- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "VIB-Nguyễn Năng T., Nguyễn Thị Thủy T."
- Tòa quyết gì? Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ chính? Nghị định số 11/2012/NĐ-CP Về sửa đổi, bổ sung một số điều c…; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 497/2022/DS-PT Ngày: 02-12-2022 V/v “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:
Bà Nguyễn Thị Lan Anh
Các thẩm phán:
Ông Mai Tiến Dũng
Ông Trương Chí Anh
Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Đinh Thị Thu Hương – Thẩm tra viên
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên toà:
Nguyễn Mai Thanh - Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 12 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xét
xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 372/2022/TLPT-DS ngày 06 tháng
10 năm 2022 về việc “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 59/2022/DS-ST ngày 29/7/2022 của Toà án nhân
dân huyện TT17, thành phố Hà Nội bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 404/2022/QĐ-PT ngày 14
tháng 10 năm 2022 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: NH1
Địa chỉ: Tầng 1 (tầng trệt) và Tầng 2 Tòa nhà ST2, số 111A PT3, phường
BN4, quận 1, thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo pháp luật: Ông HNV5 - Tổng giám đốc;
Người đại diện theo ủy quyền: Ông TTC6-Giám đốc thu hồi nợ trực tiếp và
xử lý nợ -Trung tâm Quản lý nợ Ngân hàng bán lẻ - VIB.
Đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng: Ông LQV7, bà ĐTHG8, ông NTK9;
Chức vụ: Cán bộ ngân hàng (Theo giấy ủy quyền số 068116.22 ngày 24/6/2022). Có
mặt bà Gấm, vắng mặt ông Việt, ông Khuê.
Địa chỉ liên hệ: Tầng M, Toà nhà HH10, 25 LTK11, quận HK12, thành phố
Hà Nội.
Bị đơn: Anh NNT13, sinh năm 1990; Vắng mặt.
Chị NTTT14, sinh năm 1992; Vắng mặt.
Cùng địa chỉ: Thôn ĐK15, xã DN16, huyện TT17, thành phố Hà Nội.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
1. Cháu NNTD18, sinh năm 2013;
2. Cháu NAD19, sinh năm 2017;
Người đại diện hợp pháp của các cháu D18, D19 là: Anh NNT13 và chị
NTTT14. Đều vắng mặt.
Do có kháng cáo của nguyên đơn là NH1.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 05/8/2021 của Ngân hàng thương mại TMCP
Quốc tế Việt Nam và các tài liệu có trong hồ sơ thì vụ án có nội dung như sau:
NH1 (VIB) đã ký với anh NNT13 và chị NTTT14 các Hợp đồng tín dụng, cụ
thể như sau:
1. Hợp đồng tín dụng số 1278080.19 ngày 25/11/2019 với nội dung: VIB cho
anh NNT13 và chị NTTT14 vay số tiền 500.000.000 đồng; Mục đích vay vốn: cho vay sửa chữa nhà; Thời hạn vay: 180 tháng tính từ ngày tiếp theo ngày khoản tín dụng được giải ngân (từ ngày 26/11/2019 đến ngày 25/11/2034). Lãi suất vay: Lãi suất tại thời điểm giải ngân bằng 9.1%/năm. Lãi suất này là lãi suất ưu đãi và chỉ được áp dụng trong 06 tháng đầu tiên kể từ Ngày giải ngân khoản tín dụng. Hết thời hạn ưu đãi nói trên, lãi suất sẽ được điều chỉnh lại 03 tháng một lần bằng Lãi suất cơ sở theo sản phẩm cộng (+) biên độ 4.1%/năm. Hoàn trả khoản vay gốc vào ngày 25 hàng tháng. Số tiền gốc trả hàng tháng là 2.778.000 VNĐ. Số còn lại trả vào cuối kỳ. Hoàn trả lãi: vào ngày 25 hàng tháng theo dư nợ thực tế phát sinh. Ngày trả nợ gốc lãi đầu tiên là ngày 25/12/2019.
Ngày 25/11/2019, VIB đã giải ngân cho anh NNT13 và chị NTTT14 theo
Đơn đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 1278080(1).19 với số tiền 500.000.000 đồng theo đúng yêu cầu của khách hàng và phù hợp với HĐTD.
2. Đăng ký phát hành thẻ tín dụng quốc tế:
Chủ thẻ: NNT13
Hạn mức tín dụng: 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng).
Quá trình thực hiện hợp đồng, anh NNT13 và chị NTTT14 đã vi phạm nội
dung thỏa thuận tại các HĐTD đã ký. Vì vậy, VIB đã chuyển khoản vay thành khoản nợ quá hạn từ ngày 25/01/2021.
