vanban.org

Bản án 504/2025/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "TCSDMT - phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (điều 255 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC
2
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 504/2025/HS-ST.
Ngày: 16/12/2025.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Xuân Dũng.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Huỳnh Thị Thanh Thảo;

2. Ông Võ Văn Lợi.

- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Hằng Nga – Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 2 - Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2 - Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Xuân – Kiểm sát viên

Ngày 16 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 2 - Thành phố Hồ Chí Minh, tiến hành xét xử sơ thẩm công khai dưới hình thức trực tiếp Vụ án hình sự thụ lý số: 437/2025/TLST-HS ngày 06/11/2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 533/2025/QĐXXST-HS ngày 28/11/2025 đối với bị cáo:

Nguyễn Xuân L, sinh ngày 19/3/2000, tại tỉnh Thanh Hóa; nơi thường trú: Thôn N, xã S, tỉnh Đắk Lắk; nơi ở hiện tại: 5 K, phường H, Thành phố Hồ Chí Minh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 6/12; nghề nghiệp: Giao hàng; con ông Nguyễn Xuân N, sinh năm 1970 và bà Nguyễn Thị K, sinh năm 1975. Bị cáo là con thứ hai trong gia đình có 03 anh em; Vợ, con: Chưa có.

Tiền án, tiền sự: Không có.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 23/5/2025 đến nay, có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 23 giờ 30 phút, ngày 30/4/2025, Công an P, quận B (nay là Công an phường B, Thành phố Hồ Chí Minh) tuần tra đến trước địa chỉ 5 B, Phường B, quận B (nay là phường B, Thành phố Hồ Chí Minh) thì phát hiện Nguyễn Xuân L và Hồ Thế S có biểu hiện nghi vấn sử dụng trái phép chất ma tuý nên tiến hành kiểm tra và đưa về Công an phường để làm việc. (Bút lục 01)

Tiến hành đưa Nguyễn Xuân L và Hồ Thế S đến Bệnh viện quận B để xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể cả hai đều dương tính ma túy (MET). (Bút lục 17-18, 95-96)

Tại Công an phường, Nguyễn Xuân L và Hồ Thế S khai nhận cùng nhau sử dụng trái phép chất ma túy tại địa chỉ số E đường K, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là phường H, Thành phố Hồ Chí Minh). L và S quen biết nhau khoảng 03 năm, từ năm 2022 đến tháng 06/2024, L và S có làm chung tại vựa hải sản trên đường K, phường H, thành phố T (nay là phường H, Thành phố Hồ Chí Minh). Trong khoảng thời gian này, L có sử dụng ma túy đá và biết S cũng sử dụng ma túy đá. Sau đó, L về quê tại Phú Yên, đến tháng 02/2025 thì L vào làm chung với S ở Cửa hàng bán hải sản, địa chỉ số E đường K, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là phường H, Thành phố Hồ Chí Minh). Tại đây, S được sắp xếp ngủ và sinh hoạt ở trong cửa hàng, còn L thì ngủ và sinh hoạt ở phòng trên gác phía bên hông cửa hàng. Đến đầu tháng 3/2025, L muốn sử dụng ma túy đá nên đã lên mạng kiếm và mua về sử dụng. Quá trình L sử dụng ma túy, S đã nhiều lần (07 lần) tự ý vào phòng L để lấy bộ dụng cụ và ma túy đá của L để sử dụng nhưng L không biết (L không sử dụng ma túy cùng S). Sau khi sử dụng ma túy xong thì S ra khỏi phòng để tiếp tục công việc hoặc làm việc cá nhân mà không nói cho L biết đã sử dụng ma túy tại phòng của L. Riêng ngày 21/04/2025, vào khoảng 22 giờ 00 phút, khi L vừa sử dụng ma túy đá trong phòng rồi đi mua nước thì thấy S ngồi một mình nên L đã gọi S lên phòng của L và lấy bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá của L sử dụng trước đó (đang còn ma túy trong ống thủy tinh) rồi dùng hộp quẹt bật lửa đốt nóng ma túy đưa S hút, S hút xong thì bỏ bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá xuống lại sàn nhà, sau đó ai muốn hút thì tự lấy hút, S tự hút được thêm khoảng 03 đến 04 lần rồi ra khỏi phòng, L hút hết phần ma túy đá còn lại trong ống thủy tỉnh thì đi ngủ. Bộ D sử dụng ma túy đá L đã vứt sọt rác vào sáng ngày 30/4/2025, ma túy đá L mua trước đó cũng đã sử dụng hết.

