vanban.org

Bản án 49/2026/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1- Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Văn H, Vũ Công T phạm tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”

2- Vật chứng: áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự. Tịch thu tiêu huỷ: 01 chiếc đĩa sứ màu trắng, 01 bật lửa màu đỏ. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn H, Vũ Công T phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy - tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (điều 255 Luật sửa đổi, bổ su…"
  • Tòa quyết gì? 1- Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Văn H, Vũ Công T phạm tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 255 Bộ luật Hình sự; Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 2 - QUẢNG NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 49/2026/HS-ST
Ngày: 26 - 3 - 2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - QUẢNG NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Ngô Văn Thắng.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Quyến và bà Vũ Thị Xuyến.

- Thư ký phiên toà: Bà Vũ Thị Huyền Trang - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 2 - Quảng Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Quảng Ninh tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Thanh Hải - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 3 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 2 - Quảng Ninh xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 14/2026/TLST-HS ngày 22/01/2026. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 50/2026/QĐXXST-HS ngày 11/3/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Quảng Ninh, đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Nguyễn Văn H; tên gọi khác: không có; sinh ngày: 20/11/2002, tại phường L, tỉnh Quảng Ninh; nơi cư trú: khu phố T, phường L, tỉnh Quảng Ninh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: lao động tự do; con ông Nguyễn Văn H1 và bà Hoàng Thị H2; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: chưa có.

2. Họ và tên: Vũ Công T; tên gọi khác: không có; sinh ngày: 18/02/1999, tại phường P, tỉnh Quảng Ninh; nơi thường trú: khu phố Y, phường P, tỉnh Quảng Ninh; chỗ ở: khu phố Y, phường P, tỉnh Quảng Ninh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; trình độ học vấn: 10/12; nghề nghiệp: lao động tự do; con ông Vũ Công M (đã chết) và bà Lê Thị B; có vợ: Ngô Thị Q; con: có 02 con, lớn sinh năm 2002, nhỏ sinh năm 2025; tiền án, tiền sự: chưa có.Nhân thân: năm 2016, Tòa án nhân dân thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh xử phạt 04 năm 06 tháng tù, về tội: “Cướp tài sản”. Ngày 26/4/2019 T chấp hành xong bản án.

Các bị cáo Nguyễn Văn H, Vũ Công T bị giữ, bắt người trong trường hợp khẩn cấp, tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/10/2025, hiện tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Quảng Ninh; có mặt tại phiên toà.

* Người làm chứng: chị Lò Thị A, chị Quàng Thị Thùy C và anh Lê Văn V; đều vắng mặt.

* Người chứng kiến: ông Phạm Văn T1 và anh Hoàng Văn X; đều vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 03 giờ ngày 06/10/2025, sau khi uống rượu cùng nhóm bạn, Vũ Công T điện thoại cho bạn Nguyễn Văn H đặt 01 phòng hát ở quán K thuộc khu phố Đ, phường L, tỉnh Quảng Ninh do chính Hiên quản lý. Khoảng 10 phút sau T cùng bạn gái chị Lò Thị A, sinh năm 2006, trú tại xã M, tỉnh Lai Châu đến quán hát. Hiên bố trí cho T và A vào phòng Vip 102 và điều chị Quàng Thị Thùy C, sinh năm 2008, trú tại bản Che Phai, xã C, tỉnh Điện Biên là nhân viên của quán vào rót bia, bấm bài. H ngồi hát cùng T được một lúc thì đi ra ngoài, một lát sau H quay lại hát với nhóm T. Khoảng 04 giờ cùng ngày, H ra khóa cổng và vào bếp lấy 01 chiếc đĩa bằng sứ màu trắng mang vào phòng vệ sinh ở gần phòng hát Vip 102 lấy 01 túi ma túy Ketamine đổ lên mặt đĩa, dùng thẻ căn cước công dân của H đánh “Ke” mài, miết, kẻ chia ma túy thành nhiều đường nhỏ, dùng 01 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng cuốn lại làm ống hút và lấy bật lửa hơ nóng ma túy để dùng ống hút hít 01 đường ma túy Ketamine vào cơ thể thông qua đường mũi. Sử dụng xong Hiên để ống hút lên mặt đĩa, thẻ căn cước công dân để ở bên cạnh, rồi để đĩa chứa ma túy tại bệ vệ sinh và đi vào phòng hát. Lúc này H móc túi lấy ra 02 viên ma túy thuốc lắc, đưa cho T 01 viên còn Hiên 01 viên. Cả hai cho ma túy vào miệng, sử dụng bằng cách nuốt, uống cùng với nước lọc và nước ngọt. Một lúc sau Hiên mở nhạc Remix công suất lớn để cùng T, A, C vừa uống bia, nghe nhạc vừa nhún nhảy. T đứng dậy định đi vệ sinh thì H liền hất hàm về hướng phía nhà vệ sinh (do trước đó đã được H cho ma túy sử dụng, nên T hiểu ý Hiên rằng trong nhà vệ sinh có ma túy đi vào mà sử dụng). T vào nhà vệ sinh quan sát thấy trên bệ vệ sinh có 01 đĩa sứ, trên mặt đĩa có ma túy Ketamine đã được kẻ sẵn thành nhiều đường nhỏ và 01 ống hút, nên T cầm đĩa ma túy lên lấy ống hút hít trực tiếp thông qua đường mũi 01 đường ma túy rồi đi vào phòng hát đến ngồi cạnh A nói với A “trong phòng vệ sinh có ma túy Ketamine, muốn chơi thì vào”. Nghe T nói vậy, A liền đứng lên đi vào phòng vệ sinh, quan sát thấy trên bệ vệ sinh có 01 đĩa sứ chứa ma túy Ketamine đã được kẻ sẵn, A sử dụng 01 đường ma túy hít qua đường mũi vào cơ thể. Khoảng 10 phút sau, H và T thay nhau vào sử dụng mỗi người 01 lượt ma túy nữa rồi H cầm đĩa ma túy Ketamine từ phòng vệ sinh vào phòng hát mục đích để ai có nhu cầu thì sử dụng luôn, lúc này A nhìn thấy và đã tự bật lửa châm hút 01 đường ma túy nữa. Do dùng ma túy và uống nhiều bia rượu cả nhóm ngấm mệt, nằm hết ra ghế nghe nhạc và ngủ.

