- Tranh chấp gì? án hình sự — "Buôn bán hàng cấm - phạm tội sản xuất, buôn bán hàng cấm (điều 190 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh, điều luật áp dụng và mức hình phạt:
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM HUYỆN PHÚ RIỀNG TỈNH BÌNH PHƢỚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 50/2021/HSST Ngày: 16/8/2021 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ RIỀNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Bình
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Văn Khuyến
Ông Lê Duy Toản
- Thư ký phiên tòa: Ông Chu Ngọc Phú – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Riềng, tỉnh Bình Phước
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Riềng tham gia phiên tòa: Ông Bùi Quang Thế - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 8 năm 2021, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Riềng, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 64/2021/TLST-HS ngày 02 tháng 6 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 47/2021/QĐXXST-HS ngày 28/6/2021 và Thông báo thay đổi thời gian mở phiên tòa số 32/2021/TB – HS ngày 09/7/20221 đối với bị cáo:
Họ và tên: Bùi Thị L, sinh năm 1973 tại Thanh Hóa; HKTT: Ấp 5, xã Đ, huyện T, tỉnh Bình Phước; Trình độ học vấn: 01/12; Nghề nghiệp: Buôn bán; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Họ và tên cha: Bùi Đức K – Đã chết; Họ và tên mẹ: Cao Thị T – Đã chết; Chồng là ông Hoàng Bá S, sinh năm 1967, có 03 người con lớn nhất sinh năm 1993, nhỏ nhất sinh năm 1997; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo được tại ngoại cho đến nay có mặt tại phiên tòa.
Nhân thân: Bị xử phạt 30 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” tại bản án hình sự sơ thẩm số 146/HSST ngày 23/10/2003 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bùi Thị L, Lê Đăng V và Lê Văn H có mối quan hệ quen biết với nhau và cùng cư trú tại thôn B, xã T, huyện C, tỉnh Bình Phước.
Ngày 03/02/2021, có một người đàn ông (chưa rõ nhân thân, lai lịch) đến nhà L hỏi L có mua pháo bán kiếm lời không thì L đồng ý. Lúc đó, người đàn ông này đưa cho L 01 bệ pháo hoa (loại 49 ống) và 25 quả pháo bi rồi ra về. Đến sáng ngày 04/02/2021, người đàn ông này quay lại nhà L và bán cho L 06 bệ pháo hoa (loại 49 ống) và 04 bịch nylon pháo bi với số tiền 7.200.000 đồng (Trong đó: pháo hoa 6.000.000 đồng + 1.200.000 đồng pháo bi). Tất cả số pháo trên L mang cất dấu tại nhà mình.
Khoảng 17 giờ cùng ngày, trong lúc H và V đang uống rượu tại nhà V thuộc Thôn Phú Bình, xã Phú Trung thì H đưa 1.6000.000 đồng nhờ V qua nhà L mua pháo về sử dụng. V cầm số tiền 1.6000.000 đồng đi qua nhà L mua dùm cho H 1 bệ pháo hoa và 01 bịch pháo bi, còn V mua riêng cho mình 25 viên pháo bi hết 1.250.000 đồng. Sau khi mua được pháo, V mang về nhà mình sử dụng hết số pháo của mình vừa mua, còn H sử dụng một ít, số pháo còn lại mang về nhà cất dấu. Đến 20 giờ ngày 05/02/2021 thì bị Công an xã Phú Trung, huyện Phú Riềng kiểm tra nhà H phát hiện thu giữ: 01 khối hình hộp chữ nhật kích thước (16x16x10)cm bên ngoài bọc giấy nhiều màu sắc có in chữ “MADE IN CHINA” và ký hiệu “A815”, “49 Shots 1,6 kg và 0,3 kg các vật thể hình cầu, mỗi loại dạng quả bóng đá, vỏ nhiều màu sắc.
