- Tranh chấp gì? án hình sự — "Quyết cùng đồng bọn tổ chức ma tuý - phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (điều 255 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm…"
- Tòa quyết gì? Điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58, Điều 90 và khoản 1 Điều 101 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Y.
- Căn cứ chính? Điều 255 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 17 Bộ luật Hình sự
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ M TỈNH H Bản án số: 50/2024/HSST. Ngày: 30/5/2024. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ M - TỈNH H
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ pH toà: Bà Nguyễn Thị T Huyền
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Thìn và ông và ông Phan Xuân Hùng
Thư ký pH toà: Ông Lê Mạnh Hùng - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã M, tỉnh H.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã M, tỉnh H tham gia pH tòa: Ông Nguyễn Tuấn Chung - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã M, mở pH toà công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 43/2024/TLST-HS ngày 23 tháng 4 năm 2024, theo Q định đưa vụ án ra xét xử số: 46/2024/ QĐXXST-HS ngày 16 tháng 5 năm 2024 đối với các bị cáo:
1. Nguyễn Văn Q, Sinh năm 1999 tại H; Hộ khẩu thường trú: Thôn Đ, xã N, huyện Nam S, tỉnh H; Nơi ở hiện tại: Tổ dân phố P, phường B, thị xã M, tỉnh H; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Họ và tên bố: Nguyễn Văn D; Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị H; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Chưa có.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 22/12/2023, tạm giam từ ngày 28/12/2023 tại Trại tạm giam công an tỉnh H. Có mặt tại pH toà.
2. Đỗ Bình Minh, Sinh năm 1994, tỉnh H; Hộ khẩu thường trú: Thôn H, xã H, thị xã M, tỉnh H; Nơi ở hiện tại: Tổ dân phố V, phường B, thị xã M, tỉnh H; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ học vấn: 12/12 ; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Họ và tên bố: Đỗ Thành L; Họ và tên mẹ: Vũ Như ; Vợ: Nguyễn Thị Th, sinh năm 1996 có 01 con: Đỗ Nguyễn Minh Kh, sinh năm 2021
Tiền án, tiền sự: Chưa có.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 22/12/2023, bị tạm giam từ ngày 28/12/2023 tại Nhà tạm giữ - Công an thị xã M. Có mặt tại pH toà.
3. Trần Thị Hải Y, sinh ngày 28/6/2007 tại H; Tên gọi khác: Nhi; Hộ khẩu thường trú: Thôn B, thị trấn Â, huyện Â, tỉnh H; Nơi ở hiện tại: Tổ dân phố V, phường B, thị xã M, tỉnh H; Nghề nghiệp: Tự do; trình độ học vấn: 6/12; Giới tính: Nữ; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Họ và tên bố: Trần Khắc H; Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị A.
Tiền án, tiền sự: Chưa có.
Nhân thân: Ngày 17/01/2024, bị Công an thị xã M xử phạt hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy ngày 26/9/2023 tại quán Karaoke Ngọc Hà.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 22/12/2023, được thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú kể từ ngày 27/12/2023 và đang được áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú tại thị trấn Ân Thi, huyện Ân Thi, tỉnh H. Có mặt tại pH toà.
* Người bào chữa cho bị cáo Y: Ông Nguyễn Đức Thịnh – Trợ giúp viên pháp lý của trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh H (Có mặt)
Đại diện theo pháp luật cho bị cáo Y: Anh Trần Khắc H – sinh năm 1977
HKTT: Thôn B, thị trấn Â, huyện Â, tỉnh H. (Có mặt)
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
1- Chị Phạm Thị H – Sinh năm 2001(Vắng mặt)
Địa chỉ: Tổ dân phố L, phường B, thị xã M, tỉnh H
2- Chị Nguyễn Thu Tr – Sinh năm 1999(Vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn B, xã Th, huyện Th, tỉnh H
3- Anh Đặng Văn H – Sinh năm 1979 (Vắng mặt)
Địa chỉ: Tổ dân phố V, phường B, thị xã M, tỉnh H.
