- Tranh chấp gì? án hình sự — "Pham văn L pham tôi trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Phạm Văn L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 138 Bộ luật Hình sự; Điều 231 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N C TỈNH THANH HÓA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 51/2017/HSST Ngày 28/12/2017 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N C, TỈNH THANH HÓA
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Hữu Thắng
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Dệt
Ông Đỗ Thị Thu
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Lê Thị Liên - Cán bộ Tòa án nhân dân huyện N C, tỉnh Thanh Hóa.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N C, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Anh Quang - Kiểm sát viên.
Trong ngày 28 tháng 12 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện N C, tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 51/2017/HSST ngày 21 tháng 11 năm 2017, đối với bị cáo:
Phạm Văn L, sinh năm 1988; sinh và trú tại: Thôn 4, xã T Th, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ văn hóa: Lớp 9; con ông: Phạm Văn L và bà Lê Thị L; Có vợ là Nguyễn Thị C và có 03 con, lớn nhất sinh năm 2011, nhỏ nhất sinh năm 2017; Tiền án: Tháng 11 năm 2015 bị Tòa án nhân dân huyện N C, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 12 tháng tù về tội “trộm cắp tài sản”, chấp hành xong tháng 7 năm 2016; Tiền sự: không; Bị bắt tạm giữ ngày 26/9/2017, chuyển tạm giam ngày 05/10/2017 tại Trại tạm giam thuộc Công an tỉnh Thanh Hóa đến nay; có mặt tại phiên tòa.
*Người bị hại:
- Anh Trần Văn Ph – Sinh năm 1981( Vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn 8 Tân Sơn xã T Kh huyện N C tỉnh Thanh Hóa
NHẬN THẤY
Bị cáo bị Viện kiểm sát nhân dân huyện N C, tỉnh Thanh Hóa truy tố về hành vi phạm tội như sau:
Khoảng 0 giờ ngày 26/9/2017 Lê Bật T, sinh năm 1990 ở xóm 12, xã T N, huyện Tr S, tỉnh Thanh Hóa đến rủ Phạm Văn L đi trộm cắp gỗ. Do cần tiền tiêu xài cá nhân nên L đồng ý. Sau đó T điều khiển xe mô tô, BKS 36B5-288.82 chở L đi đến xã T Kh, huyện N C. Khi thấy có đống gỗ keo tại bãi cát trước nhà anh Trần Văn Ph, ở thôn 8, xã T Kh, huyện N C thì T dừng xe lại. Cả hai xuống xe và cùng khiêng 01 khúc gỗ keo đặt nằm ngang lên yên xe. L ngồi sau ôm khúc gỗ còn T điều khiển xe chở khúc gỗ về hướng xã T N, huyện Tr S. Khi đi đến đoạn đường thuộc địa phận thôn 2, xã T Kh, huyện N C thì khúc gỗ trên va vào chiếc xe taxi ven đường, làm cả hai bị ngã, còn khúc gỗ lăn ra đường. Do bị va quyệt trầy xước xe nên L đi cùng người lái xe taxi xuống thành phố Thanh Hóa để sửa chữa. Tâm bỏ lại khúc gỗ ở đường và điều khiển xe mô tô đi về nhà. Đến chiều ngày 26/9/2017 Lâm tới Cơ quan CSĐT Công an huyện N C đầu thú, khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Theo báo cáo của anh Trần Văn Ph: Tài sản của anh bị mất trộm vào ngày 26/9/2017 là 01 khúc gỗ keo, dài 03 mét, đường kính 20 cm, đã được bóc vỏ ngoài. Khúc gỗ trên anh mua về để làm gỗ cách đây khoảng 01 tháng với giá 300.000đ. Anh Ph nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì thêm về phần dân sự.
Ngày 28/9/2017 Hội đồng định giá huyện N C đã tiến hành định giá đối với khúc gỗ keo trên. Kết luận: Tại thời điểm bị mất trộm, khúc gỗ trên có trị giá 300.000đ.
