vanban.org

Bản án 49/2026/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm a khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2024, 2025 đối với bị cáo Hà Văn T;

Điểm c khoản 1 Điều 256a; các điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2024, 2025 đối với bị cáo Đặng Văn H; Về tội danh: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "HÀ VĂN T CÙNG ĐỒNG PHẠM - tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (điều 255 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Điểm a khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2024, 2025 đối với bị cáo Hà Văn T;
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 19 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bản án số: 49/2026/HS-ST
Ngày: 29-4-2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 19 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Ánh Tuyết.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Trần Thị Hồng Vân;

Ông Trần Trung Hạnh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thanh, Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 19 – Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 19 – Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Thái Hoàng Giang – Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 4 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 19 – Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 41/2026/TLST-HS ngày 13 tháng 3 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 52/2026/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 4 năm 2026 đối với các bị cáo:

1. Hà Văn T, sinh ngày 08/12/1989, tại Bình Dương nay là Thành phố Hồ Chí Minh; nơi thường trú: số nhà B, tổ D, ấp C, xã P, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hà Văn T1 và bà Đỗ Thị T2; tiền án: tại Bản án số 28/2022/HS-ST ngày 14/6/2022, Tòa án nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương nay là Tòa án nhân dân Khu vực 19 – Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 năm 08 tháng tù về tội Hủy hoại tài sản theo điểm d khoản 2 Điều 178 của Bộ luật Hình sự; bị cáo chấp hành xong án phí hình sự sơ thẩm ngày 25/7/2022; chấp hành xong hình phạt tù ngày 26/9/2024; tiền sự: Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 74/QĐ-XPVPHC-CAH-ĐTTH ngày 26/6/2017, Công an huyện T, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xử phạt 2.500.000 đồng về hành vi xâm phạm đến sức khỏe của người khác; nhân thân: tại Bản án số 10/2009/HSST ngày 15/12/2009, Tòa án nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương nay là Tòa án nhân dân Khu vực 19 – Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 09 tháng tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo khoản 1 Điều 139 của Bộ luật Hình sự; bị bắt ngày 19/8/2025, sau tạm giam cho đến nay, có mặt.

2. Đặng Văn H, sinh ngày 06/6/1990, tại Vĩnh Phúc nay là Phú Thọ; nơi thường trú: ấp C, xã P, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: công nhân; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Văn S và bà Hoàng Thị T3; tiền án: không; tiền sự: năm 2024 cai nghiện tự nguyện, ngày 16/06/2025, Ủy ban nhân dân xã A, huyện P, tỉnh Bình Dương nay là xã P, Thành phố Hồ Chí Minh Quyết định Quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú số 251 thời gian quản lý từ 16/06/2025 đến 16/06/2026; bị bắt ngày 19/8/2025, sau tạm giam cho đến nay, có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Võ Văn K, sinh năm 1982; nơi thường trú: ấp B, xã P, Thành phố Hồ Chí Minh, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Hà Văn T, Đặng Văn H và Võ Văn K quen biết nhau và là các đối tượng nghiện ma túy. H bị Ủy ban nhân dân xã A, huyện P, tỉnh Bình Dương nay là xã P, Thành phố Hồ Chí Minh ra Quyết định Quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú số 251 ngày 16/06/2025 thời gian quản lý từ 16/06/2025 đến 16/06/2026.

Vào khoảng 22 giờ, ngày 18/8/2025, Công an xã P, Thành phố Hồ Chí Minh tiến hành kiểm tra hành chính nhà của Hà Văn T thuộc Tổ D, ấp C, xã P, Thành phố Hồ Chí Minh, có mặt tại nhà T còn có H. Qua kiểm tra và test nhanh chất ma túy trong cơ thể đối tượng T và H kết quả cho thấy trong cơ thể của T và H dương tính với chất ma túy (MET). Lực lượng Công an mời các đối tượng về trụ sở để xác minh làm rõ.