Tạm tính đến ngày 05/08/2021, anh NNT13 và chị NTTT14 đã trả cho VIB số
tiền tổng cộng là 95.383.784 đồng (trong đó: nợ gốc 37.314.000 đồng, nợ lãi 57.783.247 đồng, lãi phạt 286.537 đồng).
Tạm tính đến ngày 09/07/2021, khách hàng còn nợ NH1 số tiền là:
563.614.598 đồng (Năm trăm sáu mươi ba triệu, sáu trăm mười bốn nghìn, năm trăm
chín mươi tám đồng), bao gồm:
Đơn vị: đồng
Nợ
Nợ
HĐTD
Nợ gốc
lãi trong
Tổng
lãi quá hạn
hạn
1278080.19 ngày
462.68
31.0
1.39
495.159
25/11/2019
6.000
80.559
3.438
.997
Đề nghị phát hành
Thẻ tín dụng quốc tế kiêm
49.933.
6.84
11.6
68.454.
Hợp đồng mở và sử dụng
391
5.663
75.547
601
tài khoản ngày 26/11/2019
512.61
37.9
13.0
563.614
Tổng
9.391
26.222
68.985
.598
Tài sản để đảm bảo khoản vay trên là: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền
với đất tại thửa đất số: 1028, tờ bản đồ số: 3, địa chỉ: xã DN16, huyện TT17, thành
phố Hà Nội theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản
khác gắn liền với đất số: CS 812746, số vào sổ cấp GCN: CS-TTH15213 do Sở tài
nguyên và môi trường, thành phố Hà Nội cấp ngày 13/08/2019, mang tên anh
NNT13. Tài sản này được thế chấp tại VIB theo Hợp đồng thế chấp số công chứng
6372 HĐTC, Quyển số: 06/2019 TP/CC-SCC/HĐGD do Văn phòng công chứng Hà
Đông, thành phố Hà Nội công chứng ngày 21/11/2019. Việc thế chấp và đăng ký
giao dịch bảo đảm theo đúng quy định của pháp luật.
VIB yêu cầu Tòa giải quyết những nội dung sau:
- Buộc anh NNT13 và chị NTTT14 phải thanh toán cho NH1 ngay sau khi
Bản án/Quyết định có hiệu lực thi hành, số tiền tạm tính đến ngày 09/07/2021 là:
563.614.598 đồng (Năm trăm sáu mươi ba triệu, sáu trăm mười bốn nghìn, năm trăm
chín mươi tám đồng).
- Đề nghị Tòa án tiếp tục tính lãi, lãi quá hạn kể từ ngày 10/07/2021 cho đến
khi anh NNT13 và chị NTTT14 thanh toán xong toàn bộ khoản nợ theo quy định tại
các Hợp đồng tín dụng (HĐTD) đã ký.
- Trong trường hợp anh NNT13 và chị NTTT14 không thực hiện hoặc thực
hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ cho VIB, đề nghị Tòa án tuyên NH1 có quyền
được tự phát mại tài sản bảo đảm hoặc yêu cầu cơ quan có thẩm quyền kê biên, phát
mại tài sản bảo đảm nêu trên. Toàn bộ số tiền thu được từ việc xử lý tài sản đảm bảo được dùng để thanh toán nghĩa vụ trả nợ cho bên vay vốn với VIB. Trường hợp nếu số tiền thu được từ xử lý tài sản đảm bảo không đủ để thanh toán hết nợ thì bên vay vốn vẫn phải có nghĩa vụ trả hết khoản nợ còn lại cho VIB.
Tại phiên tòa hôm nay, đại diện theo ủy quyền của VIB giữ nguyên các yêu
cầu như trong đơn khởi kiện: Buộc bị đơn trả toàn bộ số tiền theo các hợp đồng tín dụng và khế ước nhận nợ nêu trên, số liệu tính đến ngày 28/7/2022 là:
- Số tiền còn nợ theo hợp đồng tín dụng số 1278080.19 ngày 25/11/2019 là:
Nợ gốc: 462.686.000đ, lãi trong hạn: 36.509.418đ, lãi quá hạn: 90.015.247đ.
- Số tiền còn nợ theo hợp đồng mở và sử dụng tài khoản ngày 26/11/2019 là:
Nợ gốc: 49.933.391đ, lãi trong hạn: 26.526.651đ, lãi quá hạn: 67.441.773đ.
Tổng hai khoản vay là: Nợ gốc: 512.619.391 đồng, nợ lãi trong hạn:
63.036.069 đồng, nợ lãi quá hạn: 157.457.020 đồng.