Đến khoảng 15 giờ 30 phút cùng ngày Công an phường L kiểm tra quán K, phát hiện tại phòng hát Vip 102 có Vũ Công T, Nguyễn Văn H, Lò Thị A và Quàng Thị Thùy C có biểu hiện sử dụng trái phép chất ma túy. Vật chứng thu giữ: thu trên mặt bàn 01 vỏ túi nilon màu trắng, bên trong có bám dính chất tinh thể màu trắng (ký hiệu M1), thu dưới gầm bàn 01 chiếc đĩa sứ màu trắng, trên mặt đĩa có chất tinh thể màu trắng (ký hiệu M2); 01 thẻ căn cước công dân mang tên Nguyễn Văn H (ký hiệu M3) và 01 ống hút được quấn từ tờ tiền 10.000 đồng (ký hiệu M4) đều có bám dính chất tinh thể màu trắng và 01 bật lửa màu đỏ. Ngoài ra còn thu giữ 04 chiếc điện thoại di động và mẫu nước tiểu của T, H, A và C. Ngay sau khi Công an kiểm tra Vũ Công T, Nguyễn Văn H và Lò Thị A khai nhận đã sử dụng trái phép chất ma túy tại phòng hát. Còn Quàng Thị Thùy C khai không sử dụng ma túy cùng bọn H, nhưng trước đó ngày 04/10/2025 có sử dụng ma túy. Ngày 07/10/2025, Cơ quan điều tra giữ, bắt người trong trường hợp khẩn cấp đối với Nguyễn Văn H, Vũ Công T.

Tại Kết luận giám định số: 1546 ngày 12/10/2025 của Phòng K1, Công an tỉnh Quảng Ninh xác định: mẫu vật ghi thu của Nguyễn Văn H gửi giám định có trong 01 túi nilon (mẫu M1) là ma túy loại Ketamine có khối lượng 0,032gam; mẫu vật thu trên đĩa sứ, tờ tiền, trên thẻ căn cước (mẫu M2, M3, M4), là ma túy loại Ketamine dạng vết không xác định được khối lượng. Tìm thấy chất N, D (là các sản phẩm chuyển hóa của Ketamine) trong mẫu nước tiểu ghi thu của Lò Thị A. Tìm thấy chất N, D (là các sản phẩm chuyển hóa của Ketamine) và chất ma túy Methamphetamine, MDMA trong mẫu nước tiểu ghi thu của Nguyễn Văn H, Vũ công T, Quàng Thị Thùy C.

Quá trình điều tra, các bị cáo Nguyễn Văn H, Vũ Công T đều khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung nêu trên.

Ngoài ra H còn khai: nguồn gốc ma túy là trong lúc T đang cùng bạn gái hát, H đi ra ngoài gọi điện mua của đối tượng tên B1 (không rõ lai lịch, địa chỉ) 02 viên thuốc lắc và 01 túi ma túy Ketamine với giá 1.500.000 đồng tại đường ngõ thuộc khu phố Đ, phường L; để tiền tại vị trí B1 chỉ dẫn và lấy ma túy, không gặp mặt trực tiếp.