4- Chị Nguyễn Thị Th – Sinh năm 1996 (Có mặt)
Địa chỉ: Thôn H, xã H, thị xã M, tỉnh H;
* Người làm chứng: Ông Đặng Ngọc D – Sinh năm 1954 (Vắng mặt)
Địa chỉ: Tổ dân phố V, phường B, thị xã M, tỉnh H.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại pH tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Đỗ Bình M tạm trú và thuê phòng trọ 303, khu nhà trọ của ông Đặng Ngọc D tại tổ dân phố V, phường B, thị xã M (ông D nhờ anh Đặng Văn H thu tiền thuê phòng và bàn giao phòng trọ). Trưa ngày 21/12/2023, Minh cùng Nguyễn Văn Q, Trần Thị Hải Y (tức Nhi), Phạm Thị Hương và Nguyễn Thu Trang cùng nhau ăn lẩu và uống rượu tại phòng trọ của Minh.
Do Q có nhu cầu sử dụng ma túy đã dùng điện thoại di động Iphone 12 Promax màu xanh của Q nhắn tin qua mạng xã hội Zalo cho Minh với nội dung: “Có lm tý kh a”, “Gọi như nào a”, “E gọi luôn” để rủ Minh sử dụng ma túy. Minh thấy các tin nhắn này của Q thì hiểu Q rủ mua ma túy về phòng cùng sử dụng nên đồng ý và dùng điện thoại di động Iphone X màu đen, trắng của Minh nhắn tin qua Zalo trả lời Q là: “3 2”, ý nói là mua 03 viên ma túy tổng hợp dạng kẹo và 02 chỉ ma túy ketamine. Sau đó, Minh đi ra ngoài gặp bạn uống bia thì Q đứng dậy đi theo ra ngoài cửa bảo Minh đưa cho Q 1.500.000 đồng để mua ma túy. Minh có chuyển khoản số tiền 1.500.000 đồng cho Q, còn lại Q, Y, Hương và Trang vẫn ở phòng 303. Một lúc sau, Q gọi cho Minh trao đổi lại nội dung mua 02 chỉ ma túy ke và 05 viên ma túy kẹo thì Minh đồng ý. Sau đó, Q gọi điện thoại đến số thuê bao 0948822926 để liên hệ mua ma túy thì người đó báo giá là: 850.000 đồng/chỉ ma túy ke và 270.000 đồng/viên kẹo. Do thấy hết nhiều tiền nên Q chỉ đặt mua 01 chỉ ke và 04 viên kẹo với giá tiền là: 1.930.000 đồng. Người đó hẹn gặp Q tại cầu vượt V thuộc phường B, thị xã M, tỉnh H để giao ma túy. Sau đó, Q một mình điều khiển chiếc xe mô tô nhãn H Yamaha Exciter, màu đen, BKS 34B3-934.47 đi lên cầu vượt V gặp một người thanh niên đi xe mô tô đeo khẩu trang, không rõ biển số và nhận 01 túi nilon màu trắng dạng zip, bên trong có tổng cộng 05 túi dạng zip nhỏ hơn trong đó có: 01 túi nilon bên trong chứa ma túy ke và 04 túi nilon bên trong mỗi túi chứa 01 viên ma túy kẹo, Q trả cho người đó số tiền 1.600.000 đồng và bảo người đó gửi số tài khoản ngân hàng qua điện thoại để Q chuyển khoản nốt số tiền mua ma túy còn lại thì người đó đồng ý rồi rời đi.
Sau khi mua ma túy xong, khoảng 16 giờ cùng ngày, Q quay lại phòng 303. Khi đó, Minh đã quay trở lại phòng, trong phòng mở sẵn nhạc và đèn từ máy tính và loa của Minh. Q bỏ toàn bộ số ma túy ra đặt trên đệm, Q tự sử dụng 01 viên kẹo, đưa cho Minh 01 viên, Y 01 viên và bẻ đôi 01 viên kẹo đưa cho Trang và Hương sử dụng, Trang sử dụng ½ viên kẹo còn Hương không sử dụng mà sau đó đi vào nhà vệ sinh vứt ½ viên kẹo đi. Y tự lấy 01 viên kẹo còn lại sử dụng ½ còn ½ viên cho vào túi rồi cho vào bồn cầu xả nước đi. Sau khi sử dụng kẹo xong Q bảo Y lấy ma túy ke ra xào, Minh nói với Y: “lấy đĩa sứ ra rửa nước nóng”, “có thẻ ngân hàng ở cửa sổ và ống hút trong ngăn kéo bàn chưa dùng lần nào”, Y lấy ở chạn 01 đĩa sứ mang ra rửa bằng nước nóng rồi lau khô, sau đó đổ ma túy ke ra đĩa lấy 01 thẻ ngân hàng hình chữ nhật bằng nhựa cứng, màu đen, có chữ “THE FIRST” tại cửa sổ phòng xào ke và kẻ thành một số đường kẻ ma túy ke nhỏ rồi mở ngăn kéo bàn máy tính lấy ra 01 ống hút quấn bằng tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng được cố định bằng 03 vỏ đầu lọc điếu thuốc lá màu xanh, trắng rồi đặt lên đĩa và dơ đĩa lên để mời mọi người sử dụng. Y sử dụng trước xong để xuống đệm để Q, Minh và Trang thay nhau tự sử dụng ma túy ke trên đĩa này rồi nằm giường nhắm mắt nghe nhạc, Hương không sử dụng ma túy ke. Sau khi sử dụng ma túy xong, khoảng 18h20 cùng ngày Minh đi về nhà ở xã Hòa Phong. Đến 19h30 thì Hương và Trang về nơi trọ ở Vinhome Ocenpark 2 còn Q và Y vẫn ở phòng 303. Đến 21h30 Hương bắt taxi quay lại phòng 303 do có hẹn trước với Minh. Lúc này, Y tiếp tục sử dụng nốt số ma túy ke còn lại trên đĩa.