Tổng cộng cả gốc và lãi của hai khoản vay là: 733.112.480 đồng (Bảy trăm ba
mươi ba triệu, một trăm mười hai nghìn, bốn trăm tám mươi đồng) và tiền lãi phát sinh sau ngày 28/7/2022 cho đến khi thực trả hết số nợ trên. Nếu sau khi án có hiệu lực pháp luật mà bị đơn không thanh toán được cho VIB thì VIB được quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý tài sản bảo đảm nêu trên theo quy định của pháp luật.
Trong quá trình tham gia tố tụng và tại phiên tòa sơ thẩm, bị đơn là anh
NNT13 và chị NTTT14 trình bày: Anh chị xác nhận các khoản nợ và tài sản đảm bảo như nguyên đơn đã trình bày.
Đối với khoản vay có thế chấp, anh chị đề nghị VIB gia hạn cho anh chị trả
nợ trong thời hạn 03 tháng, đồng thời tính lại tất cả số tiền lãi quá hạn từ trước đến nay theo mức lãi suất trong hạn. Đối với khoản vay theo hợp đồng mở và sử dụng tài khoản, anh chị xác nhận khoản nợ gốc nhưng không đồng ý với khoản tiền lãi của phía ngân hàng yêu cầu.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số 59/2022/DS-ST ngày 29/7/2022 của Toà án
nhân dân huyện TT17, thành phố Hà Nội xử:
1.1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của VIB.
- Buộc anh NNT13 và chị NTTT14 phải thanh toán cho VIB tổng số tiền còn nợ
theo Hợp đồng tín dụng số 1278080.19 và Khế ước nhận nợ số 1278080(1).19 cùng ngày 25/11/2019, tạm tính đến ngày 28/7/2022 là: 589.210.665 đ (Năm trăm tám mươi chín triệu, hai trăm mười nghìn, sáu trăm sáu mươi lăm đồng) bao gồm nợ gốc: 462.686.000 đồng; lãi trong hạn 36.509.418 đồng; lãi quá hạn: 90.015.247 đồng. Kể từ ngày 29/7/2022 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ, anh Tạo, chị Tiên còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thanh toán theo mức lãi suất các bên thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng, khế ước nhận nợ đã ký với VIB.
Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều
chỉnh lãi suất thì lãi suất mà anh Tạo, chị Tiên phải chịu theo quyết định của Tòa án
cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của VIB.
- Buộc anh NNT13 và chị NTTT14 phải thanh toán cho VIB số tiền còn nợ theo
Hợp đồng mở và sử dụng tài khoản ngày 26/11/2019 là: 49.933.391đ (Bốn mươi chín
triệu, chín trăm ba mươi ba nghìn, ba trăm chín mươi mốt đồng).
Sau khi bản án có hiệu lực pháp luật và kể từ ngày người được thi hành án có
đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành xong khoản tiền, hàng tháng bên phải
thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn chậm phải thi hành án theo
mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
1.2. Sau khi anh Tạo, chị Tiên thực hiện xong nghĩa vụ trả nợ thì VIB phải
giải chấp tài sản thế chấp, trả lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS 812746
do Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố Hà Nội cấp ngày 13/8/2019 cho anh
NNT13.
1.3. Trường hợp anh NNT13, chị NTTT14 thực hiện không đúng nghĩa vụ trả
nợ thì VIB có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mại tài
sản thế chấp là Quyền sử dụng đất và toàn bộ tài sản gắn liền với đất cùng các quyền
và lợi ích phát sinh từ thửa đất số: 1028, tờ bản đồ số: 3, địa chỉ: xã DN16, huyện
TT17, thành phố Hà Nội theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà
ở và tài sản khác gắn liền với đất số: CS 812746, số vào sổ cấp GCN: CS-
TTH15213 do Sở tài nguyên và môi trường, thành phố Hà Nội cấp ngày 13/08/2019,
mang tên anh NNT13. Tài sản này được thế chấp tại VIB theo Hợp đồng thế chấp số
công chứng 6372 HĐTC, Quyển số: 06/2019 TP/CC-SCC/HĐGD do Văn phòng
công chứng Hà Đông, thành phố Hà Nội công chứng ngày 21/11/2019, để thu hồi nợ.
Trường hợp phải xử lý tài sản thế chấp thì ngoài các đương sự có tên trên, nếu
các cá nhân, tổ chức nào đang thực tế sử dụng, sinh sống tại thửa đất nêu trên cũng
phải thực hiện nghĩa vụ dời đi chỗ khác để thi hành án.
1.4. Sau khi phát mại tài sản bảo đảm mà không đủ trả nợ cho khoản vay thì
anh Nguyễn Văn Tạo và chị NTTT14 vẫn phải tiếp tục chịu trách nhiệm trả nợ cho
VIB đến khi hoàn thành đầy đủ nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng tín dụng và khế ước
nhận nợ đã ký với VIB.
