vanban.org

Bản án 51/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Thanh Oai, TP. Hà Nội Tuyên án 06/07/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy - phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (điều 255 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 255 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TO, TP. HN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 51 /2023/HS - ST
Ngày 06/7/2023
V/v: Nguyễn Đức T, Nguyễn Thị H“Tổ chức sử
dụng trái phép chất ma túy”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG H XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TO, THÀNH PHỐ HN

Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa: Ông NGUYỄN TIẾN HÙNG

Các hội thẩm nhân dân:

Ông LÊ HUY TRỌNG, Cán bộ nghỉ hưu xã Tam Hưng, huyện TO.

và bà NGUYỄN THỊ NGUYỆT, Cán bộ nghỉ hưu xã Cao Viên, huyện TO.

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà LÊ THỊ THU HÀ,Thư ký Tòa án nhân dân huyện TO.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện TO tham gia phiên tòa:

Bà NGUYỄN THỊ BÍCH NGUYỆT – Kiểm sát viên.

Trong ngày 06 tháng 7 năm 2023, tại Trụ sở, Tòa án nhân dân huyện TO, Thành phố HN, tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hình sự thụ lý số: 41/2023/TLST- HS ngày 01 tháng 6 năm 2023 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 44/2023/QĐXXST - QĐ ngày 08 tháng 6 năm 2023 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Nguyễn Đức T, tên gọi khác: Không có. Giới tính: Nam, sinh năm: 1974. Trú tại: Thôn Mỗ Xá, xã PN, huyện CM, TP. HN.Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không. nghề nghiệp: Lao động tự do.Trình độ văn hóa: 09/12.Chức vụ trước khi phạm tội (Đảng, chính quyền, đoàn thể): Không có. Họ tên bố: Nguyễn Đức T, Sinh năm: 1941,Họ tên mẹ: Trần Thị C, sinh năm: 1941.Gia đình bị cáo có 04 anh em, bị cáo là con thứ 3. Họ và tên vợ: Đỗ Thị Thúy và 02 con sinh năm 2001 và 2003.Nhân thân: Năm 2010 bị TAND huyện CM, thành phố HN xử phạt 12 tháng cải tạo không giam giữ về tội Đánh bạc. T sự: Không T án: Bản án số 75/2021/HS- ST ngày 25/6/2021 bị Tòa án nhân dân huyện CM xử 10 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 20 tháng về tội “Đánh bạc”, chưa chấp hành xong bản án. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/12/2022 Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 Công an thành phố HN.

2. Họ và tên: Nguyễn Thị H, tên gọi khác: Không có. Giới tính: Nữ, sinh năm: 1980.Trú tại: Khu 8, xã Hạ Giáp, huyện PN, tỉnh PT. Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh, tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Lao động tự do

.Trình độ văn hóa: 3/12.Chức vụ trước khi phạm tội (Đảng, chính quyền, đoàn thể): Không; Họ tên bố: Nguyễn Văn T, sinh năm: 1952. Họ tên mẹ: Nguyễn Thị T, sinh năm: 1952.Gia đình bị cáo có 03 anh em, bị cáo là con thứ 2.Họ và tên chồng: Nguyễn Phương Nam (Đã ly hôn).Có 2 con, sinh năm 2002 và 2007.T án, T sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/12/2022 Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 Công an thành phố HN. Tại phiên tòa các bị cáo có mặt:

NỘI DUNG VỤ ÁN;