Đến 23h30 cùng ngày, lực lượng công an kiểm tra tại phòng 303, thu giữ có: 01 túi nilon dạng zip, bên trong bám dính chất màu trắng (niêm phong A1); 02 túi nilon dạng zip nhỏ, có viền màu xanh, bên trong đều bám dính chất màu trắng (niêm phong A2); 01 túi nilon dạng zip nhỏ có viền màu đỏ và trên mặt túi có hình mặt cười, bên trong bám dính chất màu trắng (niêm phong A3); 01 đĩa sứ hình tròn, trên mặt có 01 thẻ cứng hình chữ nhật màu xanh có chữ “THE FIRST”, 01 ống hút được quấn từ tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng được cố định bằng ba đầu lọc thuốc lá, trên đĩa sứ, ống hút và thẻ cứng đều bám dính chất màu trắng (niêm phong A4); 01 túi nilon dạng túi zip nhỏ có viền màu xanh, bên trong bám dính chất màu trắng (niêm phong A5). Ngoài ra còn quản lý tại phòng 01 máy tính in chữ Phillip màu đen, 01 cây máy tính màu đen, 01 bàn phím màu đen, 01 chuột máy tính màu trắng vàng, 02 loa màu đen, 01 đèn chiếu, quản lý của Q 01 điện thoại iphone 12 Promax màu xanh, của Y 01 điện thoại Iphone X màu đen, của Hương 01 điện thoại Iphone 11 Promax màu trắng. Q tự nguyên giao nộp 01 xe mô tô Yamaha Exciter, màu đen, BKS 34B3-934.47.
Tại bản thông báo kết luận sơ bộ số 94 ngày 22/12/2023 và bản kết luận giám định số 94 ngày 25/12/2023 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh H kết luận: Chất bám dính trong 01 túi nilon trong niêm phong A1 không xác định được khối lượng, qua giám định là ma túy loại Ketamine. Chất bám dính trong 02 túi nilon trong niêm phong A2 không xác định được khối lượng, qua giám định là ma túy loại Methamphetamine, MDMA, Ketamine. Chất bám dính trong 01 túi nilon trong niêm phong A3 không xác định được khối lượng, qua giám định là ma túy loại Ketamine. Chất bám dính trong 01 đĩa sứ, 01 ống hút cuốn bằng tiền 100.000đ và thẻ cứng trong niêm phong A4 không xác định được khối lượng, qua giám là ma túy loại Ketamine. Chất bám dính trong túi nilon trong niêm phong A5 không xác định được khối lượng, qua giám định là ma túy loại MDMA.
Q và Y bị bắt theo lệnh bắt bị giữ người trong trường hợp khẩn cấp của Cơ quan CSĐT – Công an thị xã M. Đến 7 giờ, ngày 22/12/2023, Đỗ Bình Minh cũng đến Cơ quan CSĐT – Công an thị xã M đầu thú và tự nguyện giao nộp 01 điện thoại Iphone X màu đen, trắng.
Cơ quan CSĐT- Công an thị xã M đã tiến hành thu thập và niêm phong mẫu nước tiểu của các đối tượng gửi giám định: Nguyễn Văn Q (niêm phong T1), Đỗ Bình Minh (niêm phong T2), Nguyễn Thu Trang (niêm phong T3), Trần Thị Hải Y (niêm phong T4), Phạm Thị Hương (niêm phong T5).
