- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt - phạm tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc (điều 322 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 201…"
- Tòa quyết gì? Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 50/2026/HS-PT Ngày: 12-3-2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Trọng Quế
Các Thẩm phán:
Ông Phan Thanh Hải
Ông Phùng Văn Định
- Thư ký phiên toà: Ông Phạm Hải Sơn, là Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Cà Mau.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Ông Quách Lý Hoàng Minh - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 3 năm 2026, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 19/2026/TLPT-HS ngày 23/02/2026 đối với bị cáo Nguyễn Minh N và đồng phạm do có kháng cáo của bị cáo Lưu Thanh H đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 02/2026/HS-ST ngày 09 tháng 01 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 8 - Cà Mau.
- Bị cáo có kháng cáo:
Lưu Thanh H, sinh ngày 01/01/1986 tại Bạc Liêu; số CCCD: 095086009761, nơi cấp: Cục C về TTXH Bộ C1; nơi cư trú: Ấp T, xã L, huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu (nay là ấp T, xã Đ, tỉnh Cà Mau); nghề nghiệp: Làm vuông; trình độ học vấn: 05/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lưu Văn L và bà Lê Thị H1 (đã chết); vợ tên Nguyễn Thị N1 và có 02 con; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo tại ngoại có mặt.
- Bị cáo không có kháng cáo, không bị kháng cáo và không bị kháng nghị (không được Tòa án triệu tập), gồm có: Nguyễn Minh N và Trương Văn H2.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (không được Tòa án triệu tập), gồm có: Nguyễn Văn N2, Nguyễn Đức G, Nguyễn Văn N3 và Phạm Khánh L1.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 11 giờ 20 phút, ngày 12/12/2024 lực lượng Công an kiểm tra, phát hiện bắt quả tang 10 đối tượng gồm: Nguyễn Minh N, Lưu Thanh H, Ngô Văn L2, Nguyễn Đức G, Nguyễn Văn N3, Nguyễn Văn N2, Phạm Khánh L1, Trịnh Văn H3, Trương Văn H2, Võ Văn L3 đang có mặt tại sân gà trước nhà Lưu Thanh H thuộc ấp T, xã L, huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu (nay là xã Đ, tỉnh Cà Mau). Một số đối tượng khác đã chạy thoát khi lực lượng Công an đến bắt quả tang. Tang vật thu giữ gồm: 04 con gà trống, 01 cặp cựa bằng kim loại, 03 cái giỏ đệm, 01 cái xô nhựa, 01 phần thân trên chai nhựa, 01 tấm nhựa; 02 bộ đàm nhãn hiệu BAOFENG màu đen và 02 bộ sạc. Ngoài ra còn tạm giữ trên người các đối tượng bị bắt quả tang số tiền 3.795.000 đồng và 08 điện thoại di động.
Quá trình điều tra xác định: Sáng ngày 12/12/2024, Nguyễn Minh N gọi điện rủ rê nhiều người tham gia đá gà thắng thua bằng tiền để lấy tiền xâu. N liên hệ với Lưu Thanh H mượn khu đất trước nhà của H để làm sân gà thì H đồng ý. Nhựt chuẩn bị sẵn 02 bộ đàm hiệu BAOFENG, N giữ 01 bộ đàm, đưa cho H 01 bộ đàm và phân công H canh đường khi có lực lượng chức năng thì thông báo qua bộ đàm cho N biết để giải tán sân gà. Khi nào tổ chức đá gà xong N sẽ trả tiền công cho H. N là người chuẩn bị băng keo, cựa gà, tấm nhựa, múc nước vẽ sân gà, quét dọn sân, trực tiếp cân gà, làm trọng tài, thu tiền của người thua giao cho người thắng và thu tiền xâu. Trong ngày này N và H đã tổ chức 02 độ gà, cụ thể:
Độ thứ nhất: Diễn ra giữa con gà cú trắng của người tên T đá với con gà xám của người thanh niên không rõ nhân thân do người tên Đ băng cựa, thả gà. Độ gà đá sổ 500.000 đồng và những người bên ngoài tham gia đá hàng sáo số tiền 1.000.000 đồng. Nếu đá sổ 500.000 đồng N lấy tiền xâu 100.000 đồng, đá hàng sáo 1.000.000 đồng N lấy sâu 30.000 đồng. Kết quả con gà cú trắng thắng. Nhựt thu 1.500.000 đồng từ những người thua rồi lấy 130.000 đồng tiền xâu, số tiền còn lại đưa cho những người thắng. Độ gà này có Nguyễn Đức G tham gia đá hàng sáo đặt cược gà xám thắng với số tiền 200.000 đồng.