1.5. Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án
dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả
thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế
thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi
hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
1.6. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của VIB đối với khoản tiền lãi (lãi trong
hạn: 26.526.651đ, lãi quá hạn: 67.441.773đ) của Hợp đồng mở và sử dụng tài khoản ngày 26/11/2019.
Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí, thi hành án, quyền kháng cáo của các
đương sự.
Không đồng ý bản án sơ thẩm, nguyên đơn là NH1 kháng cáo một phần Bản
án dân sự sơ thẩm số 59/2022/DS-ST ngày 29/7/2022 của Tòa án nhân dân huyện TT17, thành phố Hà Nội đối với phần tuyên: “Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của VIB đối với khoản tiền lãi (lãi trong hạn 26.526.651đ, lãi quá hạn 67.441.773đ) của Hợp đồng mở và sử dụng tài khoản ngày 26/11/2019”.
Những vấn đề cụ thể trong đơn kháng cáo yêu cầu Toà án cấp phúc thẩm giải
quyết bao gồm: sửa bản án sơ thẩm 59/2022/DS-ST ngày 29/7/2022 của Tòa án nhân dân huyện TT17, thành phố Hà Nội, tuyên: Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của VIB, buộc ông NNT13 và bà NTTT14 phải trả cho VIB số tiền lãi tạm tính đến ngày 28/7/2022 của Đề nghị phát hành thẻ Tín dụng quốc tế kiêm Hợp đồng mở và sử dụng tài khoản.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Nguyên đơn giữ nguyên quan điểm như cấp sơ thẩm; giữ nguyên yêu cầu
kháng cáo. Nguyên đơn xuất trình thêm chứng cứ là Điều khoản điều kiện thẻ tín dụng, căn cứ gửi thông báo lãi nợ quá hạn theo thẻ tín dụng VIB qua số điện thoại, email của anh NNT13 đã đăng ký với VIB.
Các đương sự không thỏa thuận được cách giải quyết vụ án.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội:
Về tố tụng: Chủ tọa phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã thực hiện
đúng và đầy đủ các bước tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước khi nghị án. Các đương sự thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ được pháp luật quy định.
Về đường lối giải quyết vụ án: Sau khi phân tích nội dung vụ án, đại diện
Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự: giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 59/2022/DS-ST ngày 29/7/2022 của Tòa án nhân dân huyện TT17, thành phố Hà Nội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và căn cứ vào
kết quả tranh tụng tại phiên toà; sau khi nghe đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội phát biểu quan điểm giải quyết vụ kiện, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Đơn kháng cáo của nguyên đơn NH1 kháng cáo trong hạn luật
định, đã nộp dự phí kháng cáo về hình thức là hợp lệ.
Tại phiên tòa có mặt đại diện nguyên đơn. Bị đơn, những người có quyền lợi và
nghĩa vụ liên quan khác đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai vẫn vắng mặt không có
lý do nên Hội đồng xét xử theo quy định.
Về nội dung:
Hội đồng xét xử nhận định:
2.1. Đối với hợp đồng tín dụng số: 1278080.19 ngày 20/10/2010: nguyên đơn
NH1 và bị đơn anh NNT13 và chị NTTT14 đều xác nhận tự nguyện ký kết. Ngày
25/11/2019, VIB đã giải ngân cho anh NNT13 và chị NTTT14 theo Đơn đề nghị
giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 1278080(1).19 với số tiền 500.000.000 đồng
theo đúng yêu cầu của khách hàng và phù hợp với Hợp đồng tín dụng.
Trong quá trình thực hiện hợp đồng anh Tạo chị Tiên đã vi phạm thỏa thuận
theo hợp đồng. Tạm tính đến ngày 28/7/2022, anh Tạo, chị Tiên còn nợ VIB tổng số
tiền là: 589.210.665 đồng, bao gồm nợ gốc: 462.686.000 đồng; lãi trong hạn
36.509.418 đồng; lãi quá hạn: 90.015.247 đồng.
Hợp đồng được ký kết giữa các bên có hình thức và nội dung thỏa thuận phù
hợp với các Điều 385, 398 của Bộ Luật Dân sự năm 2015, các Điều 90, 91, 95 và
điểm a, khoản 3 Điều 98 của Luật các Tổ chức tín dụng. Vì vậy, hợp đồng nêu trên
có hiệu lực làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa các bên và các bên phải có trách
nhiệm thực hiện các thỏa thuận đã cam kết trong hợp đồng.