Tại bản kết luận giám định số 9536 ngày 27/12/2023 của Viện khoa học hình sự bộ Công an kết luận: Tìm thấy chất ma túy MDMA và Ketamine trong mẫu nước tiểu của ký H từ T1 đến T4 gửi giám định. Không tìm thấy chất ma túy và sản phẩm chuyển hóa trong mẫu chất lỏng niêm phong T5.
Đối 03 chiếc điện thoại quản lý Hương, Trang và Y không liên quan đến việc phạm tội, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã M đã trả lại cho Hương, Trang và Y.
Vật chứng cơ quan CSĐT – Công an thị xã M đang quản lý gồm: 01 thùng carton ghi số 94/KL-KTHS(MT) hoàn mẫu vật sau giám định; 01 máy tính in chữ Phillip màu đen, 01 cây máy tính màu đen, 01 bàn phím màu đen, 01 chuột máy tính màu trắng vàng, 02 loa màu đen, 01 đèn chiếu đen, 01 điện thoại Iphone X, 01 điện thoại Iphone 12 Promax; 01 chiếc xe mô tô nhãn H Yamaha Exciter, màu đen, biển kiểm soát: 34B3-93447. Quá trình điều tra, xác định chiếc xe mô tô trên thuộc sở hữu hợp pháp của chị Nguyễn Thị Thảo, sinh năm 1996, ở Thôn Hòa Đam, xã Hòa Phong, thị xã M, tỉnh H là vợ của Minh, chị Thảo không biết việc các đối tượng sử dụng chiếc xe trên vào việc mua ma túy về tổ chức sử dụng.
Bản cáo trạng số:40/CT-VKSMH ngày 22/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã M đã truy tố các bị cáo Nguyễn Văn Q và Đỗ Bình Minh về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy tại điểm b, c khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự; Trần Thị Hải Y về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự.
Tại pH tòa hôm nay:
Các bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội.
Đại diện theo pháp luật của bị cáo Y: Anh H đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Y.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã M đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm b,c khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Q, Minh. Điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58, Điều 90 và khoản 1 Điều 101 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Y.
Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Văn Q và Đỗ Bình Minh và Trần Thị Hải Y phạm tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn Q 08 năm – 08 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 22/12/2023
Xử phạt: Bị cáo Đỗ Bình Minh 07 năm – 07 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 22/12/2023
Xử phạt: Bị cáo Trần Thị Hải Y 05 năm – 05 năm 03 tháng tù được trừ 06 ngày tạm giữ. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
Miễn hình phạt bổ sung bằng tiền cho các bị cáo.
Ngoài ra đại diện VKS còn đề nghị về vật chứng, án phí.
Trợ giúp viên pháp lý cho bị cáo Y: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét vai trò của bị cáo Y là người giúp sức và bị cáo phạm tội khi chưa thành niên nên nhận thức pháp luật hạn chế, áp dụng mức hình phạt không quá ¾ đối với người đã thành niên để xử phạt bị cáo từ 02 năm – 03 năm tù.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại pH tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]- Về hành vi, Q định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã M và Điều tra viên; của Viện kiểm sát nhân dân thị xã M và kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Q định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện nên đều hợp pháp.
[2]- Lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra và tại pH toà phù hợp với nhau và phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản vụ việc, kết luận giám định, vật chứng đã thu giữ; phù hợp khách quan với lời khai của những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, những người làm chứng cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án đã có đủ cơ sở kết luận kết luận:
Trong khoảng thời gian từ 16 giờ đến 23 giờ 30 ngày 21/12/2023, tại phòng trọ của Đỗ Bình Minh ở tổ dân phố V, phường B, thị xã M, tỉnh H, Q và Minh cùng thực hiện hành vi cung cấp ma tuý, chuẩn bị công cụ và rủ rê lôi kéo Trần Thị Hải Y (là người dưới 18 tuổi) và Nguyễn Thị Thu Trang cùng với Minh và Q sử dụng trái phép chất ma túy loại Ketamine và MDMA. Y đã có hành vi giúp sức lấy đĩa, dùng thẻ để chế biến ma tuý cho mọi người sử dụng. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã M đã phát hiện, thu giữ công cụ, phương tiện sử dụng trái phép chất ma túy. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân thị xã M đã truy tố các bị cáo Nguyễn Văn Q và Đỗ Bình Minh về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy tại điểm b, c khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự; Trần Thị Hải Y về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự là có căn cứ và đúng pháp luật.
