Tịch thu, tiêu hủy 01 phong bì (chứa mẫu vật sau giám định gồm: 01 thẻ nhựa, 01 tờ tiền pholyme mệnh giá 20.000 đồng…) được niêm phong chứa ma túy sau giám định số: 2068/KL-KTHS ngày 30/9/2022 của Phòng K (PC09) Công an tỉnh Đ và 01 đĩa sứ;

- Tịch thu, sung ngân sách nhà nước 01 đèn chiếu không rõ nhãn hiệu, 01 loa hiệu H@F, 01 loa hiệu soundmax A-4000, 01 điện thoại Iphone 6 màu xám số sim 0343842903.

(Toàn bộ vật chứng đang tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Trảng Bom theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 20/02/2023).

3. Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Mai Công B phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. * Nơi nhận:

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- Bị cáo;

Cỡ chữ