vanban.org

Bản án 50/2017/HSST — Hình sự

TAND TP. Gò Công, tỉnh Tiền Giang Tuyên án 24/11/2017 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị H phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng khoản 1 Điều 138; Điều 33; điểm h, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự.

VKSND thị xã Gò Công; THA.DS thị xã Gò Công; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "BỊ CÁO: NGUYỄN THỊ H (TRỘM CẮP TÀI SẢN) - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị H phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng khoản 1 Điều 138; Điều 33; điểm h, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự.
  • Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật hình sự giảm nhẹ hình phạt; Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 138 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ GÒ CÔNG
TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 50/2017/HSST
Ngày: 24-11-2017

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ GÒ CÔNG, TỈNH TIỀN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bích Liễu. Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Phạm Văn Hợp – Cán bộ hưu trí. 2/ Bà Võ Thị Bích Liên – Chi cục thuế thị xã Gò Công. Thư ký phiên tòa: Ông Trần Công Triều – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Gò Công, tỉnh Tiền Giang. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Gò Công tham gia phiên tòa: Ông Võ Minh Tuấn - Kiểm sát viên. Trong các ngày 17 và 24 tháng 11 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Gò Công, tỉnh Tiền Giang mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 46/TL-HSST ngày 13 tháng 10 năm 2017, đối với bị cáo: Nguyễn Thị H, sinh năm 1980; Nơi sinh: Tỉnh S;

- Hộ khẩu thường trú: Không có;

- Chỗ ở: Sống lang thang;

- Con ông Hồ Văn Đ (đã chết) và bà Nguyễn Thị N (đã chết);

- Trình độ học vấn: Không biết chữ; Dân tộc: Kinh; Nghề nghiệp: Không;

- Chồng: Trần Văn S, sinh năm 1978 (Sống chung không đăng ký kết hôn, không có nơi cư trú ổn định); Con: có 03 người, lớn nhất sinh năm 2009, nhỏ nhất sinh năm 2015;

- Tiền án, tiền sự: không;

- Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 13/8/2017 đến ngày 22/8/2017 bị tạm giam cho đến nay; Bị cáo có mặt tại phiên tòa. Người bị hại: Phan Thị Thu T, sinh năm 1976; (Vắng mặt)

- Thường trú: Khu phố H, thị trấn V, huyện G, tỉnh Tiền Giang;

- Chỗ ở: Ấp V, xã B, huyện G, tỉnh Tiền Giang. Người làm chứng: 1/ Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1949; (Vắng mặt) Thường trú: Ấp B, xã P, huyện T, tỉnh Tiền Giang. 2/ Phan Thị T (tên gọi khác: Thanh), sinh năm 1978; (Vắng mặt) Thường trú: Ấp B, xã T, huyện G, tỉnh Tiền Giang. 3/ Lê Thị T (tên gọi khác: Gọn), sinh năm 1964; (Vắng mặt) Thường trú: 126/2 khu phố B, Phường B, thị xã G, tỉnh Tiền Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án cụ thể như sau: Vào khoảng 20 giờ ngày 12/8/2017, sau khi cự cãi với chồng, Nguyễn Thị H đã bắt xe từ tỉnh Bình Dương xuống thị xã G, tỉnh Tiền Giang. Đến sáng ngày 13/8/2017, Nguyễn Thị H xuống tới bến xe thị xã G rồi bắt xe ôm vào chợ thị xã G để mua đồ nhưng trong người không còn tiền nên nảy sinh ý định tìm người nào đó sơ hở để trộm cắp tài sản. Nguyễn Thị H đi vào trong chợ mua một cái lưỡi lam của một người bán dạo với giá 3.000 đồng và cầm trên tay đi lòng vòng chợ thấy chị Phan Thị Thu T đang bồng trên tay cháu Phan Nguyễn Huỳnh T (cháu của chị T) và cháu Phan Trần Huỳnh T (con gái chị T) đi theo. Khi đi đến gần sạp bán cá, tôm, lợi dụng lúc đông người, Nguyễn Thị H dũng lưỡi lam rạch ngang túi áo khoác của chị Phan Thị Thu Thảo, tiền của chị Thảo rớt xuống đất rồi khom xuống lượm cọc tiền bỏ vào nón bảo hiểm đang cầm trên tay và bỏ đi thì người trong hàng bán cá phát hiện và báo cho chị T biết nên chị T chạy theo nắm tay Nguyễn Thị H lại và kiểm tra phát hiện tiền trong nón bảo hiểm. Chị Phan Thị Thu T truy hô cùng người dân đưa Nguyễn Thị H lên trụ sở Công an Phường M lập biên bản và xử lý. Tại bản cáo trạng số 45/KSĐT-KT ngày 13 tháng 10 năm 2017 của Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi trộm cắp như cáo trạng Viện kiểm sát nêu là đúng. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Gò Công đề nghị: Tuyên bố bị cáo phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

- Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 138; Điều 33; điểm h, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo từ 09 (Chín) tháng tù đến 12 (Mười hai) tháng tù thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 13 tháng 8 năm 2017.

- Về vật chứng: Áp dụng Điều 41 Bộ luật hình sự, Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự: Ghi nhận việc Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thị xã G đã trao trả cho chị Phan Thị Thu T số tiền 8.000.000 đồng. Tịch thu, tiêu hủy 01 (một) nón bảo hiểm màu tím có quai màu đen của bị cáo do sử dụng vào việc phạm tội. Trả lại cho người bị hại 01 (một) chiếc áo khoác màu đỏ túi bên trái bị rạch sát đáy túi do không liên quan vụ án.

- Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định pháp luật. Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

+ Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã G, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Gò Công, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. +Về nội dung: Tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội là do bị cáo muốn có tiền để tiêu xài cá nhân nên đã lén lút dùng lưỡi lam rạch túi áo khoác chiếm đoạt số tiền 8.000.000 đồng của chị Phan Thị Thu T. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại, người làm chứng và các chứng cứ khác có trong hồ sơ. Vì vậy Cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân thị xã Gò Công, tỉnh Tiền Giang đã truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” là đúng. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân, đồng thời hành vi ấy còn gây mất trật tự ở địa phương làm cho nhân dân không an tâm trong lao động, sản xuất, bất bình lên án. Xét nhân thân của bị cáo: Bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải, tài sản bị cáo trộm cắp Cơ quan Cảnh sát điều tra đã thu hồi trả lại cho chị Phan Thị Thu T nên Hội đồng xét xử xem xét áp dụng điểm h, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo trong lúc lượng hình. Về vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thị xã G đã trao trả cho chị Phan Thị Thu T số tiền 8.000.000 đồng là có cơ sở nên Hội đồng xét xử không xem xét. Đối với 01 (một) nón bảo hiểm màu tím có quai màu đen do bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên cần tịch thu, tiêu hủy. Đối với 01 (một) chiếc áo khoác màu đỏ túi bên trái bị rạch sát đáy túi xét thấy đây là vật dụng cá nhân của người bị hại không liên quan đến vụ án nên cần trả lại cho người bị hại. Về trách nhiệm dân sự: Sau khi nhận lại tài sản đã mất, chị Phan Thị Thu T không yêu cầu bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét. Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định pháp luật. Từ những phân tích nêu trên Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị H phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng khoản 1 Điều 138; Điều 33; điểm h, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị H 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ là ngày 13 tháng 8 năm 2017. Về vật chứng: Áp dụng Điều 41 Bộ luật hình sự, Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự; Tịch thu, tiêu hủy 01 (một) nón bảo hiểm màu tím có quai màu đen của bị cáo. Trả lại cho người bị hại Phan Thị Thu T 01 (một) chiếc áo khoác màu đỏ túi bên trái bị rạch sát đáy túi. Thời gian thực hiện là khi án có hiệu lực pháp luật. (Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 16 tháng 11 năm 2017 giữa Viện kiểm sát nhân dân thị xã Gò Công, tỉnh Tiền Giang với Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Gò Công, tỉnh Tiền Giang). Về án phí: Áp dụng Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Bị cáo Nguyễn Thị H phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, người bị hại vắng mặt thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