vanban.org

Bản án 50/2018/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Cẩm Lệ, TP Đà Nẵng Tuyên án 26/09/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt bị cáo Hồ Văn T 24 (Hai mươi tư) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày bắt giam Thi hành án.

Xử phạt bị cáo Hồ Văn T18 ( Mười tám) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày bắt giam Thi hành án. Về trách nhiệm dân sự: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hồ Văn Tr và Hồ Văn T phạm tội Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Hồ Văn T 24 (Hai mươi tư) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày bắt giam Thi hành án.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 138 Bộ luật Hình sự; Điều 48 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN CẨM LỆ
TP. ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

--- ** ---
Bản án số:50 /2018/HS-ST
Ngày 26/9/2018

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Ngọc Quyên.

Các Hội thẩm nhân dân:

+ Ông Nguyễn Tấn Thức.

+ Bà Nguyễn Thị Hiền

Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị T Vân, Thư ký Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ tham gia phiên tòa:

Bà Nguyễn Thị Hồng Thanh, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ.

Ngày 26 tháng 9 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 40/2018/TLST-HS ngày 21 tháng 8 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 41/2018/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 8 năm 2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số 10/2018/HS-QĐ ngày 10/9/2018 đối với các bị cáo:

* Hồ Văn T– Sinh ngày 08 tháng 11 năm 1988 tại thành phố Đà Nẵng - Nơi ĐKHKTT: tổ 42 phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng; Chỗ ở: : khối phố Ngân Câu, Điện Ngọc, Điện Bàn, Quảng Nam; Nghề nghiệp: lao động phổ thông; Trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Hồ Văn Đ và bà Trần Thị H; Gia đình có 04 người con. Bị cáo là con thứ ba.

Tiền án: Không.

Tiền sự: Ngày 16/6/2016 bị Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 12 tháng. Chấp hành xong vào ngày 25/4/2017.

Nhân thân:

+ Tại Bản án số 74/2006/HSST ngày 28/9/2006 bị TAND quận Hải Châu tuyên phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

+ Tại Bản án số 86/2009/HSPT ngày 17/4/2009 bị TAND TP Đà Nẵng tuyên phạt 24 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Ra tù ngày 26/3/2010.

+ Ngày 31/01/2018 bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam khởi tố bị can về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 2 Điều 138 BLHS năm 1999. Hiện vụ án chưa được xét xử.

+ Ngày 01/6/2018 bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Cẩm Lệ khởi tố bị can về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” quy định tại khoản 1 Điều 250 BLHS năm 1999.

Bị bắt tạm giam ngày 21 tháng 02 năm 2018, có mặt tại phiên tòa.

* Hồ Văn T– Sinh ngày 21 tháng 11 năm 1986 tại thành phố Đà Nẵng - Nơi ĐKHKTT: tổ 42 phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng; Chỗ ở: 27 Dương Lâm, Nại Hiên Đông, quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng; Nghề nghiệp: lao động phổ thông; Trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Hồ Văn Đvà bà Trần Thị H; Gia đình có 04 người con. Bị cáo là con thứ hai. Vợ: Lưu Thị H, sinh năm: 1978, có 01 con sinh năm 2013.

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân:

+Tại bản án số 36/2008/HSST ngày 29/12/2008 của TAND quận Ngũ Hành Sơn xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Ra tù ngày 02/4/2009.

+ Ngày 31/01/2018 bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam khởi tố bị can về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 2 Điều 138 BLHS năm 1999. Hiện vụ án chưa được xét xử.

Bị bắt tạm giữ ngày 09 tháng 12 năm 2017, có mặt tại phiên tòa.

*Người bị hại:

1. Ông Phạm Duy B- Sinh năm: 1960; Trú tại: tổ 01 phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt.

2. Ông Trần Văn C- Sinh năm: 1969; Trú tại: số 823 Nguyễn Hữu T, phường K, quận C, thành phố Đà Nẵng. Có mặt.

*Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

1. Ông Mạc Văn H - Sinh năm: 1970; Trú tại: khối 2 phường V, thị xã Điện Bàn. Có mặt.

