- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Tấn H - phạm tội sản xuất, buôn bán hàng cấm (điều 190 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? [1] Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 190 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 50/2020/HS-PT Ngày 10-7-2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Tỉnh
Các Thẩm phán: Ông Bùi Quang Sơn
Ông Phạm Văn Ngọt
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Như Sương - Thư ký Tòa án
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa:
Bà Nguyễn Thị Thanh Thảo - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 7 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 31/2020/TLPT-HS ngày 09 tháng 6 năm 2020 đối với bị cáo Trần Tấn H do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 17/2020/HS-ST ngày 07 tháng 5 năm 2020 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Bến Tre.
Bị cáo có kháng cáo: TRẦN TẤN H
Sinh năm 1985 tại tỉnh Long An; nơi cư trú: ấp CH, xã T, huyện Đ, tỉnh Long An; nghề nghiệp: tài xế; trình độ văn hóa: 08/12; giới tính: nam; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: không; con ông Trần Văn C và bà Nguyễn Thị L; bị cáo sống chung như vợ chồng với Nguyễn Thị Ái L; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị tạm giam từ ngày 27 tháng 12 năm 2019 cho đến nay, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Sau khi mua 5.500 bao thuốc lá điếu nhập lậu của một người không rõ họ tên, địa chỉ cụ thể ở huyện Đ, tỉnh Long An. Khoảng 17 giờ ngày 08 tháng 10 năm 2019, Trần Tấn H điều khiển xe ô tô biển số xxA.xxxxx chở số thuốc lá điếu nhập lậu trên từ tỉnh Long An về tỉnh Bến Tre nhằm mục đích bán cho tiệm tạp hóa kiếm lời. Đến khoảng 19 giờ cùng ngày, khi đến khu vực km 07 trên quốc lộ 60 thuộc ấp M, xã A, huyện C, tỉnh Bến Tre thì bị tổ tuần tra thuộc Phòng cảnh sát giao thông Công an tỉnh Bến Tre kiểm tra phát hiện bên trong xe ở hàng ghế phía trước bên phải, dưới sàn, hàng ghế phía sau và cốp sau xe có tổng cộng 11 bao tải màu trắng, loại bao đựng thức ăn chăn nuôi và 26 túi xốp màu đen, trên mặt có dán nhiều băng keo trong, bên trong các bao tải và túi xốp có chứa tổng cộng 5.500 bao thuốc lá điếu nhập lậu các loại gồm: 3.100 bao thuốc lá điếu hiệu SCOTT, 1.900 bao thuốc lá hiệu JET và 500 bao thuốc lá HERO. Tổ tuần tra tiến hành lập biên bản và báo tin cho cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện C đến xử lý vụ việc. Trong lúc lực lượng chức năng đang tiến hành lập biên bản, lợi dụng đêm tối, Trần Tấn H đã chạy bộ thoát về hướng trạm thu phí cầu Rạch Miễu. Đến ngày 10/10/2019 Trần Tấn H đến cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện C, tỉnh Bến Tre đầu thú.
Vật chứng thu giữ tại hiện trường gồm:
- 5.500 bao thuốc lá điếu nhập lậu gồm: 3.100 bao thuốc lá hiệu SCOTT, 1.900 bao thuốc lá hiệu JET và 500 bao thuốc lá hiệu HERO.
- Mười một bao tải màu trắng, loại bao đựng thức ăn chăn nuôi.
- Hai mươi sáu túi xốp màu đen, trên mặt có dán nhiều băng keo trong.
- Một điện thoại di động hiệu NOKIA, màu trắng, số IMEI 1: 353701076369707, số IMEI 2: 353701076369715, không có gắn sim điện thoại;
- Một điện thoại di động hiệu INFOCUS, màu vàng đồng, có gắn sim điện thoại của số thuê bao in số 8401180792235141, bị hỏng màn hình cảm ứng.
- Một đôi dép nhựa màu xám, có ghi dòng chữ : “OSAKA”.
- Một giấy phép lái xe hạng D, số 790134428758 mang tên Trần Tấn H do Sở Giao thông vận tải thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 23 tháng 10 năm 2015;
- Một xe ô tô biển số xxA.xxxxx, nhãn hiệu TOYOTA, loại xe: VIOS, màu sơn: xám đen, số máy: 2NRX414685, số khung: RL4B23F38K5059536.
Ngày 16 tháng 10 năm 2019, Hiệp hội thuốc lá Việt Nam có công văn số 92/CV-2019 HHTLVN cho biết ba mẫu thuốc lá điếu các hiệu SCOTT, JET và HERO mà cơ quan cảnh sát điều tra gửi thẩm định là thuốc lá điếu nhập lậu.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 17/2020/HSST ngày 07 tháng 5 năm 2020 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Bến Tre đã quyết định: Tuyên bố bị cáo Trần Tấn H phạm “Tội buôn bán hàng cấm”. Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 190, điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Tấn H 08 (tám) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 27 tháng 12 năm 2019. Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên về phần xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.