[3]- Xét tính chất, mức độ của hành vi phạm tội của các bị cáo thì thấy: Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về việc sử dụng chất ma tuý, xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội. Các bị cáo nhận thức được tác hại của ma túy nhưng đã bất chấp sự ngăn cấm của pháp luật vẫn tổ chức sử dụng ma tuý. Vì vậy cần thiết phải xử lý nghiêm và cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Vụ án có đồng phạm tham gia, xét vai trò của các bị cáo thì thấy:
Vai trò đầu là bị cáo Q, là người khởi xướng, rủ rê, trực tiếp đi mua ma tuý, cùng tham gia chuẩn bị công cụ, tổ chức để cho bản thân, Minh, Y và Trang cùng sử dụng ma tuý. Vì vậy hình phạt dành cho bị cáo phải cao hơn các bị cáo khác.
Tiếp theo là bị cáo Minh là người đã sử dụng địa điểm thuê trọ của mình để thực hiện hành vi phạm tội, cùng góp tiền với Q để đi mua ma tuý, chuẩn bị các công cụ để tổ chức cho bản thân và mọi người cùng sử dụng ma tuý. Vì vậy hình phạt dành cho bị cáo phải cao hơn bị cáo Y.
Sau cùng là bị cáo Y là người giúp sức tích cực, bị cáo đã lấy đĩa và dùng thẻ để chế biến ma tuý cho mọi người sử dụng. Bản thân bị cáo có nhân thân xấu: Ngày 17/01/2024, bị Công an thị xã M xử phạt hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy vào ngày 26/9/2023 tại quán Karaoke Ngọc Hà không lấy làm bài học lại tiếp tục phạm tội. Tuy nH khi phạm tội bị cáo chưa đủ 18 tuổi nên sẽ áp dụng mức hình phạt dành cho bị cáo chưa thành niên và áp dụng mức hình phạt cho bị cáo bằng ¾ người đã thành niên.
[3]- Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo: Các bị cáo đều không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự;
Tình tiết giảm nhẹ: Cả 03 bị cáo đều khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải nên đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự. Các bị cáo đều có ông nội là người có công với cách mạng được nhà nước tặng thưởng Huân, huy chương nên đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Minh ra đầu thú nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[4] Về hình phạt bổ sung: Quá trình điều tra và tại pH tòa xác định các bị cáo không có tài sản riêng nên Hội đồng xét xử sẽ miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
[5] Về xử lý vật chứng:
- Đối với mẫu vật hoàn lại sau giám định gồm: 01 thùng carton ghi số 94/KL-KTHS(MT) hoàn mẫu vật sau giám định là vật cấm lưu hành sẽ cho tịch thu huỷ bỏ.
- Đối với 01 máy tính in chữ Phillip màu đen, 01 cây máy tính, 01 bàn phím, 01 chuột máy tính, 02 loa, 01 đèn chiếu, 01 tờ tiền mệnh giá 100.000đ được cuốn thành ống hút là các công cụ để sử dụng ma tuý nên sẽ cho tịch thu sung quĩ nhà nước;
- 01 điện thoại Iphone X, 01 điện thoại Iphone 12 Promax là các công cụ để Minh và Q liên lạc mua ma tuý về sử dụng nên sẽ cho tịch thu sung quĩ nhà nước;
- 01 chiếc xe mô tô nhãn H Yamaha Exciter, màu đen, biển kiểm soát: 34B3-93447. Quá trình điều tra, xác định thuộc sở hữu hợp pháp của chị Nguyễn Thị Thảo, chị Thảo không biết việc các đối tượng sử dụng chiếc xe trên vào việc mua matúy về tổ chức sử dụng nên sẽ trả lại cho chị Thảo.
[5] Về án phí: Bị cáo Y khi xét xử đã trên 16 tuổi nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Các bị cáo khác phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[6]- Các vấn đề khác của vụ án:
Đối với ông Đặng Ngọc Doanh và anh Đặng Văn Hoạt, đều không biết việc các bị cáo tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy tại phòng 303. Do đó không có căn cứ để xử lý đối với ông Doanh và anh Hoạt.