2. Bà Nguyễn Thị Mỹ D - Sinh năm: 1971; Trú tại: khối 2 phường V, thị xã Điện Bàn. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án

được tóm tắt như sau:

Để có tiền tiêu xài nên Hồ Văn Tvà Hồ Văn Tđã tổ chức thực hiện nhiều vụ trộm cắp xe mô tô tại các khu vực giáp ranh giữa tỉnh Quảng Nam và thành phố Đà Nẵng. Quá trình phạm tội, Hồ Văn Tlà người điều khiển phương tiện chở Hồ Văn Tngồi sau quan sát nếu phát hiện có xe mô tô không có người trông giữ thì T đứng cảnh giới cho Tr tiếp cận, tìm cách chiếm đoạt. Xe mô tô sau khi bị chiếm đoạt được các đối tượng thay biển số khác vào nhằm tránh bị phát hiện rồi cùng nhau tìm cách tiêu thụ, ăn chia. Với phương thức và thủ đoạn trên, cả hai đã thực hiện trót lọt nhiều vụ trộm cắp, trong đó có 02 vụ được thực hiện tại địa bàn quận Cẩm Lệ - TP Đà Nẵng. Cụ thể như sau:

Lần 1: Vào trưa ngày 02/10/2017, T điều khiển xe mô tô hiệu Sirius màu trắng đen không rõ biển kiểm soát chở Tr đi tìm kiếm xe mô tô để trộm cắp. Khi đi ngang qua nhà số 669D Trường Chinh, thuộc phường Hoà Phát, quận Cẩm Lệ, Tr phát hiện xe mô tô hiệu LEAD màu nâu-đen biển kiểm soát 43C1-083.42 của anh Phạm Duy Bkhông có người trông giữ, chìa khoá còn cắm trên xe. Tr nói T dừng xe đứng cảnh giới rồi lén lút tiếp cận, bật chìa khoá khởi động xe rồi cùng nhau tẩu thoát. Cả hai mang xe trộm cắp được về lại nhà Tr tại khối phố Ngân Câu, phường Điện Ngọc, tháo biển kiểm soát 43C1-083.42 đem vứt bỏ và thay biển kiểm soát của một xe khác mà cả hai đã chiếm đoạt trước đó vào. Sau đó, Tr và T sử dụng xe này làm phương tiện thực hiện thêm một số vụ trộm cắp tài sản khác trên địa bàn thị xã Điện Bàn cho đến khoảng 10 ngày sau thông qua Việt, Tr bán xe cho người tên Tuấn với giá 5.000.000đồng, Tr chia lại cho T 2.000.000đồng. Số tiền bán xe, cả hai đã tiêu xài hết. Chiếc xe trên hiện không thu hồi được.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 32/KL-ĐGTS ngày 11/6/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận Cẩm Lệ kết luận: Xe mô tô hiệu LEAD màu nâu đen biển kiểm soát 43C1-083.42 có trị giá vào thời điểm bị chiếm đoạt là 11.600.000đồng.

Anh Phạm Duy Byêu cầu các đối tượng bồi thường số tiền 11.600.000đồng tương đương với giá trị chiếc xe trên. Tr và T chưa bồi thường.

Lần 2: Khoảng 12 giờ ngày 21/11/2017, T điều khiển xe mô tô hiệu Sirius như trên chở Tr đi tìm tài sản để trộm cắp. Khi đến trước nhà số 823 đường Nguyễn Hữu Thọ, phường Khuê Tr, quận Cẩm Lệ, Tr phát hiện xe mô tô hiệu LEAD màu đỏ biển kiểm soát 43G1-140.46 của anh Trần Văn Cđang dựng trước nhà, chìa khoá còn cắm trên xe. Tr nói T dừng xe cảnh giới, còn Tr tiếp cận nổ máy xe tẩu thoát. Cũng như lần trước, cả hai về nhà Tr, thay biển kiểm soát của xe khác mà cả hai chiếm đoạt trước đó vào, còn biển kiểm soát 43G1-140.46 thì đem vứt đi.