Đối với chiếc xe mô tô, BKS 36 B5-288.82 do Lê Bật Tâm sử dụng chở Lâm đi trộm cắp tài sản. Qua điều tra xác định là xe của anh Lê Bật Toàn (là em ruột của Tâm), Khi cho Tâm mượn xe, anh Toàn không biết Tâm sử dụng xe để làm phương tiện đi trộm cắp tài sản. Do kh«ng chøng minh ® îc lçi cña chñ xe nªn cơ quan CSĐT Công an huyện Nông Cống đã trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp. Đối với Lê Bật T, chưa có tiền án tiền sự, cơ quan CSĐT Công an huyện N C đã ra quyết định xử lý hành chính là đúng quy định.
Tại bản cáo trạng số: 53/CTr - VKS ngày 21/11/2017 của VKSND huyện N C truy tố Phạm Văn L ra trước toà để xét xử về tội: “ Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 điều 138 BLHS.
Tại phiên toà công khai bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình và xin giảm nhẹ hình phạt. Đại diện VKS luận tội khẳng định bị cáo Phạm Văn L phạm tội “Trộm cắp tài sản” Căn cứ vào khoản 1 điều 138 điểm p, g khoản 1 điều 46, khoản 2 điều 46 và điều 33 BLHS đề nghị HĐXX tuyên phạt bị cáo Phạm Văn L từ 06 đến 09 tháng tù. Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo. Trách nhiệm dân sự: Tài sản đã trả lại cho người bị hại. Bị cáo thuộc hộ cận nghèo, nên được miễn tiền án phí theo quy định của pháp luật.
-
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ và toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.
XÉT THẤY
Thông qua xét hỏi và tranh luận tại phiên toà bị cáo Phạm Văn L thừa nhận: Vào rạng sáng ngày 26/9/2017 L và T đã lén lút lấy trộm 01 khỳc gỗ keo, dài 03 mét, đường kính 20 cm, đó được bóc vỏ ngoài của anh Trần Văn Ph
Đối chiếu với lời khai của bị cáo trong hồ sơ vụ án, người bị hại, biên bản định giá tài sản và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án thấy hoàn toàn phù hợp. Tuy tài sản chiếm đoạt trị giá 300.000đ, nhưng trước đó bị cáo đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xóa án tích nên phạm vào khoản 1 điều 138 BLHS. Như vậy HĐXX xét thấy đủ cơ sở khẳng định: Bị cáo Phạm Văn L phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Tội phạm được thành lập theo khoản 1 điều 138 BLHS. VKSND huyện Nông Cống truy tố bị cáo theo tội danh trên, là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Tính chất của vụ án là ít nghiêm trọng, nguyên nhân, động cơ và mục đích phạm tội của bị cáo là muốn trộm cắp tài sản để bán lấy tiền tiêu xài. Hành vi của bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân, làm mất trật tự trị an trên địa bàn, gây tâm lý lo lắng trong nhân dân về việc bảo vệ giữ gìn tài sản, gây bất bình trong dư luận. Bị cáo đang độ tuổi lao động lẽ ra phải tu chí làm ăn, xây dựng cuộc sống giúp đỡ gia đình vợ con. Song, với bản tính thích chơi bời hưởng thụ, không chịu lao động làm ăn lương thiện, muốn lấy của cải người khác làm của riêng mình. Hành vi của bị cáo cần xử lý nghiêm trước pháp luật để răn đe và phòng ngừa chung.
Xét các tình tiết khác thì thấy: Bị cáo có tiền án, phạm tội lần này chưa đủ định lượng nên không tính tái phạm. Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, phạm tội gây thiệt hại không lớn, nên được hưởng tình tiết theo điểm p, g khoản 1 điều 46 BLHS. Sau khi phạm tội đã ra đầu thú nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 điều 46 BLHS. Căn cứ vào tính chất và các tình tiết của vụ án, HĐXX xét thấy bị cáo là đối tượng mới ra tù lại tiếp tục phạm tội, nên cần phải áp dụng hình phạt nghiêm khắc trong môi trường giam giữ là cần thiết. Có như vậy mới đủ điều kiện để cải tạo, giáo dục bị cáo thành công dân có ích cho xã hội.