Vì vậy, cấp sơ thẩm buộc bị đơn anh Tạo chị Tiên phải thanh toán số tiền
589.210.665 đồng, bao gồm nợ gốc: 462.686.000 đồng; lãi trong hạn 36.509.418
đồng; lãi quá hạn: 90.015.247 đồng (tạm tính đến ngày 28/7/2022) theo hợp đồng
nói trên.
2.2. Về yêu cầu của VIB về việc xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ:
Để đảm bảo khoản vay Đối với hợp đồng tín dụng số: 1278080.19 ngày
20/10/2010: nguyên đơn NH1 và bị đơn anh NNT13 và chị NTTT14 đều xác nhận
tự nguyện ký kết Hợp đồng thế chấp số công chứng: 6372/HĐTC quyển số 06/2019
TP/CC-SCC/HĐGD ngày 21/11/2019 tại Văn phòng Công chứng Hà Đông, thành
phố Hà Nội, đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất ngày
21/11/2019 tại Văn phòng đăng ký đất đai Hà Nội – Chi nhánh huyện TT17 giữa
VIB (bên nhận thế chấp) với anh NNT13 (bên thế chấp) đã bảo đảm các điều kiện
có hiệu lực của giao dịch bảo đảm, phù hợp với các quy định tại Điều 298, 317 Bộ
luật dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 12; Điều 41 Nghị định số 163/2006/NĐ-CP
ngày 29/12/2006; Nghị định số 11/2012/NĐ-CP ngày 22/02/2012 của Chính phủ về
sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của
Chính phủ về giao dịch bảo đảm; Điều 167 Luật Đất đai năm 2013.
Khi tiến hành thế chấp cho khoản vay, chủ thể của Hợp đồng thế chấp là anh
NNT13 đã tự nguyện ký kết Hợp đồng thế chấp tài sản nêu trên tại Văn phòng Công Chứng Hà Đông, thành phố Hà Nội. Do đó, hợp đồng thế chấp tài sản trên phát sinh hiệu lực pháp luật. Trong trường hợp anh Tạo, chị Tiên thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ theo Hợp đồng tín dụng số: 1278080.19 ngày 25/11/2019 thì VIB có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mại tài sản bảo đảm để thu hồi nợ theo thỏa thuận của các bên quy định tại Hợp đồng thế chấp công chứng số 6372/HĐTC quyển số 06/2019 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 21/11/2019 tại Văn phòng Công chứng Hà Đông, thành phố Hà Nội.
2.3. Xét yêu cầu khởi kiện và yêu cầu kháng cáo của VIB đối với khoản nợ
của bị đơn theo hợp đồng mở và sử dụng tài khoản ngày 26/11/2019: Nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải thanh toán số tiền còn nợ theo Hợp đồng nêu trên tính đến ngày 28/7/2022 gồm Nợ gốc: 49.933.391đ, lãi trong hạn: 26.526.651đ, lãi quá hạn: 67.441.773đ.
Tại cấp sơ thẩm chỉ chấp nhận buộc bị đơn phải thanh toán số nợ gốc và
không chấp nhận yêu cầu tính lãi của VIB đối với khoản vay trên.
Hội đồng xét xử nhận thấy:
- Về tính hợp pháp của Hợp đồng thẻ tín dụng:
Phía bị đơn thừa nhận có ký đơn Đề nghị phát hành Thẻ tín dụng quốc tế kiêm
Hợp đồng mở và sử dụng tài khoản ngày 26/11/2019 và VIB có cấp cho bị đơn 01 thẻ tín dụng hạn mức 50.000.000 đồng. Anh Tạo có sử dụng và đã rút số tiền 49.933.391 đồng để chi tiêu. Căn cứ vào bảng kê tính lãi mà VIB cung cấp thì hiện tại giao dịch thanh toán, rút tiền của bị đơn còn nợ lại VIB là 49.933.391 đồng. Do vậy cấp sơ thẩm buộc bị đơn phải có trách nhiệm thanh toán trả VIB số tiền nêu trên là đúng quy đinh của pháp luật.
- Về yêu cầu tính lãi:
Qua xem xét Đề nghị phát hành thẻ tín dụng quốc tế ngày 26/11/2019, thấy
tại Đề nghị này thể hiện các nội dung mà ông Tạo đã đọc và ký cam kết chấp thuận, nội dung như sau: “…Khi ký tên vào Đơn này, tôi cam đoan các thông tin cung cấp trong và liên quan đến Đề nghị phát hành thẻ tín dụng quốc tế kiêm Hợp đồng mở và sử dụng tài khoản là trung thực, đầy đủ….