Về nguồn gốc ma túy, Nguyễn Xuân L khai nhận: L đã sử dụng mạng xã hội Facebook tìm người bán ma túy trong nhóm “Cấp nước B”, sau đó sử dụng tài khoản Zalo tên “Nguyễn L” kết bạn với tài khoản Zalo “Trọng Nguyễn” để hỏi mua ma túy và được người này đồng ý bán, giao dịch bằng hình thức chuyển khoản ngân hàng trước rồi đến vị trí lấy ma túy như đã hẹn. Lần gần nhất L mua ma túy đá của “Trọng Nguyễn” là vào ngày 21/4/2025 với giá 200.000 đồng, thanh toán bằng cách chuyển khoản đến số tài khoản 0703847051 thuộc Ngân hàng H mang tên Nguyễn Quốc T. Khi chuyển tiền mua ma túy, L đưa tiền mặt cho tài xế xe công nghệ đứng đợi trước chỗ cửa hàng nơi L làm việc để nhờ chuyển tiền đến tài khoản Nguyễn Quốc T, sau đó L sẽ đến lấy ma túy sau, L không nhớ đã từng nhờ ai chuyển tiền giúp, người chuyển tiền giúp không biết việc L chuyển tiền để thanh toán tiền mua ma túy. Ngày 30/4/2025, L có đặt mua của “Trọng Nguyễn” 500.000 đồng ma túy đá rồi dùng tài khoản ngân hàng số 76968888, thuộc Ngân hàng K1 mang tên Nguyễn Xuân L chuyển 400.000 đồng cho tài khoản Nguyễn Quốc T, còn 100.000 đồng thì khi nào lấy ma túy L sẽ đưa tiền mặt. Tuy nhiên, khi L đang đứng đợi ở hẻm E đường B, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là phường B, Thành phố Hồ Chí Minh) để lấy ma túy thì không thấy người này ra đưa, một lúc sau thì bị Công an Phường 8 kiểm tra hành chính và mời L về trụ sở Công an Phường. L đã mua ma túy đá của người nam giới đó khoảng hơn 01 tháng nay và đã mua được khoảng 04 lần, mỗi lần mua từ 200.000 đồng đến 300.000 đồng.

*Thu giữ tài liệu, đồ vật và xử lý vật chứng:

- Thu giữ của Nguyễn Xuân L: 01 điện thoại Iphone 14 Plus màu xanh da trời, số seri Y4T29XJ6V9 có gắn sim 0909643672.

Tại Cáo trạng số: 48/CT-VKSKV2 ngày 30/10/2025 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2 – Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Nguyễn Xuân L về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2025.

Tại phiên tòa:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2 - Thành phố Hồ Chí Minh vẫn giữ quan điểm truy tố đối với các bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp dụng khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 BLHS, xử phạt bị cáo L từ 03 (ba) năm đến 03 (ba) năm 6 (sáu) tháng tù.

- Về vật chứng: Đề nghị tịch thu sung quỹ chiếc điện thoại đã thu giữ của bị cáo.

- Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Bị cáo Nguyễn Xuân L khai nhận toàn bộ hành vi của mình như nội dung bản cáo trạng, thừa nhận toàn bộ hành vi như nội dung bản cáo trạng đã truy tố; không có ý kiến tranh luận đối với nội dung luận tội của đại diện Viện kiểm sát.

- Lời nói sau cùng: Bị cáo nhận thức được hành vi sai trái của mình, thật sự ăn năn hối cải mong Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt với mức án khoan hồng để bị cáo sớm có cơ hội trở về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Xét trong quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án này đều đúng pháp luật.