Bản cáo trạng số: 56/CT-VKSKV2-QN ngày 20/01/2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Quảng Ninh truy tố bị cáo Nguyễn Văn H về tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự; bị cáo Vũ Công T, về tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn H, Vũ Công T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng truy tố, các bị cáo xác định bị khởi tố, truy tố và xét xử về tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, là đúng người, đúng tội, không oan sai.

Người làm chứng Lò Thị A vắng mặt tại phiên toà có lời khai tại cơ quan điều tra thể hiện: Khoảng 03 giờ ngày 06/10/2025, chị cùng T đến quán hát của Nguyễn Văn H. Tại quan hát T nói: “trong phòng vệ sinh có ma túy Ketamine, muốn chơi thì vào”. Nghe T nói vậy, chị liền đứng lên đi vào phòng vệ sinh, quan sát thấy trên bệ vệ sinh có 01 đĩa sứ chứa ma túy Ketamine đã được kẻ sẵn, chị sử dụng 01 đường ma túy hít qua đường mũi vào cơ thể. Sau đó, H cầm đĩa ma túy Ketamine từ phòng vệ sinh vào phòng hát mục đích để ai có nhu cầu thì sử dụng luôn, lúc này chị nhìn thấy và đã tự bật lửa châm hút 01 đường ma túy nữa. Do dùng ma túy và uống nhiều bia rượu cả nhóm ngấm mệt, nằm hết ra ghế nghe nhạc và ngủ.

Người làm chứng Quàng Thị Thùy C vắng mặt tại phiên toà có lời khai tại cơ quan điều tra thể hiện: chị là nhân viên của quán K thuộc khu phố Đ, phường L, tỉnh Quảng Ninh do chính Nguyễn Văn H làm quản lý; ngày 06/10/2025, Quàng Thị Thùy C không sử dụng ma túy cùng H, T nhưng trước đó ngày 04/10/2025 có sử dụng ma túy.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Quảng Ninh thực hành quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp dụng: điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù đến 08 (tám) năm tù, về tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Áp dụng: khoản 1 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Vũ Công T 36 (ba mươi sáu) tháng tù đến 42 (bốn mươi hai) tháng tù, về tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

- Vật chứng: 01 chiếc đĩa sứ màu trắng, 01 bật lửa màu đỏ phương tiện sử dụng ma tuý không có giá trị sử dụng, nên tịch thu tiêu huỷ; 01 thẻ căn cước công dân mang tên Nguyễn Văn H là giấy tờ tuỳ thân của bị cáo nên trả lại cho bị cáo; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone vỏ xám, cũ đã qua sử dụng bị nứt vỡ mặt sau, gắn 01 sim bật không lên nguồn thu giữ của bị cáo H, một chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO vỏ màu đen, cũ đã qua sử dụng, gắn 01 sim bật không lên nguồn thu giữ của bị cáo T không liên quan đến việc phạm tôi trả lại cho các bị cáo.

Tờ tiền 10.000 đồng sử dụng làm phương tiện phạm tội, tịch thu sung ngân sách Nhà nước.

Các bị cáo không tranh luận gì. Nói lời sau cùng, các bị cáo ăn năn hối cải và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tài liệu, chứng cứ đã thu thập, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Quảng Ninh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Quảng Ninh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố: đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về tài liệu, chứng cứ đã thu thập, hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các tài liệu, chứng cứ đã thu thập, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Những người làm chứng vắng mặt, căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng Hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt những người làm chứng.

Về hành vi của các bị cáo: tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo đều khai nhận hành vi phạm tội phù hợp nhau; phù hợp với lời khai của người làm chứng Lò Thị A, Quàng Thị Thùy C; phù hợp Kết luận giám định số: 1546 ngày 12/10/2025 của Phòng K1, Công an tỉnh Quảng Ninh; phù hợp với nội dung bản cáo trạng số: 56/CT-VKSKV2-QN ngày 20/01/2026, của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Quảng Ninh. Thấy, có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 04 giờ ngày 06/10/2025, tại quán K thuộc khu phố Đ, phường L, tỉnh Quảng Ninh, Nguyễn Văn H đã có hành vi tổ chức cho Vũ Công T và Lò Thị A sử dụng trái phép chất ma túy loại Ketamine, T còn được H tổ chức cho sử dụng thêm ma túy thuốc lắc (Methamphetamine, MDMA). Cũng trong khoảng thời gian và địa điểm trên, Vũ Công T có hành vi tổ chức cho Lò Thị A sử dụng trái phép chất ma túy loại Ketamine.