Tôi xác nhận, cam kết đã được VIB cung cấp đủ thông tin, tôi đã đọc, hiểu rõ,
chấp thuận toàn bộ nội dung của bản Điều khoản, điều kiện mở sử dụng tài khoản và dịch vụ tại VIB, Điều khoản, điều kiện sử dụng dịch vụ Ngân hàng điện tử tại VIB, Đơn đăng ký, Bản chấp thuận về điều kiện sử dụng tài khoản và dịch vụ tại VIB, biểu phí được công bố trên Website www.vib.com.vn hoặc bất kỳ chi
nhánh/phòng giao dịch nào của VIB. Tôi chấp nhận và đồng ý ràng buộc bởi các
điều khoản và điều kiện…của các tài liệu này ...
… Tôi hiểu rằng Đơn đăng ký này cùng với bản (1) Điều khoản, điều kiện mở,
sử dụng tài khoản và dịch vụ tại VIB, (2) Điều khoản, điều kiện mở, sử dụng sử dụng
Ngân hàng điện tử tại VIB tạo nên hợp đồng có giá trị pháp lý (“hợp đồng tài
khoản”) sẽ ràng buộc trách nhiệm và nghĩa vụ của tôi trong quá trình mở, sử dụng
tài khoản và dịch vụ tại VIB.
…Nếu được chấp thuận thì Đơn đăng ký này, Bản chấp thuận về điều kiện và
Điều khoản sử dụng thẻ tín dụng, Thông báo chấp thuận cấp thẻ tín dụng cùng với
Bản sao kê tạo thành 01 Hợp đồng (Hợp đồng tín dụng) ràng buộc về mặt pháp lý
và có hiệu lực giữa tôi và VIB, ngày của HĐTD là ngày của VIB chấp thuận cấp thẻ
tín dụng, số cấp thẻ tín dụng cũng chính là số thẻ được phát hành”.
-Thành phần tài liệu mà anh Tạo ký ngày 26/11/2019 gồm: Đề nghị phát hành
thẻ tín dụng quốc tế (trong đó có phần phê duyệt hạn mức, ký, đóng dấu của ngân
hàng) và Bản chấp thuận về điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng VIB.
Như vậy, bằng Đơn đăng ký và bản chấp thuận là anh Tạo đã đồng ý các bộ
phận cấu thành tạo nên Hợp đồng thẻ tín dụng. Hợp đồng này thỏa mãn quy định tại
điều 10, điều 13 Thông tư số 19/2016/TT-NHNN ngày 30/6/2016 của Ngân hàng
nhà nước Việt Nam quy định về hoạt động thẻ ngân hàng.
Khoản 4 Điều 10 (về thủ tục phát hành thẻ) Thông tư quy định: “thỏa thuận
v/v phát hành và sử dụng thẻ phải được lập thành hợp đồng phát hành và sử dụng
thẻ phù hợp quy định tại thông tư này và các quy định khác của pháp luật có liên
quan. Nội dung hợp đồng thực hiện theo quy định tại điều 13 Thông tư”.
Khoản 1 Điều 13 Thông tư quy định về nội dung hợp đồng và sử dụng thẻ.
Đối chiếu thấy Đơn đăng ký TTDQT ngày 26.11.2019 mà anh Tạo ký đã đáp ứng
các nội dung hợp đồng theo Điều 13; thời điểm lập hợp đồng (là ngày VIB chấp
thuận duyệt hạn mức 26/11/2019); tên tổ chức phát hành thẻ, tên chủ thẻ; các nội
dung về quyền và nghĩa vụ các bên (các phần 1,5,6,7,8,9,12,13,14,15,16,17,18 của
Điều khoản điều kiện của thẻ tín dụng VIB); quy định về phí, lãi (phần 10); việc
cung cấp thông tin cho chủ thẻ về số dư tài khoản, lịch sử giao dịch thẻ (phần 7, 17);
hạn mức, thay đổi hạn mức….và các quy định khác.
Nội dung hợp đồng này đã thỏa mãn Điều 275, 385, 398 BLDS 2015, Luật
ngân hàng, Luật các tổ chức tín dụng.
Như vậy, VIB và anh NNT13 ký kết Hợp đồng thẻ tín dụng trên cơ sở tự
nguyện, không bị ép buộc, phù hợp với quy định của Luật CTTCTD và Bộ luật dân
sự nên HĐ tín dụng hợp pháp và có hiệu lực thi hành.
- Đối với yêu cầu tính lãi thẻ tín dụng của VIB:
Như đã phân tích ở trên khi ký đơn đề nghị phát hành thẻ anh Tạo đã chấp
nhận mọi điều kiện mà VIB đã đưa ra.