Xét trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi của mình, lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai của người liên quan; biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định, vật chứng thu giữ... cùng các tài liệu, chứng cứ mà Cơ quan điều tra đã thu thập được trong quá trình điều tra về hành vi, thời gian, không gian, địa điểm xảy ra tội phạm, phù hợp với cáo trạng của Viện kiểm sát nên có cơ sở xác định:

Vào khoảng 22 giờ 00 phút ngày 21/04/2025, Nguyễn Xuân L có hành vi cung cấp ma túy, địa điểm và dụng cụ sử dụng ma túy để cùng Hồ Thế S sử dụng trái phép chất ma túy loại Methamphetamine tại địa chỉ số E đường K, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là phường H, Thành phố Hồ Chí Minh).

Hành vi của Nguyễn Xuân L là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về quản lý các chất ma túy, tiếp tay cho các tệ nạn xã hội ngày càng phát triển, là nguyên nhân phát sinh nhiều loại tội phạm khác, gây mất trật tự, an toàn xã hội. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, biết rõ tác hại của ma túy và sự nghiêm cấm của pháp luật đối với hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Hành vi của Nguyễn Xuân L thỏa mãn đầy đủ các yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 255 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố các bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Đối với Hồ Thế S có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, không có hành vi cung cấp ma túy, dụng cụ, địa điểm sử dụng ma túy cho L nên không đủ cơ sở xử lý hình sự về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Công an phường H đã lập hồ sơ xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định.

Đối với đối tượng sử dụng tài khoản Zalo “Trọng Nguyễn” là người bán ma túy cho Nguyễn Xuân L: Kết quả xác minh số tài khoản 0703847051 thuộc Ngân hàng H do Nguyễn Quốc T, sinh ngày 02/10/1986; hộ khẩu thường trú: 306/76/42 X, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là phường T, Thành phố Hồ Chí Minh); nơi ở hiện tại: 5 B, khu phố F, phường B, Thành phố Hồ Chí Minh đứng tên. Tuy nhiên, qua xác minh Trọng hiện không thực tế cư trú tại địa phương, đi đâu không rõ. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra Thông báo truy tìm T nhưng đến nay vẫn chưa tìm được, khi nào làm việc được sẽ xem xét xử lý sau.

Về tình tiết định khung hình phạt:

- Bị cáo Nguyễn Xuân L tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, không vi phạm tình tiết định khung tăng nặng hình phạt khác nên thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2025.

Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với các bị cáo :

Về tình tiết tăng nặng: Không có.

Về tình tiết giảm nhẹ: Xét trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2025.

Hội đồng xét xử xét thấy hành vi của bị cáo là nghiêm trọng nên cần phải xử phạt các bị cáo với mức án nghiêm khắc, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội, cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung. Tuy nhiên, khi lượng hình phạt, Hội đồng xét xử cũng xem xét hoàn cảnh, nhân thân, sức khỏe, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo để có mức hình phạt phù hợp.

Về hình phạt bổ sung: Tại khoản 5 Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2025 quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, phạt quản chế, cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Xét quá trình điều tra và tại phiên phiên tòa có cơ sở xác định bị cáo L, không có công việc và thu nhập ổn định, do đó Hội đồng xét xử không xem xét áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng:

- 01 điện thoại Iphone 14 Plus màu xanh da trời, số seri Y4T29XJ6V9 có gắn sim 0909643672 là phương tiện mà bị cáo sử dụng để mua ma túy về sử dụng nên cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Về quyền kháng cáo, kháng nghị: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh:

- Căn cứ khoản 1 Điều 255 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2025

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Xuân L phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

2. Về hình phạt:

- Căn cứ khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2025, xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân L: 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 23/5/2025.

3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự,

- Tịch thu nộp ngân sách nhà nước: 01 điện thoại Iphone 14 Plus màu xanh da trời, số seri Y4T29XJ6V9 có gắn sim 0909643672.

(Theo Quyết định chuyển vật chứng số 41/QĐ-VKSKV2 ngày 29/10/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 – Thành phố Hồ Chí Minh và Biên bản giao nhận tang tài vật số: 046BB2/26 ngày 29/10/2025 của Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 2 – Thành phố Hồ Chí Minh).

4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

- Buộc bị cáo Nguyễn Xuân L nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