Ngày 12 tháng 5 năm 2020 bị cáo Trần Tấn H kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xem xét giảm nhẹ hình phạt tù.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo không thay đổi yêu cầu kháng cáo, bị cáo khai nhận hành vi phù hợp nội dung bản án sơ thẩm,
Quan điểm giải quyết vụ án của Kiểm sát viên thể hiện như sau: Đơn kháng cáo của bị cáo làm trong hạn luật định. Về nội dung, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử và tuyên bố bị cáo Trần Tấn H phạm “Tội buôn bán hàng cấm” theo điểm b khoản 3 Điều 190 Bộ luật Hình sự là có cứ cứ đúng người, đúng tội. Xét kháng cáo của bị cáo, khi áp dụng hình phạt tù Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét đầy đủ tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo và xử phạt bị cáo 08 năm tù. Tại cấp phúc thẩm bị cáo không có thêm tình tiết giảm nhẹ nên không có cơ sở giảm hình phạt cho bị cáo nên được giữ nguyên, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo. Đề nghị, tuyên bố bị cáo Trần Tấn H phạm “Tội buôn bán hàng cấm”. Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 190, điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Tấn H 08 (tám) năm tù. Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Lời nói sau cùng: Bị cáo yêu cầu xem xét giảm nhẹ hình phạt tù để sớm về nuôi cha mẹ và nuôi con.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, có cơ sở xác định. Khoảng 19 giờ ngày 08 tháng 10 năm 2019, tại km 07 trên quốc lộ 60 thuộc ấp M, xã A, huyện C, tỉnh Bến Tre, tổ tuần tra thuộc Phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh Bến Tre tiến hành kiểm tra phát hiện Trần Tấn H đang vận chuyển 5.500 bao thuốc lá điếu nhập lậu gồm: 3.100 bao thuốc lá hiệu SCOTT, 1.900 bao thuốc lá hiệu JET và 500 bao thuốc lá HERO trên xe ô tô xxA-xxxxx về Bến Tre để bán kiếm lời. Theo thẩm định của Hiệp Hội thuốc lá Việt Nam số 29/CV-2019 HHTLVN ngày 15/10/2019 ba mẫu thuốc Hero, Jet, Scott do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C cung cấp là thuốc là điếu nhập lậu.
[2] Với ý thức, hành vi và số lượng hàng phạm pháp, Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử và tuyên bố bị cáo Trần Tấn H phạm “Tội buôn bán hàng cấm” theo điểm b khoản 3 Điều 190 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 là có căn cứ đúng quy định pháp luật.
Xét kháng cáo của bị cáo, thấy rằng, khi áp dụng hình phạt tù Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo như: Về tình tiết tăng nặng, bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Về tình tiết giảm nhẹ, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên sau khi bỏ trốn ra đầu thú, có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự, bị cáo là lao động chính, hoàn cảnh gia đình khó khăn, bị cáo có bà nội là Bà Mẹ Việt Nam anh hùng, cha và bác ruột của bị cáo được tặng Huân chương kháng chiến thuộc điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Tại cấp phúc thẩm bị cáo cho rằng bị cáo có nhiều tình tiết gỉam nhẹ gia đình có công cách mạng (bà nội là bà mẹ Việt Nam anh hùng, bác và cha được tặng Huân chương, là thương binh, là liệt sĩ), bị cáo là lao động chính trong gia đình, nuôi con nhỏ, cha và mẹ quá tuổi lao động, mẹ bị bệnh tiểu đường để yêu cầu giảm hình phạt. Thấy rằng, các tình tiết bị cáo đưa ra có các tình tiết đã được Tòa án cấp sơ thẩm xem xét áp dụng. Đối với tình tiết bị cáo có con còn nhỏ nhưng theo giấy khai sinh của bé Trần Anh H không ghi tên cha nên không có sơ sở xác định Trần Tấn H là cha của Trần Anh H, các tình tiết khác thuộc khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xét mức hình phạt 08 năm tù đối với bị cáo là mức thấp nhất của khung hình phạt mà bị cáo bị truy tố là phù nên được giữ nguyên. Do vậy, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo giữ nguyên bản án sơ thẩm theo đề nghị của Kiểm sát viên là phù hợp.
Về án phí, bị cáo phải chịu án phí phúc thẩm do kháng cáo không được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo; giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 17/2020/HS-ST ngày 07/5/2020 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Bến Tre;
Tuyên bố bị cáo Trần Tấn H phạm “Tội buôn bán hàng cấm”;
Căn cứ điểm b khoản 3 Điều 190; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).
Xử phạt bị cáo Trần Tấn H 08 (tám) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 27/12/2019;
Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Bị cáo Trần Tấn H phải nộp 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm về phần xử lý vật chứng và án phí không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| - Vụ GĐKT I - Tòa án nhân dân tối cao (1b); - VKSND tỉnh Bến Tre (1b); - Phòng hồ sơ Công an tỉnh Bến Tre (1b); - Tòa án nhân dân huyện C (3b); - Công an và VKSND huyện C (2b) - Chi cục THADS huyện C (1b); - Sở Tư pháp tỉnh Bến Tre (1b); - UBND xã T, huyện Đ, tỉnh Long An (1b); - - Nhà tạm giữ Công an huyện C, Bị cáo (2b); - Phòng KTNV & THA, Tòa Hình sự, Văn phòng TAND tỉnh Bến Tre (5b); - Lưu hồ sơ vụ án (1b). | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Văn Tỉnh |