- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn A phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt; Điều 173 Bộ luật hình sự xử phạt; Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 – G | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 50/2025/HSST Ngày: 03/9/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - G
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Linh.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Trần Thị Quế.
2. Bà Nguyễn Thị Tài.
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Bảo Trung - Cán bộ Tòa án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 4, tỉnh G: Bà Trần Thu Trang– Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 9 năm 2025, tại Hội trường Tòa án nhân dân huyện J, tỉnh G cũ số 08 Nguyễn Tất Thành, thôn 8 Lộc Thắng, xã J 1, tỉnh G xét xử lưu động công khai sơ thẩm theo thủ tục thông thường vụ án hình sự thụ lý số 28/2025/TLST-HS ngày 13/8/2025 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 47/2025/QĐXXST-HS ngày 20/8/2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Văn A; Tên gọi khác: Không có; sinh năm 1989 tại B (nay là tỉnh C); NKTT: Ấp Tam Hưng, xã Vĩnh Hưng, huyện D, tỉnh B (nay là xã E, tỉnh C); Chỗ ở: Nghĩa Lập 5, thị trấn Thạnh Mỹ, huyện F (nay là xã F), tỉnh G; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 7/12; Con ông Nguyễn Văn AA sinh năm: 1950; con bà Huỳnh Thị AB sinh năm: 1950, Chung sống như vợ chồng với Phan Thị Xuân AC, sinh năm: 1982 có 01 người con sinh năm 2019; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 19/3/2015, bị Công an huyện D, tỉnh B (cũ) xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi “Bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản của người khác” theo Quyết định 79/QĐ-XPHC.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 21/4/2025 cho đến nay tại Trại tạm giam số 1 Công an tỉnh G – Phân trại tạm giam khu vực số 8 (Phường 2 H), tỉnh G.
(Bị cáo có mặt tại phiên tòa)
* Người bị hại: Bà Vũ Thị Y, sinh năm 1981; địa chỉ: Thôn 1, xã Lộc An cũ nay là xã J 2, tỉnh G. (Có mặt tại phiên tòa).
* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Anh Trần Văn K, sinh năm 1995; địa chỉ: Thôn 5, xã Hòa Trung nay là xã L, tỉnh G.
- Ông Nguyễn Trường M, sinh năm 1980; Thôn Liên Trung, xã Tân Hà nay là xã Tân Hà N, tỉnh G.
(Bà Y, anh K và ông M vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
“Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:”
Khoảng tháng 2/2025, bị cáo Nguyễn Văn A đến làm thuê cho bà Vũ Thị Y, sinh năm: 1981, địa chỉ: thôn 1, xã Lộc An, huyện J nay là xã J 2, tỉnh G. Bà Y có thuê xưởng để A và Trần Văn K làm việc. Nhiệm vụ của A và K được bà Y giao là chà giấy nhám, đánh bóng, sơn hoàn thiện các bộ bàn ghế. Khi thuê xưởng, để thuận lợi cho công việc, bà Y giao chìa khóa xưởng cho A ở lại xưởng để làm việc, còn K thì sáng đi làm, tối về nhà. Do không có tiền tiêu xài nên A nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. Tối ngày 16/4/2025, A có lên mạng tìm thông tin cửa hàng nội thất Trường M ở xã Tân Hà, huyện N nay là xã Tân Hà N, tỉnh G để hỏi bán các bộ bàn ghế. A có nói với ông Nguyễn Trường M, sinh năm: 1980; địa chỉ: thôn Liên Trung, xã Tân Hà, huyện N nay là xã Tân Hà N, tỉnh G – chủ cửa hàng Trường M bán ghế, tủ muốn bán là của A. Đến sáng 17/4/2025 A chụp ảnh các bộ bàn ghế gửi qua zalo cho M để M xem hàng và báo giá từng bộ bàn ghế thì M đồng ý mua. Sau đó, A lên mạng xã hội tìm xe để thuê vận chuyển hàng hóa, sau khi thống nhất giá cả vận chuyển thì A có hẹn xe đến xưởng của bà Y. Đến 4 giờ sáng ngày 18/4/2025, A ngắt nguồn điện ở camera của xưởng, A cùng tài xế mà A thuê trước đó lấy 03 bộ bàn ghế, 01 kệ tủ ti vi từ trong xưởng lên xe, sau đó chở bàn ghế và tủ đến cửa hàng nội thất Trường M bán được 19.500.000 đồng sau đó A về nhà của mình tại huyện F, tỉnh G. Đến chiều tối ngày 20/4/2025 do không liên lạc được với A nên bà Y đã đến xưởng kiểm tra thì phát hiện bị mất 03 bộ bàn ghế và 01 kệ tủ ti vi nên đã trình báo cơ quan công an, sau đó A đã ra cơ quan công an đầu thú về hành vi phạm tội của mình.