Qua làm việc, H khai mua số pháo trên của Bùi Thị L nên ngày 06/02/2021, Công an xã Phú Trung tiến hành kiểm tra hành chính tại nhà L thu giữ 05 khối hộp hình chữ nhật, mỗi khối có kích thước (16 x 16 x 10) cm, bao bì nhiều màu có chữ "GALAXY TREASURE"và 03 túi nylon màu trắng mỗi túi có chứa các vật thể hình cầu, mỗi loại dạng quả bóng đá, vỏ bằng nhựa nhiều màu sắc, trên thân có gắn một đoạn dây màu xanh.
Tổng khối lượng: 11,5kg (Trong đó thu giữ của H khối lượng 1,9 kg và thu giữ của L khối lượng 9,6kg)
Tại bả n kết luận giám định số 1146/C09B ngày 24/02/2021 của Viện khoa học hình sự Phân viện KHHS tại TP. Hồ Chí Minh kết luận:
- 01 khối hình hộp chữ nhật có kích thước (16x16x10) cm, bên ngoài bọc giấy nhiều màu sắc, bên trong mỗi khối có chứa 49 ống giấy hình trụ tròn dài 10cm, đường kính 2,3cm gửi giám định đều là pháo nổ. Khi đốt bay lên cao, nổ và phát ra ánh sáng màu. Khối lượng 1,6kg.
- 01 túi nylon chứa các vật hình cầu (dạng giống quả bóng đá) vỏ bằng nhựa nhiều màu sắc, đường kính 2,7 cm, một đầu có gắn đoạn dây màu xanh gửi giám định đều là pháo nổ. khi đốt phát tiếng nổ lớn. Khối lượng 0,3 kg.
Tại bản kết luận giám định số 1147/C09B ngày 24/02/2021 của Viện khoa học hình sự Phân viện KHHS tại TP. Hồ Chí Minh kết luận:
- 05 khối hình hộp chữ nhật có kích thước (16x16x10)cm, bên ngoài bọc giấy nhiều màu sắc, bên trong mỗi khối có chứa 49 ống giấy hình trụ tròn dài 10cm, đường kính 2,3cm gửi giám định đều là pháo nổ. Khi đốt bay lên cao, nổ và phát ra ánh sáng màu. Khối lượng 08kg;
- 03 túi nylon chứa các vật hình cầu (dạng giống quả bóng đá) vỏ bằng nhựa nhiều màu sắc, đường kính 2,7 cm, một đầu có gắn đoạn dây màu xanh gửi giám định đều là pháo nổ. khi đốt phát tiếng nổ lớn. Khối lượng 1,6 kg.
Tại bản Cáo trạng số: 23/2021/Ctr – VKS ngày 01/3/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Riềng, tỉnh Bình Phước truy tố bị cáo Bùi Thị L về tội “Buôn bán hàng cấm” theo khoản 1 Điều 190 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Bùi Thị L phạm tội “Buôn bán hàng cấm”
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 190; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 35 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Bùi Thị L từ 100.000.000 đồng đến 150.000.000 đồng
Ngoài ra còn đề nghị xử lý vật chứng trong vụ án
Tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như trên và bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng theo quy định pháp luật.
Xét hành vi phạm tội:
Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của người có quyền lợi liên quan, phù hợp với biên bản phạm tội quả tang, kết luận giám định tài sản và các tài liệu chứng cứ khác được xét hỏi công khai tại phiên tòa. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Do mục đích tư lợi cá nhân nên trong các ngày 03 và ngày 04/02/2021, bị cáo Bùi Thị L mua của người đàn ông (chưa rõ nhân thân, lai lịch) tại thôn P, xã T, huyện C 1,9 kg pháo dạng trái banh, vỏ bên ngoài được bọc nhựa nhiều màu sắc, một đầu có gắn đoạn dây màu xanh, có đường kính 2,7 cm kết luận giám định đều là pháo nổ, khi đốt phát ra tiếng nổ lớn; 9,6kg pháo hình trụ kích thước (16x 16 x 10) cm, bọc giấy nhiều màu sắc, bên trong mỗi khối có chứa 49 ống giấy hình trụ tròn dài 10cm, đường kính 2,3cm, kết luận giám định đều là pháo nổ, khi đốt bay lên cao, nổ và phát ra ánh sáng màu. Tổng khối lượng là 11,5kg cất dấu tại nhà mình nhằm mục đích bán lại kiếm lời thì bị kiểm tra bắt quả tang.