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 00 giờ 30 phút ngày 29/12/2022, Nguyễn Thị H đang ở phòng trọ số 5, tầng 2 của gia đình bà Nguyễn Thị Nhất, sinh năm 1969 ở Phố Vác, xã Dân H, huyện TO, thành phố HN thì nhận được cuộc gọi của Nguyễn Đức T, sinh năm 1974, HKTT: Cốc Chùa, thôn Mỗ Xá, xã PN, huyện CM, thành phố HN rủ đi ăn đêm ở phố Vác, xã Dân H, H đồng ý. Khoảng 01 giờ 10 phút cùng ngày, H và T gặp nhau tại quán, quá trình ăn uống H rủ T mua 01 viên ma túy loại kẹo và nửa chỉ ma túy loại ketamine để cùng nhau sử dụng tại phòng trọ của H, T đồng ý. Do H không có T nên T đưa cho H 1.000.000 đồng để mua ma túy. Sau đó, H sử dụng số điện thoại 0368800312 gọi điện cho người đàn ông tên Sơn (không rõ lai lịch, địa chỉ) có số điện thoại 0879028991 để hỏi mua ma túy. Sơn báo giá bán ma túy là 1.550.000 đồng, H nói với Sơn “Chị chỉ có 1 triệu đồng, số còn lại chị nợ vài hôm chị trả”, Sơn đồng ý. H bảo Sơn mang ma túy đến cửa phòng trọ đưa cho H. Khoảng 02 giờ 30 phút cùng ngày, Sơn đến trước cửa nhà trọ đưa cho H 01 viên nén màu nâu hình trái tim (là ma túy kẹo) và 01 túi nilon chứa chất bột màu trắng (là ma túy ketamine), H đưa cho Sơn 1.000.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, H mang vào phòng trọ bẻ viên ma túy kẹo làm đôi H và T mỗi người sử dụng 1 nửa. H tiếp tục đổ gói ma túy “ketamine” ra 01 đĩa sứ rồi dùng thẻ nhựa cứng có sẵn trong phòng để xào và cuốn 01 tờ T polime mệnh giá 10.000 đồng thành tẩu hút. Sau đó H và T bật nhạc, cùng nhau sử dụng ma túy “ketamine” đến khoảng 03 giờ 30 phút cùng ngày thì bị lực lượng công an xã Dân H kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang. Cùng ngày, Công an xã Dân H đã bàn giao các đối tượng cùng tang vật đến cơ quan điều tra Công an huyện TO.

Vật chứng thu giữ:

- 01 đĩa sứ màu trắng hình tròn đường kính 25 cm.

- 01 thẻ nhựa hình chữ nhật màu trắng có chữ Microsim.

- 01 tờ T polime mệnh giá 10.000 đồng được cuốn thành tẩu.

- Chất bột màu trắng nghi là ma túy thu giữ trên mặt đĩa sứ.

- 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu xanh đã qua sử dụng lắp sim số 0368 800 312 , số IMEI 1: 862173069622738, số IMEI 2: 862173069622720.

Tại bản kết luận giám định số 127 ngày 06/01/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố HN, xác định:

- 01 tẩu hút được cuộn bằng tờ T 10.000 VNĐ, 01 thẻ nhựa hình chữ nhật màu vàng có dòng chữ Microsim (ký hiệu M1) đều có dính ma túy loại Ketamine.

- Chất bột màu trắng được thu trên 01 đĩa sứ màu trắng (ký hiệu M2) là ma túy loại Ketamine, khối lượng 0,174 gam.

- Trong mẫu nước tiểu của Nguyễn Thị H (ký hiệu M3), Nguyễn Đức T (ký hiệu M4) thu giữ ngày 29/12/2022 đều có tìm thấy ma túy loại MDMA và ma túy loại Ketamine.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện TO, Thành phố HN thực hiện quyền công tố, luận tội, giữ nguyên quyết định truy tố như nội dung bản Cáo trạng số: 42/CT – VKS ngày 30/5/2023.

Căn cứ tính chất, mức độ phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng và xử phạt:

Khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51, điêm h khoản 1 điều 52, điều 38, điều 56, khoản 5 điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Nguyễn Đức T mức hình phạt từ: 36 (ba mươi sáu) tháng tù đến 42(bốn mươi hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam về tội: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Tổng hợp với hình phạt 10 tháng tù của bản án số: 75/2021/ HS – ST ngày 25/6/2021 của Tòa án nhân dân huyện CM, HN buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án từ 46(bốn mươi sáu) tháng tù đến 52(năm mươi hai) tháng tù, được trừ thời gian bị tạm giữ tại bản án số 75 ngày ngày 25/6/2021 của Tòa án huyện CM.