Hành vi của các bị cáo đã phạm tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, bị cáo Nguyễn Văn H tổ chức cho hai người sử dụng, là tình tiết định khung hình phạt quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự, có hình phạt từ 07 đến 15 năm; bị cáo Vũ Công T tổ chức cho một người, là tình tiết định khung hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự, có hình phạt từ 03 đến 07 năm.

Điều 255 Bộ luật Hình sự quy định:

“1. Người nào tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý dưới bất kỳ hình thức nào, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm”.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

a)...

b) Đối với 02 người trở lên;

Hành vi của các bị cáo nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về quản lý các chất ma túy, việc sử dụng trái phép chất ma tuý ảnh hưởng xấu đến sức khoẻ, trí lực của con người, làm phát sinh các tội phạm khác, gây mất trật tự trị an địa phương. Hành vi phạm tội cần trừng trị thích đáng.

Vai trò, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Vai trò của các bị cáo trong vụ án: các bị cáo phạm tội độc lập nên phải chịu trách nhiệm độc lập tương xứng hành vi của các bị cáo.

Tình tiết tăng nặng: các bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Tình tiết giảm nhẹ: quá trình điều tra và tại phiên toà các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự khi quyết định hình phạt. Nhưng cần phải xử lý nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo nhằm giáo dục, răn đe đối với bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung cho xã hội.

Hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 255 Bộ luật Hình sự, thì: Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, phạt quản chế, cấm cư trú 01 đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, nhưng xét thấy các bị cáo nghề nghiệp lao động tự do, nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Quảng Ninh có căn cứ chấp nhận.

Đối với 0,032 gam ma túy loại Ketamine thu giữ của Nguyễn Văn H mục đích để sử dụng, không đủ lượng để xử lý hình sự; đối tượng tên B1, theo H khai đã bán ma tuý cho H do không rõ lai lịch, địa chỉ cụ thể nên không có căn cứ để xử lý; còn các đối tượng Lò Thị A và Quàng Thị Thùy C, có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, kết quả xác minh A và C đều không trong diện xử lý hình sự về tội: “ Sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định Điều 256a Bộ luật Hình sự, Công an tỉnh Quảng Ninh đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi: “Sử dụng trái phép chất ma túy”.

Vật chứng:

- 0,032 gam ma túy loại Ketamine thu giữ đã sử dụng hết cho việc giám định, nên HĐXX không xem xét.

- 01 chiếc đĩa sứ màu trắng và 01 bật lửa màu đỏ, là phương tiện sử dụng ma tuý không có giá trị sử dụng, nên tịch thu tiêu huỷ; 01 thẻ căn cước công dân mang tên Nguyễn Văn H là giấy tờ tuỳ thân của bị cáo nên trả lại cho bị cáo; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone vỏ xám, cũ đã qua sử dụng bị nứt vỡ mặt sau, gắn 01 sim bật không lên nguồn thu giữ của bị cáo H, 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO vỏ màu đen, cũ đã qua sử dụng, gắn 01 sim bật không lên nguồn thu giữ của bị cáo T không liên quan đến việc phạm tội nên trả lại cho các bị cáo. Một tờ tiền VNĐ loại 10.000đ, các bị cáo dùng làm phương tiện sử dụng ma tuý do đó cần tịch thu sung Ngân sách nhà nước.

Án phí và quyền kháng cáo bản án: các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1- Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Văn H, Vũ Công T phạm tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt: bị cáo Nguyễn Văn H 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ (ngày 07/10/2025).

Áp dụng khoản 1 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt: bị cáo Vũ Công T 36 (ba mươi sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ (ngày 07/10/2025).

2- Vật chứng: áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Tịch thu tiêu huỷ: 01 chiếc đĩa sứ màu trắng, 01 bật lửa màu đỏ.

Trả lại bị cáo Nguyễn Văn H 01 thẻ căn cước công dân mang tên Nguyễn Văn H và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone vỏ xám, cũ đã qua sử dụng bị nứt vỡ mặt sau, gắn 01 sim bật không lên nguồn.

Trả lại bị cáo Vũ Công T 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO vỏ màu đen, cũ đã qua sử dụng, gắn 01 sim bật không nguồn.

Tịch thu sung Ngân sách nhà nước một tờ tiền VNĐ loại 10.000 đồng.

(Tình trạng như biên bản bàn giao số 57/THADS-KV2 ngày 20/01/2026 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Quảng Ninh và Phòng thi hành án dân sự khu vực 2 - Quảng Ninh)

Tiếp tục lưu giữ tại hồ sơ vụ án: 02 đĩa DVD chứa dữ liệu điện tử hỏi cung của các bị cáo.

3- Án phí hình sự sơ thẩm: căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: các bị cáo Nguyễn Văn H, Vũ Công T mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4- Quyền kháng cáo: áp dụng khoản 1 Điều 331 và khoản 1 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự: các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Cỡ chữ