Qua làm việc T khai nhận: khoảng 18 giờ 30 phút ngày 15/08/2025, sau khi H đi làm về thì có qua nhà của T tại ấp C, xã P, Thành phố Hồ Chí Minh để chơi. Lúc H đến nhà của T chỉ có một mình T đang ở nhà, thấy T đang ở phía sau bếp nên H định lấy nước uống thì thấy bộ dụng cụ ma túy nên H hỏi T “còn đồ không” T trả lời là còn và gật đầu. H lấy bộ dụng cụ ra để sử dụng ma túy còn T thì đi ra ngoài vườn. H lấy bộ cụ ra, do T nói còn ma túy bên trong nên H dùng bật lửa đốt lượng ma túy trong bộ dụng cụ sau đó hút khói, hút được 3-4 hơi thì H không thấy khói nữa nghĩ là hết nên bỏ lại bộ sử dụng ma túy vào chỗ cũ và ra phía sau ngồi chơi một lúc rồi đi về nhà.

Khoảng 07 giờ 30 phút ngày 18/08/2025, T điện thoại cho Võ Văn K qua nhà của T tại ấp C, xã P, Thành phố Hồ Chí Minh để uống . Lúc K đến nhà của T thì có T và một người bạn của T đang ở nhà ngồi uống rượu ở sau nhà, K vào nhà ngồi uống rượu chung với T được khoảng 1 giờ thì xin về nhà. Lúc này, T kêu K vào bếp của T lấy từ ở dưới bếp ra một cái chai có cắm ống hút nhựa và ống thủy tinh. T nói với K “làm cái này đi để tỉnh táo đi về” lúc này K ngồi xuống sàn, còn T cầm bộ dụng cụ và bật lửa đốt ma túy có sẵn trong bộ dụng cụ. K ngậm ống hút, hút một hơi thì bị sặc nên K đứng lên không hút nữa. Lúc này, T kêu K hút thêm một hơi nữa thì K ngồi xuống, T cầm bộ dụng cụ và bật lửa tiếp tục đốt ma túy có sẵn để K hút một hơi nữa thì tiếp tục bị sặc nên K đi ra nhà sau còn T ngồi ở bếp, K ra ngoài nhà sau uống nước sau đó về nhà của K.

T khai nhận có sử dụng trái phép chất ma túy vào khoảng 16 giờ 30 phút ngày 15/8/2025 và ngày 18/8/2025 tại khu vực nhà bếp của mình. Số ma túy có được do mua từ H1 tên tài khoản Facebook là Phi Phạm mua ở khu vực Nông trường T thuộc tỉnh Đồng Nai và bộ D sử dụng ma túy do H1 cho khi mua ma túy. T quen biết Hoàng qua người bạn tên H2 cách đây khoảng 3 tháng và không rõ nhân thân lai lịch của H1.

Ngày 19 tháng 08 năm 2025, Cơ quan sát điều tra Công an Thành phố H ra quyết định Trưng cầu giám định ma túy và tiền chất ma túy trong nước tiểu thu được của Hà Văn T, Đặng Văn H và Võ Văn K và chất bám dính trong nỏ thủy tinh thu thập tại hiện trường bì thư có chữ ký của cán bộ niêm phong (bút lục 121).

Vật chứng thu giữ: 01 (một) chai nhựa có nắp đục 02 lỗ, gồm 01 lỗ gắn ống hút nhựa và 01 lỗ gắn 01 nỏ thủy tinh, bên trong chai nhựa có nước; 02 (hai) hộp quẹt lửa (đã qua sử dụng); 01 (một) đoạn ống hút nhựa màu trắng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A1K, kiểu máy CPH 1923, màu đỏ (điện thoại bị vỡ màn hình, tại thời điểm giao nhận điện thoại không hoạt động được); 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo V2026 32G, màu xanh ngọc.

Tại Kết luận giám định số 3925/KL-KTHS ngày 27/8/2025, Phòng K1 - Công an Thành phố H kết luận: Mẫu chất bám dính trên nỏ thủy tinh, gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine. Mẫu các nước tiểu của Đặng Văn H; Hà Văn T; Võ Văn K, gửi giám định đều có thành phần ma túy, loại Methamphetamine (bút lục 123).