Hành vi của bị cáo đã thực hiện có đủ yếu tố cấu thành tội “Buôn bán hàng cấm” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 190 Bộ luật hình sự.
Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, xâm phạm trực tiếp đến sự quản lý của Nhà nước về buôn bán những mặt hàng bị cấm, là nguyên nhân gây ra những thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, tài sản của người dân và ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an. Bị cáo nhận thức được tác hại do hành vi phạm tội của mình gây ra nhưng vì lợi ích của bản thân nên bị cáo vẫn thực hiện hành vi phạm tội.
Với tính chất và mức độ hành vi phạm tội của bị cáo gây ra cần phải xử phạt bị cáo một mức hình phạt tương xứng để giáo dục, cải tạo bị cáo và c ng để giáo dục, phòng ngừa chung trong xã hội.
Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Bị cáo là người có nhân thân xấu. Đã bị Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước xử phạt 30 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” tại bản án hình sự sơ thẩm số 146/HSST ngày 23/10/2003, bị cáo đã được xóa án tích nhưng không lấy đó làm bài học cho bản thân mà lại tiếp tục hành vi phạm tội mới chứng tỏ bị cáo là người thiếu ý thức chấp hành pháp luật. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo có trình độ học vấn thấp nên nhận biết pháp luật còn hạn chế. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xét thấy bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, hành vi phạm tội ít nguy hiểm có thể tự cải tạo bản thân để trở thành công dân tốt cho xã hội, nên không cần thiết phải áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo mà chỉ cần áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính c ng đủ giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội.
Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp nên được HĐXX chấp nhận.
Đối với người đàn ông (chưa rõ nhân thân lai lịch) bán pháo cho L. Quá trình điều tra, Cơ quan Công an huyện Phú Riềng chưa làm việc được, đã tách ra, tiếp tục xác minh làm rõ, xử lý sau nên HĐXX không xem xét.
Đối với hành vi mà V mua pháo của L để sử dụng và mua dùm pháo cho H. Mục đích H và V mua về là sử dụng, do không đủ định lượng xử lý về Tội Tàng trữ hàng cấm nên ngày 09/4/2021, Cơ quan Công an huyện Phú Riềng ra quyết định xử phạt hành chính bằng hình thức phạt tiền đối với H và V nên HĐXX không xem xét.
Về xử lý vật chứng:
Đối với số pháo thu giữ được khi kiểm tra hành chính của L và H được hoàn lại sau giám định là vật chứng của vụ án nên cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với số tiền 2.850.000 đồng của Bùi Thị L bán pháo cho H và V mà có được nên cần truy thu số tiền trên
Án phí hình sự sơ thẩm bị cáo phải chịu theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh, điều luật áp dụng và mức hình phạt:
Tuyên bố bị cáo Bùi Thị L phạm tội “Buôn bán hàng cấm”.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 190; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 35 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Bùi Thị L 100.000.000đ (Một trăm triệu đồng) nộp vào ngân sách nhà nước.
2. Về xử lý vật chứng:
Áp dụng các Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy Đối với số pháo thu giữ được khi kiểm tra hành chính của L và H được hoàn lại sau giám định.
Truy thu số tiền 2.850.000đ (Hai triệu tám trăm năm mươi nghìn đồng) của Bùi Thị L
(Theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an huyện Phú Riềng và Chi cục thi hành án dân sự huyện Phú Riềng)
3. Án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết về án phí, L phí: Buộc bị cáo Bùi Thị L phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).
Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND, VKSND tỉnh Bình Phước; - VKSND huyện Phú Riềng; - Chi cục THADS huyện Phú Riềng; - CA huyện Phú Riềng; - Bị cáo; Người tham gia tố tụng; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Bình |