Độ thứ hai: Diễn ra giữa con gà điều của Ngô Văn Lý do Trương Văn H2 mượn đá với gà bướm của người thanh niên không rõ nhân thân do người tên Đ băng cựa, thả gà. Độ gà đá sổ 500.000 đồng, ngoài ra H2 còn đá với người khác bên ngoài số tiền 500.000 đồng nhưng chưa có kết quả thắng thua thì bị lực lượng Công an bắt quả tang. Độ gà này có Trương Văn H2 đặt cược số tiền 1.000.000 đồng, Nguyễn Văn N3 và Nguyễn Văn N2 mỗi người đá hàng sáo số tiền 100.000 đồng.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 02/2026/HS-ST ngày 09/01/2026, Tòa án nhân dân khu vực 8 - Cà Mau đã quyết định: Căn cứ điểm d khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 58 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo H 01 (một) năm tù về tội “Tổ chức đánh bạc”. Ngoài ra, án sơ thẩm còn xử phạt đối với các bị cáo còn lại, xử lý vật chứng, án phí, quyền kháng cáo theo luật định.
Ngày 15/01/2026, bị cáo H kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Bị cáo H vẫn giữ nguyên kháng cáo.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau đề nghị: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo H4, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 02/2026/HS-ST ngày 09/01/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 8 - Cà Mau về phần hình phạt.
- Lời nói sau cùng của bị cáo: Thừa nhận hành vi phạm tội, xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Lưu Thanh H thừa nhận hành vi phạm tội, cụ thể: Ngày 12/12/2024, bị cáo H có cho bị cáo Nguyễn Minh N mượn phần sân trước nhà của H thuộc ấp T, xã Đ, tỉnh Cà Mau, để bị cáo N tổ chức, rủ rê những người khác tham gia đá gà thắng thua bằng tiền nhằm lấy tiền xâu. Trong đó, bị cáo N chuẩn bị sẵn 02 bộ đàm hiệu BAOFENG. Nhựt giữ 01 bộ đàm, đưa cho H 01 bộ đàm và phân công H canh đường khi có lực lượng chức năng thì thông báo qua bộ đàm cho N biết để giải tán sân gà. N còn chuẩn bị băng keo, cựa gà, tấm nhựa, múc nước vẽ sân gà, quét dọn sân, trực tiếp cân gà, làm trọng tài, thu tiền của người thua giao cho người thắng và thu tiền xâu. Bị cáo Trương Văn H2 có tiền sự về hành vi đánh bạc chưa được xóa, nay lại tiếp tục tham gia đá gà ở độ gà thứ hai với số tiền 01 triệu đồng. Đến 11 giờ 20 phút cùng, khi độ gà thứ hai đang diễn ra bị lực lượng Công an bắt quả tang. Với các tình tiết này, Tòa án nhân dân khu vực 8 - Cà Mau đã xét xử các bị cáo N và H về tội “Tổ chức đánh bạc” theo điểm d khoản 1 Điều 322 của Bộ luật Hình sự, xét xử bị cáo H2 về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ.
Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trong đó, hành vi của các bị cáo N và H thuộc trường hợp tội phạm nghiêm trọng, hành vi của bị cáo H2 thuộc tội phạm ít nghiêm trọng, trực tiếp xâm phạm đến trật tự công cộng, làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương. Các bị cáo tổ chức đánh bạc và đánh bạc vi phạm pháp luật hình sự, phạm tội phải bị xử lý và chịu hình phạt theo quy định.
Đối với kháng cáo của bị cáo H: Khi xét xử, cấp sơ thẩm đã có xem xét đầy đủ và toàn diện tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, áp dụng các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo gồm: Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Thân nhân bị cáo có người có công với cách mạng. Từ đó, cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo H 01 năm tù là phù hợp. Sau khi xét xử sở thẩm, bị cáo H kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, với lý do bị cáo là lao động chính trong gia đình, cha già yếu, vợ chồng có 02 con nhỏ (con lớn sinh năm 2009 và con nhỏ sinh năm 2010) và vợ đang chuẩn bị sinh con thứ ba. Tuy nhiên, các lý do này không phải là tình tiết giảm nhẹ mới để làm thay đổi mức hình phạt mà cấp sơ thẩm đã quyết định đối với bị cáo.
Do kháng cáo không được chấp nhận, nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Với các phân tích nêu trên, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tại phiên tòa được chấp nhận.
Các phần khác của án sơ thẩm không bị kháng cáo hoặc bị kháng nghị đã có hiệu lực thi hành kể từ khi hết hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lưu Thanh H. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 02/2026/HS-ST ngày 09/01/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 8 - Cà Mau về phần hình phạt.
2. Căn cứ điểm d khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 58 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo H 01 (một) năm tù về tội “Tổ chức đánh bạc”. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
3. Căn cứ vào khoản 2 Điều 136; Khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự phúc thẩm.
4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau; - Công an tỉnh Cà Mau; - Tòa án nhân dân khu vực 8-CM; - Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8-CM; - Phòng Thi hành án dân sự khu vực 8-CM; - Công an xã Đông Hải, tỉnh Cà Mau; - Bị cáo, người tham gia tố tụng khác; - Lưu: Hồ sơ vụ án, Tòa HS, án văn, VT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Trọng Quế |