Để có được nhiều tiền từ việc tiêu thụ chiếc xe trên, Tr và T thống nhất làm giả giấy chứng minh nhân dân, giấy đăng ký và biển kiểm soát xe mô tô để đem đi cầm. Theo phân công, T liên hệ với tài khoản facebook “Hùng Sài Gòn” đặt làm 01 chứng minh nhân dân có dán ảnh của Hồ Văn Tnhưng lấy nhân thân là Nguyễn Văn Cường có hộ khẩu thường trú tại Cẩm Kim, Hội An, Quảng Nam; 01 giấy đăng ký xe mô tô giả đứng tên Nguyễn Văn Cường và 01 biển kiểm soát giả số 92C1-168.03 với tiền công 3.500.000đồng. T đặt cọc trước cho Hùng 300.000đồng bằng thẻ card điện thoại đồng thời cung cấp số khung, số máy của xe anh Trần Văn Cvà gửi ảnh của Hồ Văn Tcho người này. Khoảng 03 ngày sau, đối tượng này gửi chứng minh nhân dân, giấy đăng ký xe mô tô và biển kiểm soát giả cho T, T chuyển trả tiền cho người này qua đường bưu điện. Đến ngày 30/11/2017, Tr và T đem xe và các giấy tờ giả nêu trên đến tiệm cầm đồ của anh Mạc Văn H cầm cố được 15.000.000đồng, Tr chia cho T 5.000.000đồng. Số tiền có được cả hai tiêu xài hết cho cá nhân. Quá hạn cầm cố, không thấy Tr và T quay lại chuộc xe nên anh Hùng đã bán lại xe cho người khác nên không thu hồi được.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 32/KL-ĐGTS ngày 11/6/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận Cẩm Lệ kết luận: Xe mô tô hiệu LEAD màu đỏ biển kiểm soát 43G1-140.46 có trị giá vào thời điểm bị chiếm đoạt là 22.980.000đồng.

Anh Trần Văn Cyêu cầu bồi thường số tiền 22.980.000 đồng tương đương giá trị chiếc xe đã bị chiếm đoạt. Tr và T chưa bồi thường.

Tại Cơ quan điều tra Tr và T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên.

T¹i b¶n c¸o tr¹ng sè 38/KSĐT ngày 16 tháng 8 năm 2018, Viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng đã truy tố các bị cáo Hồ Văn Tr, Hồ Văn Tvề tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999.

KiÓm s¸t viªn gi÷ quyÒn c«ng tè t¹i phiªn tßa h«m nay gi÷ nguyªn néi dung c¸o tr¹ng truy tè vµ ®Ò nghÞ H§XX áp dụng điểm a khoản 2 Điều 138; điểm b, r, s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 cña Bé luËt h×nh sù năm 2015 ®Ó xö ph¹t bÞ c¸o Hồ Văn Tmøc ¸n từ 24 đến 30 tháng tù.

Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 138; điểm b, r , s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 54 cña Bé luËt h×nh sù năm 2015 ®Ó xö ph¹t bÞ c¸o Hồ Văn Tmøc ¸n từ 18 đến 24 tháng tù;

Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị HĐXX áp dụng Điều 584, 585 và Điều 587 Bộ luật dân sự năm 2015 buộc bị cáo Hồ Văn Tr, Hồ Văn Tphải có trách nhiệm liên đới bồi thường cho người bị hại anh Phạm Duy Bsố tiền: 11.600.000đ và liên đới bồi thường cho người bị hại anh Trần Văn Csố tiền: 22.980.000đ.

Tiếp tục quy trữ để đảm bảo thi hành án đối với số tiền 2.000.000đ gia đình các bị cáo Hồ Văn Tr, Hồ Văn Ttự nguyện nộp để khắc phục hậu quả tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng.

Bị cáo Hồ Văn Tnói lời nói sau cùng: Xin HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm về hòa nhập cộng đồng.

Bị cáo Hồ Văn Tnói lời nói sau cùng: Xin HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm về hòa nhập cộng đồng

C¨n cø vµo c¸c chøng cø vµ tµi liÖu ®· ® îc thÈm tra t¹i phiªn toµ; c¨n cø vµo kÕt qu¶ tranh luËn t¹i phiªn toµ trªn c¬ së xem xÐt ®Çy ®ñ, toµn diÖn chøng cø, ý kiÕn cña kiÓm s¸t viªn, bÞ c¸o vµ nh÷ng ng êi tham gia tè tông kh¸c.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đó được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đó thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên toà hôm nay, các bị cáo Hồ Văn Tr, Hồ Văn Tđã khai nhận hành vi phạm tội. Lời nhận tội của các bị cáo phù hợp với các tài liệu chứng cứ thu thập được trong hồ sơ vụ án, HĐXX có đủ cơ sở để kết luận: Vào các ngày 02/11/2017 và 21/11/2017, Hồ Văn Tvà Hồ Văn Tđã cùng nhau tổ chức thực hiện 02 vụ trộm cắp xe mô tô trên địa bàn quận Cẩm Lệ, trong đó, chiếm đoạt 01 xe mô tô hiệu LEAD màu nâu đen biển kiểm soát 43C1-083.42 trị giá 11.600.000đồng của anh Phạm Duy Ba; chiếm đoạt 01 xe mô tô hiệu LEAD màu đỏ biển kiểm soát 43G1-140.46 trị giá 22.980.000đồng của anh Trần Văn Chung. Tổng giá trị tài sản đã chiếm đoạt là 34.580.000đồng (ba mươi bốn triệu năm trăm tám mươi nghìn đồng).