Khoản 1 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Nguyễn Thị H mức hình phạt từ: 30 (ba mươi)tháng tù đến 36(ba mươi sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam về tội: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.

Về phạt bổ sung: Không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định.

Về án phí: Các bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

Về vật chứng: Áp dụng điều 47 Bộ luật hình sự, điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Đề nghị HĐXX xử lý theo quy định của pháp luật.Tiêu hủy chất ma túy hoàn lại sau giám định, đĩa sứ, thẻ nhựa vàng, tịch thu sung công 01 điện thoại và tờ T mệnh giá 10.000đồng

Các bị cáo không bào chữa và tranh luận, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ;

Trên cơ sở nội dung của vụ án, căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

.Về tố tụng: Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân, Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng quy trình Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Đức T, Nguyễn Thị H không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và tại phiên tòa không kêu oan. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng quy định của pháp luật.

.Về tội danh và điều luật áp dụng: Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của nhau với biên bản phạm tội quả tang, tang vật thu giữ và các tài liệu khác được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án đã được kiểm tra tại phiên tòa, có đủ căn cứ để xác định:

Trong khoảng thời gian từ 02 giờ 30 đến 03 giờ 30 phút ngày 29/12/2022, tại phòng trọ số 5, tầng 2 của gia đình bà Nguyễn Thị Nhất ở Phố Vác, xã Dân H, huyện TO, thành phố HN, Nguyễn Đức T và Nguyễn Thị H đã cùng nhau tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy thì bị công an xã Dân H bắt quả tang. Thu giữ 0,174 gam ma túy loại Ketamine.

Bản Cáo trạng số: 42/CT – VKS ngày 30/5/2023 Viện kiểm sát nhân dân huyện TO, Tp. HN đã truy tố các bị cáo Nguyễn Đức T, Nguyễn Thị H về tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 255 Bộ luật hình sự năm 2015 ( Đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ đúng người, đúng pháp luật.

Điều 255. Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy

“1. Người nào tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy dưới bất kỳ hình thức nào, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

Xét tính chất vụ án: Đây là vụ án có tính nguy hiểm cho xã hội bởi hành vi Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy của các bị cáo là nghiêm trọng, đã trực tiếp xâm phạm đến hoạt động quản lý các chất cấm, gây nghiện, xâm phạm đến an ninh, trật tự địa phương, nơi công cộng và còn là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác phát sinh từ hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy của bị cáo vì vậy cần có một mức hình phạt nghiêm khắc cách ly các bị cáo khỏi xã hội một thời gian để giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung.

.Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

.Tình tiết tăng nặng: Nguyễn Thị H không có tình tiết tăng nặng. Đối với Nguyễn Đức T sau khi được H rủ sử dụng ma túy đã đồng ý và bỏ T cho H mua ma túy về cùng sử dụng, là người có nhân thân xấu năm 2021 bị Tòa án nhân dân huyện CM xử phạt 10 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 20 tháng về tội Đánh bạc chưa được xóa án tích, nên lần phạm tội này thuộc trường hợp tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 điều 52 Bộ luật hình sự vì vậy mức án của T trong vụ án này phải cao hơn H và buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án.

.Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo, thể hiện sự ăn năn hối cải của bản thân vì vậy cho các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật.

.Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo.