Tại Điều 10.2 Bản chấp thuận quy định về Lãi suất. Theo đó “các giao dịch
rút tiền mặt sẽ bị tính lãi từ ngày các giao dịch được thực hiện cho đến khi tất cả các khoản rút tiền mặt này được trả đầy đủ theo quy định của VIB tại từng thời kỳ. Các giao dịch thanh toán hàng hóa, dịch vụ nếu VIB nhận được toàn bộ khoản thanh toán cho dư nợ cuối kỳ vào hoặc trước ngày đến hạn thanh toán chủ nợ sẽ không phải trả lãi cho số dư nợ cuối kỳ được thanh toán…”.
Do anh Tạo đăng ký loại thẻ Tín dụng VIB Financial Free nên anh Tạo sẽ
chịu quy định về lãi theo loại thẻ này. Tại cấp phúc thẩm, ngân hàng đã cung cấp biểu lãi qua các thời kỳ của loại thẻ này. Theo biểu phí thẻ tín dụng VIB (áp dụng từ 20/11/2020 đến nay, có thay đổi qua các thời kỳ) thì với thẻ VIB Financial Free, lãi suất là 36%. Việc thay đổi phí, lãi suất được đăng trên website của ngân hàng, là phù hợp Bản chấp thuận.
Căn cứ khoản 2 điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 việc thỏa thuận
về lãi suất cho vay tại Hợp đồng tín dụng trên là phù hợp quy định của pháp luật và được bên vay chấp nhận, ký kết hợp đồng. Nên VIB yêu cầu anh Tạo thanh toán tính đến ngày 23/8/2022 là nợ gốc: 50.000.000đ, (lãi trong hạn: 26.526.651đ, lãi quá hạn: 67.441.773đ) của Hợp đồng mở và sử dụng tài khoản ngày 26/11/2019 là có căn cứ. Cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn buộc phía bị đơn phải thanh toán trả các khoản tiền lãi nêu trên là chưa đúng quy định của pháp luật. Cần phải chấp nhận yêu cầu kháng cáo của VIB buộc anh NNT13 phải trả tiền lãi của thẻ nêu trên theo quy định.
Về việc cấp sơ thẩm buộc chị NTTT14 phải chịu trách nhiệm cùng anh
NNT13 phải thanh toán số tiền tính đến ngày 23/8/2022 là nợ gốc: 50.000.000 đ, (lãi trong hạn: 26.526.651đ, lãi quá hạn: 67.441.773đ) của Hợp đồng mở và sử dụng tài khoản ngày 26/11/2019 là không đúng. Theo hợp đồng anh Tạo và VIB ký hợp đồng này là hợp đồng vay cá nhân giữa anh Tạo sử dụng số tiền này vì vậy anh Tạo là người chịu trách nhiệm thanh toán khoản tiền này cho VIB.
Từ những phân tích trên chấp nhận toàn bộ yêu cầu kháng VIB sửa bản án dân
sự sơ thẩm số 59/2022/DS-ST ngày 29/7/2022 của Tòa án nhân dân huyện TT17, thành phố Hà Nội theo hướng phân tích trên.
Về án phí:
Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Anh NNT13 và chị NTTT14 phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
- VIB không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, được trả lại số tiền tạm ứng đã
nộp.
Về án phí dân sự phúc thẩm: VIB không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét
xử nên chấp nhận.
Bởi các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
- Khoản 3 Điều 26; khoản 1 Điều 38; Điều 147; Điều 148; khoản 2 Điều 308
Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- Điều 463, Điều 466, Điều 468 của Bộ luật dân sự 2015;
- Điều 91, Điều 95 của Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010;
- Nghị định 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ về giao dịch bảo
đảm; Nghị định 11/2012/NĐ-CP ngày 22/02/2012 của Chính phủ về sửa đổi, bổ
sung một số điều của Nghị định 163 ngày 29/12/2006;
- Thông tư liên tịch số 01-TT/LT ngày 19/6/1997 của Tòa án nhân dân tối cao-
Viện kiểm sát nhân dân tối cao-Bộ Tư pháp-Bộ Tài chính; Luật Thi hành án dân sự;
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường
vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí
và lệ phí Tòa án và danh mục án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo.
Xử:
1. Chấp nhận kháng cáo của NH1.
2. Sửa bản án dân sự sơ thẩm số 59/2022/DS-ST ngày 29/7/2022 của Tòa án
nhân dân huyện TT17, thành phố Hà Nội, cụ thể như sau:
2.1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của NH1 (VIB).
- Buộc anh NNT13 và chị NTTT14 phải thanh toán cho VIB tổng số tiền còn
nợ theo Hợp đồng tín dụng số 1278080.19 và Khế ước nhận nợ số 1278080(1).19
cùng ngày 25/11/2019, tạm tính đến ngày 28/7/2022 là: 589.210.665 đ (Năm trăm
tám mươi chín triệu, hai trăm mười nghìn, sáu trăm sáu mươi lăm đồng) bao gồm
nợ gốc: 462.686.000đ; lãi trong hạn 36.509.418đ; lãi quá hạn: 90.015.247đ. Kể từ
ngày 29/7/2022 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ, anh Tạo, chị Tiên còn phải
chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thanh toán theo mức lãi suất các bên thỏa
thuận trong Hợp đồng tín dụng, khế ước nhận nợ đã ký với VIB.
Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều
chỉnh lãi suất thì lãi suất mà anh Tạo, chị Tiên phải chịu theo quyết định của Tòa án
cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của VIB.
2.2. Sau khi anh Tạo, chị Tiên thực hiện xong nghĩa vụ trả nợ thì VIB phải
giải chấp tài sản thế chấp, trả lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS 812746 do Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố Hà Nội cấp ngày 13/8/2019 cho anh NNT13.
2.3. Trường hợp anh NNT13, chị NTTT14 thực hiện không đúng nghĩa vụ trả
nợ thì VIB có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mại tài sản thế chấp là Quyền sử dụng đất và toàn bộ tài sản gắn liền với đất cùng các quyền và lợi ích phát sinh từ thửa đất số: 1028, tờ bản đồ số: 3, địa chỉ: xã DN16, huyện TT17, thành phố Hà Nội theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: CS 812746, số vào sổ cấp GCN: CS-TTH15213 do Sở Tài nguyên và Môi trường, thành phố Hà Nội cấp ngày 13/08/2019, mang tên anh NNT13. Tài sản này được thế chấp tại VIB theo Hợp đồng thế chấp số công chứng 6372 HĐTC, Quyển số: 06/2019 TP/CC-SCC/HĐGD do Văn phòng công chứng Hà Đông, thành phố Hà Nội công chứng ngày 21/11/2019, để thu hồi nợ.
Trường hợp phải xử lý tài sản thế chấp thì ngoài các đương sự có tên trên, nếu
các cá nhân, tổ chức nào đang thực tế sử dụng, sinh sống tại thửa đất nêu trên cũng phải thực hiện nghĩa vụ dời đi chỗ khác để thi hành án.
2.4. Sau khi phát mại tài sản bảo đảm mà không đủ trả nợ cho khoản vay thì
anh Nguyễn Văn Tạo và chị NTTT14 vẫn phải tiếp tục chịu trách nhiệm trả nợ cho VIB đến khi hoàn thành đầy đủ nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng tín dụng và khế ước nhận nợ đã ký với VIB.
2.5. Buộc anh NNT13 phải thanh toán cho VIB số tiền còn nợ theo Hợp đồng
mở và sử dụng tài khoản ngày 26/11/2019 là: 49.933.391đ (Bốn mươi chín triệu, chín trăm ba mươi ba nghìn, ba trăm chín mươi mốt đồng) lãi trong hạn: 26.526.651đ, lãi quá hạn: 67.441.773đ) của Hợp đồng mở và sử dụng tài khoản ngày 26/11/2019.
Sau khi bản án có hiệu lực pháp luật và kể từ ngày người được thi hành án có
đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành xong khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn chậm phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án
dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
3. Về án phí:
- Án phí dân sự sơ thẩm:
+ Anh NNT13 và chị NTTT14 phải chịu 27.568.462đ (hai mươi bảy triệu,
năm trăm sáu mươi tám nghìn, bốn trăm sáu mươi hai đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
+ Anh NNT13 phải chịu 7.196.000đ (Bảy triệu, một trăm chín mươi sáu nghìn
đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
+ NH1 được nhận lại số tiền 13.270.000đ (Mười ba triệu, hai trăm bảy mươi
nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0025229 ngày 26/11/2021 tại
Chi cục Thi hành án dân sự huyện TT17, thành phố Hà Nội.
- Án phí dân sự phúc thẩm:
NH1 được nhận lại 300.000đ đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí dân
sự phúc thẩm số 0025475 ngày 17/8/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện
TT17, Hà Nội.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận: - Các đương sự; - TAND huyện TT17; - VKSND TP Hà Nội; - Chi cục THADS huyện TT17; - Lưu HS, VP. Chủ thẻ và VIB theo thỏa thuận tại Đơn đăng ký PHTTDQT”. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Lan Anh Phần 18.14 (thuộc Điều 18 –các điều khoản chung) của Bản chấp thuận quy định: “Với bản chấp thuận cùng với Đơn đăng ký PHTTDQT, thông báo chấp thuận cấp Thẻ tín dụng, giấy yêu cầu cung cấp dịch vụ thẻ tín dụng, văn bản xác nhận của Chủ thẻ tạo thành Hợp đồng tín dụng ràng buộc về mặt pháp lý và có hiệu lực giữa |