Hành vi cña các bÞ c¸o Hồ Văn Tr, Hồ Văn T®· ph¹m vµo téi “Trộm cắp tài sản”, téi ph¹m vµ h×nh ph¹t ® îc quy ®Þnh t¹i ®iÓm a kho¶n 2 ®iÒu 138 cña Bé luËt h×nh sù năm 2015.

Xét tính chất của hành vi phạm tội của các bị cáo Hồ Văn Tr, Hồ Văn Tlà nguy hiểm cho xã hội bởi lẽ Hồ Văn Tr, Hồ Văn Tđều là người đã thành niên nhưng không chịu tu dưỡng đạo đức và lao động mà muốn có tiền để tiêu xài cho bản thân nên đã lao vào con đường phạm tội. Hành vi của các bị cáo không những xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác mà còn ảnh hưởng đến tình hình trật tự xã hội, gây hoang mang lo lắng trong quần chúng nhân dân. Các bị cáo phạm tội thuộc trường hợp phạm tội có tổ chức là tình tiết định khung tăng nặng được quy định tại điểm a khoản 2 Điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999. Ngoài ra lần phạm tội này của các bị cáo thuộc trường hợp “phạm tội 02 lần trở lên” là tình tiết tăng nặng quy định tại điểm g Khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Xét vai trò của từng bị cáo trong vụ án thì thấy:

Bị cáo Hồ Văn Tlà người khởi xướng, cầm đầu có vai trò tích cực nhất. Bị cáo là người chuẩn bị phương tiện phạm tội như chìa khóa và biển kiểm soát nhằm che giấu tội phạm, bị cáo là người quan sát và trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội, sau khi phạm tội thì bị cáo là người trực tiếp chia tỷ lệ ăn chia cho bị cáo T. Nguy hiểm hơn ở đây bị cáo Tr đã rủ rê chính anh trai ruột của mình cùng tham gia vào việc phạm tội. Bị cáo Hồ Văn Tđã từng bị TAND quận Hải Châu xử phạt 09 tháng tù về tội “ “Trộm cắp tài sản” vào năm 2006 vào năm 2009 bị cáo tiếp tục bị TAND thành phố Đà Nẵng xử phạt 24 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Đến nay bị cáo đã được xóa án tích đối với hai bản án trên nhưng bị cáo vẫn không lấy đó làm bài học để tu dưỡng, rèn luyện bản thân mà vẫn tiếp tục sa vào con đường phạm pháp. Ngoài ra, bị cáo còn có nhân thân xấu: Có 01 tiền sự về hành vi “ Sử dụng trái phép chất ma túy”. Ngày 31/01/2018 bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam khởi tố bị can về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 2 Điều 138 BLHS năm 1999. Hiện vụ án chưa được xét xử. Ngày 01/6/2018 bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Cẩm Lệ khởi tố bị can về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” quy định tại khoản 1 Điều 250 BLHS năm 1999. Hiện vụ án chưa được xét xử. Đồng thời trong vụ án này tỷ lệ ăn chia của bị cáo Tr cũng nhiều hơn bị cáo T. Do đó, HĐXX thấy cần xử phạt bị cáo Tr một mức án nặng hơn bị cáo T đồng thời phải tương xứng với tính chất của hành vi phạm tội, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục riêng bị cáo và phòng ngừa chung.

