- Tranh chấp gì? án hình sự — "Văn Anh H - tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (điều 255 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Văn Anh H phạm tội " Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy".
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 255 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 – ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 49/2026/HSST Ngày 25/3/2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 – ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đỗ Thế Tài
Các Hội thẩm nhân dân:
+ Ông Mai Văn Ba.
+ Ông Huỳnh Bá Công.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quỳnh Trang - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 2 - Đà Nẵng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thanh Trà - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 3 năm 2026, tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 2 - Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 36/2026/TLST-HS ngày 10 tháng 02 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 36/2026/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 3 năm 2026 đối với bị cáo:
Họ và tên: VĂN ANH HUY, sinh ngày: 01/01/1984, tại thành phố Đà Nẵng; CCCD số: 048084003505; cấp ngày 14/02/2025; Nơi ĐKHKTT: đường P, phường H, thành phố Đà Nẵng; Chỗ ở: P, chung cư S, phường H, thành phố Đà Nẵng; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Quản lý nhà hàng; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam. Con ông: Văn C (SN: 1952, còn sống), con bà: Nguyễn Thị D (SN: 1953, còn sống); Gia đình có 02 chị em, bị cáo là con thứ hai; Vợ : Nguyễn Trần Huyền T (sinh năm 1989, đã ly hôn). Bị cáo có 01 con, sinh năm 2015; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt ngày 25/11/2025, hiện đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam Ngũ Hành S - Trại tạm giam số 1, công an TP Đà Nẵng. Có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
1. Y N, sinh năm: 2002; trú tại: tổ A, xã B, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt
2. Ông Đào Văn T, sinh năm: 1975; trú tại: số G đường V, phường A, TP Đà Nẵng. Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
- 1 -
Vào lúc 00 giờ 30 phút ngày 25 tháng 11 năm 2025, Phòng Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội Công an thành phố T5 phối hợp với Công an phường A kiểm tra phòng 501 khách sạn L (thuộc số G đường V, phường A, thành phố Đà Nẵng) phát hiện Văn Anh H và Y N (sinh năm 2002; trú tại: tổ A, xã B, thành phố Đà Nẵng) đang sử dụng trái phép chất ma túy. Qua kiểm tra phát hiện trên chiếc bàn tròn cạnh giường ngủ có 01 thẻ căn cước mang tên Văn Anh H, 01 chiếc đĩa sứ màu xám và trên chiếc đĩa có 02 gói ni lông kích thước khoảng (03x04) cm bên trong có chứa tinh thể màu trắng cùng 01 ống hút bằng nhựa màu đen. H khai nhận tinh thể màu trắng trong các gói ni lông bị phát hiện là ma túy Ketamine của H mua để tổ chức cho Y N sử dụng nhưng chưa kịp sử dụng hết thì bị lực lượng Công an kiểm tra phát hiện, lập biên bản phạm tội quả tang và tạm giữ tang vật liên quan.
Tang vật tạm giữ:
- 01 gói ni lông kích thước (03x04) cm bên trong có chứa tinh thể màu trắng, ký hiệu bì niêm phong H1.
- 01 ni lông kích thước (03x04) cm bên trong có chứa tinh thể màu trắng, ký hiệu bì niêm phong H2.
- 01 đĩa sứ màu xám, đường kính khoảng 23cm; 01 ống hút bằng nhựa màu đen; 01 tờ tiền 1.000.000 đồng.
- 01 thẻ căn cước mang tên Văn Anh H; 01 loa nghe nhạc màu đen, 01 bật lửa màu đỏ.
- 01 điện thoại Iphone 8 Plus, màu đỏ, số Imei: 354834091194104 gắn sim số 0383479362.
- 01 túi niêm phong bên trong có chứa mẫu nước tiểu của Văn Anh H và Y N.