Tại Kết luận định giá số 12/KL-HĐĐGTS ngày 24/4/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện J, kết luận: 01 bộ bàn ghế gỗ Y nhập khẩu gồm 7 món (đã đánh bóng, sơn lót PU) trị giá 27.000.000 đồng; 01 bộ bàn ghế gỗ Y nhập khẩu gồm 7 món (chưa đánh bóng, sơn lót PU) trị giá 21.333.000 đồng; 01 bộ bàn ghế gỗ Y nhập khẩu gồm 5 món (loại bộ ghế sô pha, chưa đánh bóng, sơn lót PU) trị giá 18.667.000.000 đồng; 01 kệ tủ ti vi bằng gỗ Y nhập khẩu trị giá 4.667.000 đồng. Tổng trị giá tài sản bị trộm cắp là 71.667.000 đồng.
Cáo trạng số 27/CT-VKS-KV4 ngày 12 tháng 8 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 4, tỉnh G truy tố bị cáo Nguyễn Văn A về tôi về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm c khoản 2 điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa:
- Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên nội dung truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn A phạm tội “Trộm cắp tài sản”; áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173; điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự đề nghị xử phạt bị cáo A từ 24 tháng 30 tháng tù; tịch thu sung Ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động Oppo A5s màu xanh, số Imei 86522044004616 kèm theo sim số 0789230519 của Nguyễn Văn A và buộc bị cáo chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
- Bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, diễn biến như nội dung bản cáo trạng, không thắc mắc, khiếu nại hay tranh luận gì.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo nhận thức được hành vi phạm tội của mình và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên Công an huyện J; Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện J trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về tội danh: Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp lời khai người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, vật chứng thu giữ Hội đồng xét xử có đủ căn cứ khẳng định: Do cần tiền tiêu xài nên ngày 18/4/2025, tại thôn 4, xã Lộc An, huyện J nay là xã J 2, tỉnh G bị cáo Nguyễn Văn A đã lén lút chiếm đoạt 02 bộ bàn ghế gỗ Y nhập khẩu gồm 7 món; 01 bộ bàn ghế gỗ Y nhập khẩu gồm 5 món và 01 kệ tủ ti vi bằng gỗ Y nhập khẩu với tổng trị giá 71.667.000 đồng của bà Vũ Thị Y. Hành vi chiếm đoạt tài sản của bà Y nêu trên đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự. Do đó, Viện kiểm sát truy tố bị cáo tại phiên tòa hôm nay là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội: Bị cáo là người trưởng thành, có đầy đủ sức khỏe và khả năng nhận thứ về hành vi phạm tội của mình là nguy hiểm cho xã hội. Nhưng chỉ vì lòng tham muốn hưởng lợi không bằng sức lao động của bản thân, bị cáo đã lợi dụng sự tin tưởng chủ sở hữu khi giao chìa khóa kho xưởng cho bị cáo quản lý nhưng bị cáo lại chiếm đoạt tài sản của chủ sở hữu là thể hiện sự liều lĩnh, xem thường pháp luật. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất an ninh trật tự tại địa pY. Vì vậy cần xử lý nghiêm, cách ly các bị cáo ra xã hội một thời gian đủ để giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có tình tiết tăng nặng.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã bồi thường thiệt hại và có đơn bãi nại nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo nhằm thể hiện tính chất nhân đạo và khoan hồng của pháp luật.
Về hình phạt bổ sung: Qua hồ sơ thể hiện bị cáo không có nghề nghiệp, và thu nhập ổn định nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra đã thu hồi được tài sản bị mất và đã trả lại cho người bị hại; người bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường; người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đã nhận bồi thường và không yêu cầu gì nên không xem xét, giải quyết.
Về vật chứng: Xét thấy điện thoại di động Oppo A5s màu xanh, số Imei 86522044004616 kèm theo sim số 0789230519 bị cáo A sử dụng vào việc phạm tội nên cần tịch thu sung vào Ngân sách nhà nước.
Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn A phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173; điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Văn A 24 (Hai mươi bốn) tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày 21/4/2025.
2. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu sung vào Ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động Oppo A5s màu xanh, số Imei 86522044004616 kèm theo sim số 0789230519.
3. Về án phí: Áp dung Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí lệ phí Tòa án buộc bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ tuyên án 03/9/2025; người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc kể từ ngày bản sao bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh G xét xử Ac thẩm. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan chỉ được kháng cáo phần có liên quan.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh G (2); - VKSND tỉnh G; - VKSND Khu vực 4; - Phòng THADS Khu vực 4; - Bị cáo, bị hại; Nlq; - Lưu hồ sơ. Trần Thị Quế Nguyễn Thị Tài | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Linh THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN-CHỦ TÒA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Linh |