Đối với bị cáo Hồ Văn Tsau khi bị em trai là Tr rủ rê bị cáo không những không can ngăn mà còn lao vào con đường phạm tội, tham gia giúp sức cho bị cáo Tr một cách tích cực. Tuy bị cáo không trực tiếp thực hiện hành vi trộm cắp tài sản nhưng bị cáo là người cảnh giới bên ngoài tạo điều kiện thuận lợi cho bị cáo Tr vào lấy xe. Đồng thời bị cáo cũng là người trực tiếp liên hệ để làm chứng minh nhân dân, giấy đăng ký xe mô tô và biển kiểm soát giả để tăng giá trị cho xe khi đem đi tiêu thụ. Trong vụ án này tỉ lệ ăn chia của bị cáo T ít hơn bị cáo Tr. Về nhân thân vào năm 2008 bị cáo bị TAND quận Ngũ Hành Sơn xử phạt 06 tháng tù về tội” Trộm cắp tài sản”. Đến nay bị cáo đã được xóa án tích đối với bản án trên nhưng bị cáo vẫn không lấy đó làm bài học để tu dưỡng, rèn luyện bản thân mà vẫn tiếp tục sa vào con đường phạm pháp. Ngoài ra vào ngày 31/01/2018 bị cáo còn bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam khởi tố bị can về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 2 Điều 138 BLHS năm 1999.

Do đó, HĐXX xét thấy cần xử phạt bị cáo Hồ Văn Tmột mức án tương xứng với với tính chất của hành vi phạm tội, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục riêng bị cáo và phòng ngừa chung.

Tuy nhiên trong quá trình điều tra các bị cáo Hồ Văn Tr, Hồ Văn Tđã tự nguyện khai ra những vụ án chưa bị phát hiện, tại phiên tòa hôm nay các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Trong quá trình đưa vụ án ra xét xử thì các bị cáo Hồ Văn Tr, Hồ Văn Tđã tác động gia đình khắc phục một phần hậu quả. Đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm r, s, b khoản 1 Điều 51 BLHS năm 2015. Ngoài ra, bị cáo Hồ Văn Tcó thời gian phục vụ trong quân đội nên cần áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 BLHS năm 2015 cho bị cáo để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo trong khi quyết định hình phạt.

Tại phiên tòa hôm nay đại diện VKSND quận Cẩm Lệ đề nghị HĐXX áp dụng thêm Điều 54 của Bộ luật hình sự năm 2015 để xử phạt bị cáo Hồ Văn Tmột mức án dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng. HĐXX xét thấy bị cáo Hồ Văn Tcó 03 tình tiết giảm nhẹ là điểm b, r , s khoản 1 của Điều 51 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 nên đề nghị của đại diện VKSND quận Cẩm Lệ là có căn cứ nên HĐXX thấy phù hợp nên chấp nhận.

Đối với xe mô tô hiệu Sirius màu trắng đen, các điện thoại các đối tượng dùng để liên lạc, 02 biển kiểm soát được dùng để thay thế biển kiểm soát của 02 xe bị chiếm đoạt, cờ lê và chìa khoá được các đối tượng sử dụng làm phương tiện phạm tội, đây đồng thời là vật chứng trong vụ án trộm cắp tài sản khác do Cơ quan tố tụng thị xã Điện Bàn thụ lý giải quyết nên HĐXX không đề cập xử lý.

Đối với anh Mạc Văn H, khi nhận cầm cố xe mô tô, anh Hùng không biết giấy tờ các đối tượng mang đến là giả và không biết đây là tài sản do phạm tội mà có nên không có cơ sở để xử lý đối với anh Hùng là có cơ sở.

Đối với các đối tượng Nguyễn Văn Việt, Tuấn, chủ tài khoản facebook “Hùng Sài Gòn” chưa xác định được nhân thân lai lịch nên tách ra, tiếp tục điều tra, xử lý sau là có cơ sở.

* Về trách nhiệm dân sự:

Cũng tại phiên tòa hôm nay người bị hại là ông Phạm Duy Bvắng mặt nhưng trông quá trình điều tra cũng như giai đoạn chuẩn bị xét xử ông Phạm Duy Byêu cầu các bị cáo Hồ Văn Tr, Hồ Văn Tcó trách nhiệm liên đới trong việc bồi thường số tiền 11.600.000đồng tương đương với giá trị chiếc xe mô tô hiệu LEAD màu nâu-đen biển kiểm soát 43C1-083.42; ông Trần Văn Cyêu cầu các bị cáo Hồ Văn Tr, Hồ Văn Tcó trách nhiệm liên đới trong việc bồi thường số tiền 22.980.000đ tương đương với giá trị chiếc xe mô tô hiệu LEAD màu đỏ biển kiểm soát 43G1-140.46;