Qua điều tra làm rõ: Khoảng 17 giờ ngày 24/11/2025, H đang ở tại Phòng 104, chung cư S, phường H, thành phố Đà Nẵng thì nảy sinh ý định sử dụng ma túy. Sau đó, H sử dụng điện thoại vào ứng dụng T2 và nhắn tin với 01 tài khoản (không nhớ tài khoản do đã bị xoá) hỏi mua 2.000.000 đồng ma túy Ketamine. Người này đồng ý và hẹn sẽ giao ma túy đến nhà cho H. Khoảng 15 phút sau, người bán ma túy gọi cho H báo đã đến. H xuống sân chung cư đưa tiền thì người thanh niên nói cho H biết ma túy được bọc trong khẩu trang màu trắng để cạnh thùng rác gần đó. Khi người thanh niên bỏ đi, H đi đến lấy ma túy cất giấu vào trong túi quần rồi đi đến quán X (tại số H đường V, phường A, thành phố Đà Nẵng) làm việc. Đến khoảng 20h00 cùng ngày, H lấy 01 đĩa sứ và 01 ống hút đi bộ đến thuê phòng 501, khách sạn L (tại số G đường V) để sử dụng ma túy. Sau đó, H gọi điện rủ Y N đến cùng sử dụng ma tuý. Trong khi chờ Y N đến, H mở nhạc, lấy 02 gói ma túy để trên chiếc đĩa rồi lấy 01 gói ma tuý đổ vào tờ tiền mệnh giá 1.000 đồng. Sau đó, H dùng bật lửa cà nát ma túy, dùng bật lửa hơ nóng chiếc đĩa và dùng thẻ căn cước của H xào và kẻ ma tuý này ra thành nhiều đường
- 2 - nhỏ. Khoảng 21 giờ cùng ngày, Y N đến thì H và Y N cùng sử dụng ma tuý. Lúc 00 giờ 30 phút ngày 25 tháng 11 năm 2025, Phòng Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội Công an thành phố phối hợp với Công an phường A kiểm tra, phát hiện tạm giữ tang vật liên quan.
Kết quả xét nghiệm: H và Y N dương tính với ma túy. Theo Kết luận giám định số 1386 ngày 01/12/2025 của Phòng K Công an thành phố T5, kết quả giám định:
-Chất bột màu trắng trong bì niêm phong ký hiệu H1 gửi giám định là ma túy, loại Ketamine, khối lượng 0,125 gam.
-Tinh thể rắn màu trắng trong bì niêm phong ký hiệu H2 gửi giám định là ma túy Ketamine, khối lượng 0,529 gam.
Tổng số ma túy Ketamine là 0,654 gam.
- Tìm thấy chất ma túy MDMA, Ketamine trong nước tiểu của Văn Anh H, Y N.
Quá trình điều tra, Văn Anh H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên.
* Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 2 – Đà Nẵng giữ nguyên quan điểm truy tố theo Bản cáo trạng số 04/CT-VKS-KV2 ngày 10/02/2026 và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố Văn Anh H phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” đồng thời đề nghị:
Căn cứ khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt Văn Anh H từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù.
* Về xử lý vật chứng:
- Đề nghị tịch thu tiêu huỷ:
+ 01 bì niêm phong theo Quyết định trưng cầu giám định số 13811/QĐ-CSMT ngày 25/11/2025, có đóng dấu giáp lai của Phòng K Công an thành phố T5 bên trong có một gói ni lông bên trong có chứa ma túy còn lại sau khi giám định của mẫu H1 cùng bao gói mẫu;
+ 01 bì niêm phong theo Quyết định trưng cầu giám định số 13811/QĐ-CSMT ngày 25/11/2025, có đóng dấu giáp lai của Phòng K Công an thành phố T5 bên trong có một gói ni lông bên trong có chứa ma túy còn lại sau khi giám định của mẫu H2 cùng bao gói mẫu.
+ 01 túi niêm phong bằng giấy có mã số PS2 2123600 có đóng dấu tròn màu đỏ của Phòng K Công an thành phố T5 bên trong có chứa toàn bộ vỏ bao gói mẫu nước tiểu gửi giám định được niêm phong hoàn trả.
+ 01 (một) bì giấy dán kín được niêm phong có đóng hình dấu tròn màu đỏ của Công an phường A, chữ ký Văn Anh H, Phạm Đức T3 và Đào Văn T1, Bên trong có một que thử tets ma túy của Văn Anh H, có ký hiệu H5.
- 3 -
+ 01 (một) bì giấy dán kín được niêm phong có đóng hình dấu tròn màu đỏ của Công an phường A, chữ ký Y, Nguyễn Thị Ánh T4 và Ngô Thị Kim N1. Bên trong có một que thử tets ma túy của Y N, có ký hiệu N2.