Đối với đối tượng mà Q khai mua ma túy tại khu vực cầu vượt V thuộc tổ dân phố Phố Bần, phường B, thị xã M, tỉnh H. Cơ quan điều tra vẫn chưa xác định được đối tượng này do vậy Cơ quan điều tra sẽ tiếp tục xác minh làm rõ, xử lý sau.
Đối với thuê bao 0948822926 là số mà Q đã liên lạc mua ma túy. Qua điều tra, xác định số thuê bao trên đăng ký chính chủ tên Trần Thị Trinh, sinh năm 1984, ở Thôn Yên Xá, xã Cẩm Ninh, huyện Ân Thi, tỉnh H. Quá trình điều tra xác định chị Trinh chưa từng đăng ký và sử dụng số thuê bao này, không quen biết Q và không mua bán ma túy gì với ai nên không có căn cứ xử lý chị Trinh.
Vì các lẽ trên:
Q ĐỊNH
Căn cứ: Điểm b, c khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Q, Minh.
Điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58, Điều 90 và khoản 1 Điều 101 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Y.
Điểm a, b khoản 1 điều 46; điểm a, c khoản 1 điều 47 - Bộ luật hình sự; điểm a, b khoản 2 và điểm a khoản 3 điều 106 - Bộ luật tố tụng hình sự; Khoản 1, 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị Q số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Văn Q và Đỗ Bình Minh và Trần Thị Hải Y phạm tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn Q 08 (tám) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 22/12/2023
Xử phạt: Bị cáo Đỗ Bình Minh 07( bảy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 22/12/2023
Xử phạt: Bị cáo Trần Thị Hải Y 05 ( Năm) năm tù được trừ 06 ngày tạm giữ còn lại 04 (bốn) năm 11 (mười một) tháng 24 (Hai mươi bốn) ngày tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
* Về vật chứng:
- Tịch thu sung quĩ nhà nước: 01 điện thoại di động Iphone X màu đen, trắng: 01 điện thoại di động Iphone 12 Promax màu xanh; 01 máy vi tính in chữ Phillip màu đen; 01 cây máy vi tính có in chữ XIGMATEK màu đen, 01 bàn phím máy tính có chữ LAPOP màu đen, có nút nổi; 01 chuột dây màu trắng, vàng có chữ AULA; 02 loa màu đen đều có chữ NASUN; 01 đèn nhiều màu hình dáng người Robot màu trắng; 01 tờ tiền mệnh giá 100.000đ trong niêm phong mẫu vật hoàn lại sau giám định ghi số 94/KL – KTHS (MT).
- Tịch thu tiêu huỷ: 01 hộp bìa cát tông niêm phong mẫu vật hoàn lại sau giám định ghi số 94/KL – KTHS (MT) bên trong có 01 túi nilon màu trắng dạng zip trong niêm phong ký H A1; 02 túi nilon dạng zip đều có viền màu xanh da trời trong niêm phong ký H A2; 01 túi nilon màu trắng dạng zip có viền màu đỏ và in hình mặt cười màu đỏ trong niêm phong ký H A3; 01 đĩa sứ hình tròn màu trắng; 01 thẻ cứng hình chữ nhật có chữ THE FIRST trong niêm phong ký H A4; 01 túi nilon màu trắng dạng zip có viền màu xanh lá cây trong niêm phong ghi ký H A5 và 05 vỏ niêm phong mẫu vật gửi giám định.
- Trả lại chị Nguyễn Thị Thảo 01 chiếc xe môtô nhãn H Yamaha Exciter màu đen biển kiểm soát: 34B3 – 93447.
(Tình trạng đặc điểm các vật chứng được mô tả theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 23/4/2024 của cơ quan CSĐT công an thị xã M và Chi cục thi hành án thị xã M).
* Về án phí: Buộc các bị cáo Nguyễn Văn Q, Đỗ Bình Minh và Trần Thị Hải Y mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ tiền án phí hình sự sơ thẩm.
* Quyền kháng cáo: Các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ /.
| Nơi nhận: - VKSND thị xã M; - Cơ quan CSĐT -CA thị xã M; - Cơ quan T.H.A HS-CA thị xã M; - Chi cục T.H.A DS thị xã M; - Phòng KTNV và T.H.A - Tòa án tỉnh H; - Các bị cáo; - Lưu HS vụ án. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PH TOÀ Nguyễn Thị T Huyền |