- Về xử lý vật chứng: 01 (một) chai nhựa có nắp đục 02 lỗ, gồm 01 lỗ gắn ống hút nhựa và 01 lỗ gắn 01 nỏ thủy tinh, bên trong chai nhựa có nước; 02 (hai) hộp quẹt lửa (đã qua sử dụng); 01 (một) đoạn ống hút nhựa màu trắng; 01 (một) bì thư được niêm phong ghi số 292/PC09M1. Có chữ ký và hình dấu đỏ như trong biên bản mở niêm phong và giấy niêm phong có chữ ký Nguyễn Hoàng  (cán bộ trả mẫu); Trần Mạnh H3 (cán bộ nhận mẫu). Bên trong có 01 nỏ thủy tinh theo Kết luận giám định số 3295/KL-KTHS ngày 27/8/2025 và Biên bản nhận lại mẫu; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A1K, kiểu máy CPH 1923, màu đỏ (điện thoại bị vỡ màn hình, tại thời điểm giao nhận điện thoại không hoạt động được) thu giữ của Hà Văn T; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo V2026 32G, màu xanh ngọc (tại thời điểm giao nhận điện thoại không hoạt động được) thu giữ của Đặng Văn H đã chuyển Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 19 – Thành phố Hồ Chí Minh.

Quá trình điều tra, truy tố bị cáo, không có ý kiến hay khiếu nại gì đối với Kết luận giám định, xử lý vật chứng.

Đối với hành vi sử dụng trái phép của Võ Văn K không đủ cấu thành tội phạm. Ngày 22/08/2025, Ủy ban nhân dân xã P ra Quyết định Áp dụng biện pháp quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy đối với Võ Văn K.

Đối với người tên H1 bán ma túy cho T, hiện chưa xác định được nhân thân, lai lịch của đối tượng H1, Cơ quan điều tra Công an Thành phố H sẽ tiếp tục điều tra làm rõ, có căn cứ xử lý sau.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố, hành vi của bị cáo Hà Văn T đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” truy tố hành vi của bị cáo Đặng Văn H đủ yếu tố cấu thành tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”.

Bản Cáo trạng số 114/CT–VKSNDKV19 ngày 12 tháng 3 năm 2026, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 19 – Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Hà Văn T về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017, 2024, 2025; truy tố bị cáo Đặng Văn H về tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 256a của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017, 2024, 2025.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thống nhất với quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 19 – Thành phố Hồ Chí Minh. Kiểm sát viên giữ nguyên quyết định truy tố của Viện kiểm sát.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử:

- Về hình phạt:

+ Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017, 2024, 2025, đề nghị Hội đồng xét xử, xử phạt bị cáo Hà Văn T mức án từ 08 năm tù đến 09 năm tù.

+ Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 256a, các điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017, 2024, 2025, đề nghị Hội đồng xét xử, xử phạt bị cáo Đặng Văn H mức án từ 02 năm 02 tháng tù đến 02 năm 04 tháng tù.

- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017, 2024, 2025; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, đề nghị Hội đồng xét xử:

Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) chai nhựa có nắp đục 02 lỗ, gồm 01 lỗ gắn ống hút nhựa và 01 lỗ gắn 01 nỏ thủy tinh, bên trong chai nhựa có nước; 02 (hai) hộp quẹt lửa (đã qua sử dụng); 01 (một) đoạn ống hút nhựa màu trắng là vật chứng của vụ án thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành.

Tịch thu nộp ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A1K, kiểu máy CPH 1923, màu đỏ (điện thoại bị vỡ màn hình, tại thời điểm giao nhận điện thoại không hoạt động được) thu giữ của Hà Văn T, là tài sản T dùng vào việc phạm tội; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo V2026 32G, màu xanh ngọc (tại thời điểm giao nhận điện thoại không hoạt động được) thu giữ của Đặng Văn H, là tài sản H dùng vào việc phạm tội.