Hình phạt bổ sung: Bị cáo là con nghiện hoàn cảnh gia đình khó khăn, nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Tài sản đã trả lại cho người bị hại, người bị hại không yêu cầu gì thêm, nên Toà không xem xét.
Về án phí: Bị cáo có tội nên phải chịu án phí HSST.Tuy nhiên gia đình bị cáo thuộc hộ nghèo, nên căn cứ Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH 14 miễn tiền án phí HSST cho bị cáo.
Từ những căn cứ nêu trên
QUYẾT ĐỊNH
- Tuyên bố: Bị cáo Phạm Văn L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Áp dụng: Khoản 1 Điều 138; điểm p, g Khoản 1 Điều 46, Khoản 2 Điều 46; Điều 33 BLHS.
- Xử phạt: Bị cáo Phạm Văn L 09( chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 26/9/2017.
Miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Trách nhiệm dân sự: Tài sản đã trả lại đầy đủ cho người bị hại. Người bị hại không yêu cầu gì thêm nên HĐXX không xem xét.
- Án phí: Áp dụng điều 99 BLTTHS. Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án. Miễn toàn bộ án phí HSST cho Phạm Văn L.
- Quyền kháng cáo: Áp dụng điều 231, 234 BLTTHS tuyên bố quyền kháng cáo cho bị cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với người bị hại vắng mặt thời hạn kháng cáo bản án là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
- Bị cáo;
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
- VKSND huyện N C;
- Cụng an huyện N C;
- TAND tỉnh Thanh Hóa;
- Cơ quan Thị hành án DS;
- Sở tư pháp tỉnh Thanh Hóa;
- Lưu: Hồ sơ, Vp.
Phạm Hữu Thắng
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lª ThÞ DÖt
§ç ThÞ Thu
Ph¹m H÷u Th¾ng
- Toµ ¸n tØnh Thanh Ho¸
thÈm ph¸n – chñ täa phiªn tßa
- VKS huyÖn N«ng cèng
- Chi côc thi hµnh ¸n DS N/C
- C«ng an huyÖn N«ng cèng
- BÞ c¸o;
- Ng¬× bÞ h¹i;
- Thi hµnh ¸n h×nh sù
ph¹m h÷u th¾ng
- Lu hå s¬
Quá trình điều tra Tâm còn khai nhận: Ngoài lần trộm cắp tài sản vào ngày 26/9/2017, thì vào khoảng giữa tháng 9/2017, Lê Bật Tâm và Phạm Văn Lâm còn thực hiện 01 vụ trộm cắp 01 khúc gỗ keo, chiều dài khoảng 03m, đường kính khoảng 20 cm của 01 nhà dân ở xã Tân Khang, huyện Nông Cống. Tuy nhiên chưa xác định được bị hại nên không có căn cứ để xử lý.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKSND huyện Nông Cống;; - Công an huyện Nông Cống; - TAND tỉnh Thanh Hóa¸; - Cơ quan Thị hành án ; - Sở tư pháp tỉnh Thanh Hóa; - Lưu: Hồ sơ, Vp. héi ®ång xÐt xö s¬ thÈm c¸c Héi thÈm nh©n d©n NguyÔn ThÞ Anh Lª ThÞ D©n Khang, huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa: Vào sáng ngày 26/9/2017, khi anh thức dậy, ra ngõ để tập thể dục thì phát hiện tại đoạn đường trước nhà có 01 khúc gỗ keo, do sợ khúc gỗ có thể làm ảnh hưởng đến giao thông nên anh lôi khúc gỗ vào khu vực ngõ nhà mình. Đến chiều ngày 26/9/2017 khi nghe tin Công an xã Tân Khang thông báo khúc gỗ trên là vật chứng của vụ án, anh đã tự nguyện giao nộp khúc gỗ trên cho cơ quan Công an để làm ăn cứ giải quyết vụ việc. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Văn Tình ThÈm ph¸n - chñ to¹ phiªn toµ NguyÔn ThÞ HuÖ Theo báo cáo của anh Nguyễn Tất Dậu, sinh năm 1983 ở thôn 2, xã Tân |