Xét yêu cầu của người bị hại ông Phạm Duy Ba, ông Trần Văn Cthì thấy các bị cáo Hồ Văn Tr, Hồ Văn Tsau khi trộm cắp được các tài sản nêu trên thì cùng nhau bán để lấy tiền tiêu xài vào mục đích cá nhân. Do vậy, HĐXX thấy cần chấp nhận yêu cầu của ông Phạm Duy Ba, ông Trần Văn Chung. Và áp dụng khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự năm 2015, Điều 584, Điều 585, 586, 587 và Điều 589 của Bộ luật dân sự năm 2015 buộc các bị cáo Hồ Văn T, Hồ Văn Tphải liên đới bồi thường thiệt hại cho ông Phạm Duy Bsố tiền là 11.600.000đ, trong đó chia phần bị cáo Hồ Văn Tphải bồi thường số tiền là 5.800.000đ và Hồ Văn Tphải bồi thường số tiền là: 5.800.000đ;

Hồ Văn T, Hồ Văn Tphải liên đới bồi thường thiệt hại cho ông Trần Văn Csố tiền là 22.980.000đ, trong đó chia phần bị cáo Hồ Văn Tphải bồi thường số tiền là 11.490.000đ và Hồ Văn Tphải bồi thường số tiền là: 11.490.000đ;

Đối với số tiền 1.000.000đ theo biên lai thu tiền số 006488 ngày 04/9/2018 và số tiền số tiền 1.000.000đ theo biên lai thu tiền số 006489 ngày 04/9/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng gia đình các bị cáo Hồ Văn Tr, Hồ Văn Tnộp để khắc phục hậu quả HĐXX thấy cần tuyên tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

* Án phí dân sự sơ thẩm bị cáo Hồ Văn Tphải chịu trên số tiền phải bồi thường là : 17.290.000đ nhưng đã bồi thường được 1.000.000đ nên bị cáo Hồ Văn Tphải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 16.290.000đ x 5% = 814.500đ.

* Án phí dân sự sơ thẩm bị cáo Hồ Văn Tphải chịu trên số tiền phải bồi thường là : 17.290.000đ nhưng đã bồi thường được 1.000.000đ nên bị cáo Hồ Văn Tphải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 16.290.000đ x 5% = 814.500đ.

¸n phÝ h×nh sù s¬ thÈm các bÞ c¸o Hồ Văn Tr, Hồ Văn Tph¶i chÞu theo quy ®Þnh cña ph¸p luËt.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm a khoản 2 điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999; điểm b, r,s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015.

Xử phạt bị cáo Hồ Văn T 24 (Hai mươi tư) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày bắt giam Thi hành án.

Căn cứ vào điểm a khoản 2 điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999; điểm b, r,s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 54 Bộ luật hình sự năm 2015.

Xử phạt bị cáo Hồ Văn T18 ( Mười tám) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày bắt giam Thi hành án.

2. Về trách nhiệm dân sự:

Áp dụng khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự năm 2015, Điều 584, Điều 585, Điều 586, 587 và Điều 589 của Bộ luật dân sự năm 2015 buộc bị cáo Hồ Văn Tr, Hồ Văn Tmỗi bị cáo phải bồi thường thiệt hại cho ông Phạm Duy Bsố tiền 5.800.000đ, bị cáo Hồ Văn Tr, Hồ Văn Tmỗi bị cáo phải bồi thường thiệt hại cho ông Trần Văn Csố tiền 11.490.000đ.

Tuyên tiếp tục quy trữ để đảm bảo Thi hành án đối với số tiền 1.000.000đ theo biên lai thu tiền số 006488 ngày 04/9/2018 và số tiền 1.000.000đ theo biên lai thu tiền số 006489 ngày 04/9/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

3. Án phí hình sự sơ thẩm các bị cáo Hồ Văn Tr, Hồ Văn Tmỗi bị cáo phải chịu là 200.000đ.

Án phí dân sự sơ thẩm bị cáo Hồ Văn Tphải chịu là: 814.500đ.

Án phí dân sự sơ thẩm bị cáo Hồ Văn Tphải chịu là: 814.500đ.

Án xử công khai sơ thẩm báo cho các bị cáo, người bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Riêng người bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được trích sao bản án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