+ 01 đĩa sứ màu xám, đường kính khoảng 23 cm; 01 ống hút nhựa màu đen; 01 bật lửa màu đỏ; sim số: 0383479362
- Đối với 01 điện thoại Iphone 8 Plus, màu đỏ, số Imei: 354834091194104; 01 loa nghe nhạc màu đen; 01 tờ tiền 1.000 đồng của Văn Anh H đề nghị tịch thu, sung công quỹ nhà nước.
- Đối với 01 thẻ căn cước mang tên Văn Anh H đề nghị trả lại cho bị cáo H.
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội và không có ý kiến tranh luận gì với phần luận tội của Kiểm sát viên.
* Lời nói sau cùng: Bị cáo đã nhận thức rõ hành vi phạm tội của mình, có thái độ ăn năn hối cải và mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa sơ thẩm hôm nay, Văn Anh H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, xét lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu điều tra thu thập đầy đủ có tại hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử thấy có đủ cơ sở để xác định: Lúc 00 giờ 30 phút ngày 25/11/2025, tại phòng 501, khách sạn L, Văn Anh H có hành vi rủ rê, cung cấp ma túy, dụng cụ cho Y N sử dụng thì bị phát hiện, bắt quả tang. Hành vi trên đây của bị cáo đã phạm vào tội "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy " quy định tại khoản 1 Điều 255 Bộ luật hình sự. Do đó cáo trạng số 04/CT-VKS-KV2 ngày 10/02/2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Đà Nẵng đã truy tố đối với bị cáo là có cơ sở, đúng pháp luật.
Xét tính chất, mức độ của hành vi phạm tội thì thấy: Ma tuý hiện đang là tệ nạn của xã hội, gây ảnh hưởng trực tiếp đến sức khoẻ, lao động, học tập của con người và là nguyên nhân của các tội phạm khác. Nhà nước ta đã đề ra nhiều chủ trương, biện pháp nhằm tuyên truyền, quán triệt sâu rộng trong nhân dân thông qua các phương tiện thông tin đại chúng. Bị cáo Văn Anh H nhận thức được điều đó, song để phục vụ cho nhu cầu bản thân đã bất chấp sự trừng trị của pháp luật, mua ma tuý, chuẩn bị công cụ và rủ thêm người sử dụng trái phép chất ma túy. Hành vi phạm tội của bị cáo gây nguy hại lớn cho xã hội, là hành vi cố ý
- 4 - và thuộc trường hợp nghiêm trọng. Do đó cần phải quyết định một mức án thật nghiêm khắc, mới có tác dụng răn đe và phòng ngừa chung.
Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự. Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, có thời gian phục vụ trong quân ngũ hoàn thành tốt nghĩa vụ quân sự nên cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS cho bị cáo khi lượng hình.
Về biện pháp chấp hành hình phạt: Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng hình phạt tù và cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục đối với bị cáo, răn đe và phòng ngừa chung.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.
Về xử lý vật chứng:
- Tịch thu tiêu huỷ:
+ 01 bì niêm phong theo Quyết định trưng cầu giám định số 13811/QĐ-CSMT ngày 25/11/2025, có đóng dấu giáp lai của Phòng K Công an thành phố T5 bên trong có một gói ni lông bên trong có chứa ma túy còn lại sau khi giám định của mẫu H1 cùng bao gói mẫu;
+ 01 bì niêm phong theo Quyết định trưng cầu giám định số 13811/QĐ-CSMT ngày 25/11/2025, có đóng dấu giáp lai của Phòng K Công an thành phố T5 bên trong có một gói ni lông bên trong có chứa ma túy còn lại sau khi giám định của mẫu H2 cùng bao gói mẫu.
+ 01 túi niêm phong bằng giấy có mã số PS2 2123600 có đóng dấu tròn màu đỏ của Phòng K Công an thành phố T5 bên trong có chứa toàn bộ vỏ bao gói mẫu nước tiểu gửi giám định được niêm phong hoàn trả.
+ 01 (một) bì giấy dán kín được niêm phong có đóng hình dấu tròn màu đỏ của Công an phường A, chữ ký Văn Anh H, Phạm Đức T3 và Đào Văn T1, Bên trong có một que thử tets ma túy của Văn Anh H, có ký hiệu H5.
+ 01 (một) bì giấy dán kín được niêm phong có đóng hình dấu tròn màu đỏ của Công an phường A, chữ ký Y, Nguyễn Thị Ánh T4 và Ngô Thị Kim N1. Bên trong có một que thử tets ma túy của Y N, có ký hiệu N2.