Đối với người đàn ông tên Sơn sử dụng số điện thoại 0879028991 để trao đổi mua bán ma túy với H. H không biết tên tuổi, địa chỉ cụ thể của Sơn, cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh các xã lân cận nhưng không làm rõ được nhân thân lai lịch của người đàn ông tên Sơn. Mặt khác Cơ quan điều tra xác định số điện thoại 0879028991 đứng tên chị Đỗ Thị Kiều Hoa sinh ngày 01/3/2023 địa chỉ: Buôn Kiều Yang Mao, huyện Kroong Bông, tỉnh Đăk Lăk, chị Hoa không sử dụng số điện thoại trên, không biết số điện thoại 0879028991 là của ai nên không có căn cứ để xử lý là có căn cứ.

Đối với gia đình bà Nguyễn Thị Nhất sinh năm 1969 ở Phố Vác, xã Dân H, huyện TO, thành phố HN có cho Nguyễn Thị H thuê phòng trọ nhưng gia đình bà Nhất không biết H tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy nên không đề cập xử lý nên không xem xét.

.Về tang vật: Chất ma túy, đĩa sứ, thẻ nhựa trong phong bì thư hoàn lại sau giám định cần tiêu hủy, đối với điện thoại của H liên quan đến việc mua ma túy cần tịch thu sung công, tịch thu sung công tờ T Polime mệnh giá: 10.000 đồng.

.Về án phí: Căn cứ Khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 các bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm.

.Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH;

. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Đức T và Nguyễn Thị H, phạm tội: “ Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

. Áp dụng: Khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1 điều 51, điểm h khoản 1 điều 52, điều 38, khoản 5 điều 65, điều 56 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt: Nguyễn Đức T : 36(ba mươi sáu) tháng tù. Tổng hợp với hình phạt 10 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 20 tháng của bản án số: 75/2021/HS – ST ngày 25/6/2021 của Tòa án nhân dân huyện CM, thành phố HN. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là: 46(bốn mươi sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam là ngày 29/12/2022, được trừ thời gian bị tạm giữ từ ngày 17/12/2020 đến ngày 25/12/2020 của bản án số 75/2021/HS – ST ngày 25/6/2021 của Tòa án nhân dân huyện CM, thành phố HN.

Áp dụng: Khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1 điều 51, điều 38 bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt: Nguyễn Thị H: 30(ba mươi) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam là ngày 29/12/2022.

. Về xử lý vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 47 BLHS năm 2015; Điểm a khoản 2,3 Điều 106 BLTTHS năm 2015.

Tịch thu tiêu hủy:

01 bọc hoàn lại sau giám định của phòng PC09 – Công an HN bên trong có đĩa sứ, màu trắng hình tròn, đường kính 25 cm, thẻ nhựa hình chữ nhật, tại các mép dán có chữ ký của bị cáo Nguyễn Đức T, Nguyễn Thị H, đồng chí Nguyễn Duy Trung và giám định viên .

01 phong bì hoàn lại sau giám định của phòng PC09 – Công an HN bên trong có mẫu vật hoàn lại, tại các mép dán có chữ ký của bị cáo Nguyễn Đức T, Nguyễn Thị H, đồng chí Nguyễn Duy Trung và giám định viên .

Tịch thu phát mãi sung công:

01 chiếc điện thoại OPPO màu xanh đã qua sử dụng, số Imel 1-862173069622738; số Imel 2 - 8621730696227220 lắp sim số: 0368.800.312 được niêm phong trong phong bì thư có chữ ký niêm phong của Nguyễn Thị H và 01 tờ T Polyme mệnh giá 10.000đồng

Toàn bộ tang vật, vật chứng được thể hiện tại biên bản giao nhận vật chứng giữa cơ quan điều tra công an huyện TO và Chi cục T hành án Dân sự huyện TO lập ngày 01 tháng 6 năm 2023.

. Án phí và quyền kháng cáo của bị cáo: Áp dụng các điều 136.331.333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Nghị quyết số 326/2016 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí tòa án.

Bị cáo Nguyễn Đức T, Nguyễn Thị H mỗi bị cáo phải nộp: 200.000 đồng T( Hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo có mặt, có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án là ngày 06/7/2023.

Cỡ chữ