Các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, không tranh luận.

Bị cáo Hà Văn T nói lời sau cùng: bị cáo nhận thức được ma túy là có hại, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Bị cáo Đặng Văn H nói lời sau cùng: bị cáo nhận thức rõ hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo có cơ hội về làm lại cuộc đời.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Thành phố H, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân Khu vực 19 – Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Có căn cứ xác định:

Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 15/8/2025, Hà Văn T cung cấp ma túy, bộ dụng cụ cho Đặng Văn H sử dụng trái phép ma túy tại khu vực nhà bếp của Hà Văn T thuộc tổ D, ấp C, xã P, Thành phố Hồ Chí Minh.

Khoảng 07 giờ 30 phút ngày 18/8/2025, Hà Văn T cung cấp ma túy, bộ dụng cụ cho Võ Văn K sử dụng trái phép ma túy tại khu vực nhà bếp của Hà Văn T thuộc 4, ấp C, xã P, Thành phố Hồ Chí Minh.

Bị cáo T phạm tội 02 lần trở lên, do đó, Hội đồng xét xử xác định: hành vi của bị cáo Hà Văn T đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm a khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017, 2024, 2025.

Đặng Văn H bị Ủy ban nhân dân xã A, huyện P, tỉnh Bình Dương nay là xã P, Thành phố Hồ Chí Minh ra quyết định Quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú số 251 ngày 16/06/2025 thời gian quản lý từ 16/06/2025 đến 16/06/2026. Ngày 15/8/2025, H tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy tại khu vực bếp của nhà T thuộc 4, ấp C, xã P, Thành phố Hồ Chí Minh. Do đó, Hội đồng xét xử xác định: hành vi của bị cáo Đặng Văn H đủ yếu tố cấu thành tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 256a của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017, 2024, 2025

Các bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự.

Tại phiên tòa: các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và sử dụng trái phép chất ma túy.

Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo như sau:

Về tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội: hành vi của các bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách của Nhà nước đối với việc quản lý, sử dụng chất ma tuý, ảnh hưởng đến tình hình an ninh, trật tự của xã hội.

Về nhân thân:

Bị cáo Đặng Văn H bị xử lý hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, trong thời gian quản lý sau cai nghiện bị cáo H tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy, xét nhân thân bị cáo là chưa tốt.

Đối với bị cáo Hà Văn T, đã từng bị kết án về các tội hủy hoại tài sản, lừa đảo chiếm đoạt tài sản và bị xử phạt hành chính về hành vi xâm phạm đến sức khỏe của người khác nhưng bị cáo vẫn không thay đổi, nay lại thực hiện hành vi phạm tội liên quan đến ma túy xét về nhân thân của bị cáo là rất xấu.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo Hà Văn T thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2024, 2025.

Bị cáo Đặng Văn H phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại các điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2024, 2025.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo Hà Văn T đã bị kết án, chưa được xóa án tích mà lại thực hành vi phạm tội do cố ý nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2024, 2025.

Xét, tình hình tội phạm về ma túy hiện nay diễn biến phức tạp. Các đối tượng phạm tội ngày càng manh động, liều lĩnh, sử dụng những thủ đoạn cất giấu, mua bán ma túy hết sức tinh vi, xảo quyệt nhằm tránh sự phát hiện của cơ quan chức năng gây khó khăn cho các cơ quan tiến hành tố tụng. Việc, mua bán, sử dụng trái phép chất ma túy dẫn đến việc người sử dụng ma túy bị ảnh hưởng nghiêm trọng về sức khỏe, không làm chủ hành vi, không tái tạo được sức lao động, làm gia tăng các tệ nạn xã hội, lây truyền căn bệnh HIV- AIDS, gây nguy hại lớn cho gia đình và xã hội. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét nên xử các bị cáo một mức án thật nghiêm tương xứng với mức độ, tính chất của hành vi phạm tội để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Đề nghị của Kiểm sát viên về mức hình phạt đối với các bị cáo là tương xứng với tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về vật chứng:

+ 01 () chai nhựa có nắp đục 02 lỗ, gồm 01 lỗ gắn ống hút nhựa và 01 lỗ gắn 01 nỏ thủy tinh, bên trong chai nhựa có nước; 02 (hai) hộp quẹt lửa (đã qua sử dụng); 01 (một) đoạn ống hút nhựa màu trắng, là vật chứng của vụ án thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành nên tịch thu, tiêu hủy theo quy định tại Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2024, 2025; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

+ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A1K, kiểu máy CPH 1923, màu đỏ (điện thoại bị vỡ màn hình, tại thời điểm giao nhận điện thoại không hoạt động được) thu giữ của Hà Văn T, là tài sản T dùng vào việc phạm tội; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo V2026 32G, màu xanh ngọc (tại thời điểm giao nhận điện thoại không hoạt động được) thu giữ của Đặng Văn H, là tài sản H dùng vào việc phạm tội nên tịch thu, sung quỹ theo quy định tại Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2024, 2025; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Về các vấn đề khác:

Đối với hành vi sử dụng trái phép của Võ Văn K không đủ cấu thành tội phạm. Ngày 22/08/2025, Ủy ban nhân dân xã P ra Quyết định Áp dụng biện pháp quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy số 410 đối với Võ Văn K là phù hợp quy định pháp luật.

Đối với người tên H1 bán ma túy cho T, hiện chưa xác định được nhân thân, lai lịch của đối tượng H1, Cơ quan điều tra Công an Thành phố H sẽ tiếp tục điều tra làm rõ, có căn cứ xử lý sau.

Về án phí: các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

Điểm a khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2024, 2025 đối với bị cáo Hà Văn T;

Điểm c khoản 1 Điều 256a; các điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2024, 2025 đối với bị cáo Đặng Văn H;

Các Điều 46, 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017; các Điều 106, 135, 136, 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

Điều 3, Khoản 1 Điều 23 Mục 1 Phần I Danh mục Án phí, lệ phí Tòa án (ban hành kèm theo) của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

Tuyên xử:

1. Về tội danh:

Tuyên bố bị cáo Hà Văn T phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Tuyên bố bị cáo Đặng Văn H phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”.

2. Về hình phạt:

Xử phạt bị cáo Hà Văn T 08 (tám) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 19 tháng 8 năm 2025.

Xử phạt bị cáo Đặng Văn H 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 19 tháng 8 năm 2025.

3. Về vật chứng:

- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) chai nhựa có nắp đục 02 lỗ, gồm 01 lỗ gắn ống hút nhựa và 01 lỗ gắn 01 nỏ thủy tinh, bên trong chai nhựa có nước; 02 (hai) hộp quẹt lửa (đã qua sử dụng); 01 (một) đoạn ống hút nhựa màu trắng; 01 (một) bì thư được niêm phong ghi số 292/PC09M1. Có chữ ký và hình dấu đỏ như trong biên bản mở niêm phong và giấy niêm phong có chữ ký Nguyễn Hoàng  (cán bộ trả mẫu); Trần Mạnh H3 (cán bộ nhận mẫu). Bên trong có 01 nỏ thủy tinh theo Kết luận giám định số 3295/KL-KTHS ngày 27/8/2025 và Biên bản nhận lại mẫu.

- Tịch thu nộp ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A1K, kiểu máy CPH 1923, màu đỏ (điện thoại bị vỡ màn hình, tại thời điểm giao nhận điện thoại không hoạt động được); 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo V2026 32G, màu xanh ngọc (tại thời điểm giao nhận điện thoại không hoạt động được).

(Theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 23/4/2026 giữa Công an Thành phố Hồ Chí Minh và Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh (Phòng T4).

4. Về án phí: Các bị cáo Hà Văn T, Đặng Văn H mỗi bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo:

Các bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