+ 01 đĩa sứ màu xám, đường kính khoảng 23 cm; 01 ống hút nhựa màu đen; 01 bật lửa màu đỏ; sim số: 0383479362
- Đối với 01 điện thoại Iphone 8 Plus, màu đỏ, số Imei: 354834091194104; 01 loa nghe nhạc màu đen; 01 tờ tiền 1.000 đồng của Văn Anh H dùng vào việc phạm tội, còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu sung công quỹ nhà nước.
- Trả lại cho bị cáo 01 thẻ căn cước mang tên Văn Anh H.
- 5 -
Về các vấn đề khác:
- Đối với Y N: Không có hành vi giúp sức cho H sử dụng ma túy. Hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Y N, Cơ quan CSĐT Công an thành phố T5 chuyển hồ sơ đến Công an phường A, thành phố Đà Nẵng xử phạt vi phạm hành chính là có cơ sở.
- Đối với ông Đào Văn T1: Không biết việc H tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy trong khách sạn thuộc sở hữu của ông T1 nên Cơ quan CSĐT Công an thành phố T5 không đề cập xử lý là có căn cứ.
- Đối với đối tượng bán ma túy cho H: Hiện chưa xác định được nhân thân, lai lịch nên Cơ quan CSĐT Công an thành phố T5 tiếp tục xác minh xử lý sau là có cơ sở.
Xét các nội dung đề nghị của Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 2 – Đà Nẵng về tội danh, điều khoản luật và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cần áp dụng đối với bị cáo tại phiên tòa cơ bản phù hợp các nhận định của Hội đồng xét xử.
Án phí HSST: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Văn Anh H phạm tội " Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy".
1. Căn cứ: Khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Văn Anh H 03 (ba) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam, ngày 25/11/2025.
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 BLHS và Điều 106 BLTTHS tuyên:
- Tịch thu tiêu huỷ:
+ 01 bì niêm phong theo Quyết định trưng cầu giám định số 13811/QĐ-CSMT ngày 25/11/2025, có đóng dấu giáp lai của Phòng K Công an thành phố T5 bên trong có một gói ni lông bên trong có chứa ma túy còn lại sau khi giám định của mẫu H1 cùng bao gói mẫu;
+ 01 bì niêm phong theo Quyết định trưng cầu giám định số 13811/QĐ-CSMT ngày 25/11/2025, có đóng dấu giáp lai của Phòng K Công an thành phố T5 bên trong có một gói ni lông bên trong có chứa ma túy còn lại sau khi giám định của mẫu H2 cùng bao gói mẫu.
+ 01 túi niêm phong bằng giấy có mã số PS2 2123600 có đóng dấu tròn màu đỏ của Phòng K Công an thành phố T5 bên trong có chứa toàn bộ vỏ bao gói mẫu nước tiểu gửi giám định được niêm phong hoàn trả.
- 6 -
+ 01 (một) bì giấy dán kín được niêm phong có đóng hình dấu tròn màu đỏ của Công an phường A, chữ ký Văn Anh H, Phạm Đức T3 và Đào Văn T1, Bên trong có một que thử tets ma túy của Văn Anh H, có ký hiệu H5.
+ 01 (một) bì giấy dán kín được niêm phong có đóng hình dấu tròn màu đỏ của Công an phường A, chữ ký Y, Nguyễn Thị Ánh T4 và Ngô Thị Kim N1. Bên trong có một que thử tets ma túy của Y N, có ký hiệu N2.
+ 01 đĩa sứ màu xám, đường kính khoảng 23 cm; 01 ống hút nhựa màu đen; 01 bật lửa màu đỏ; sim số: 0383479362
- Tịch thu sung công quỹ nhà nước: 01 điện thoại Iphone 8 Plus, màu đỏ, số Imei: 354834091194104; 01 loa nghe nhạc màu đen; 01 tờ tiền 1.000 đồng của Văn Anh H.
- Trả lại cho bị cáo: 01 thẻ căn cước mang tên Văn Anh H.
(Vật chứng, tài sản trên hiện Phòng Thi hành án dân sự khu vực 2 – Đà Nẵng đang tạm giữ theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 19/3/2026).
3. Án phí HSST: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).
Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo, được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - VKSND khu vực 2 – Đà Nẵng; - VKSND TP. Đà Nẵng; - Công an TP Đà Nẵng; - Phòng THADS khu vực 2- Đà Nẵng; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Đỗ Thế Tài - 7 - |