vanban.org

Bản án 49/2024/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Phú Riềng, tỉnh Bình Phước Tuyên án 19/06/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức D phạm các tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”, “Trộm cắp tài sản” và “Tàng trữ trái phép chát ma tuý”; Bị cáo Mô Ha M phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng: Điểm b khoản 1 Điều 175; điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 50; Điều 38 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức D 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiểm đoạt tài sản; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "D, M phạm tội Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức D phạm các tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”, “Trộm cắp tài sản” và “Tàng trữ trái phép chát ma tuý”; Bị cáo Mô Ha M phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 52 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
HUYỆN PHÚ RIỀNG
TỈNH BÌNH PHƢỚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 49/2024/HS-ST
Ngày: 19-6-2024

NHÂN D

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ RIỀNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên tòa: Bà Đinh Thị Hải

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hng Hanh

Ông Nguyễn Sỹ Luận

Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Vũ Thị Dên – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Riềng, tỉnh Bình Phước.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Riềng, tỉnh Bình Phước tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Giáp - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 6 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Riềng, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 35/2024/HSST ngày 26 tháng 4 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Nguyễn Đức D

Giới tính: Nam

Tên gọi khác: R

Sinh năm 1981 tại Bình Phước

HKTT và chỗ ở: Thôn P, xã P, huyện Phú Riềng, tỉnh Bình Phước

Nghề nghiệp: Lái xe

Trình độ học vấn: 9/12

Quốc tịch: Việt Nam Dân tộc: Kinh Tôn giáo: Không

Con ông Nguyễn Đức D – sinh năm 1943 và bà Nguyễn Thị N – sinh năm 1948 (đã chết).

Vợ: Nguyễn Thị Ngọc T – sinh năm 1981 (đã ly hôn năm 2015) và 02 con: Con lớn sinh năm 2000, con nhỏ sinh năm 2006.

Tiền án: Không

Tiền sự: Ngày 16/6/2020, bị Toà án nhân dân huyện Phú Riềng, tỉnh Bình Phước ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Đã chấp hành xong ngày 12/5/2022.

Nhân thân: Ngày 02/3/2017, bị Toà án nhân dân huyện Phú Riềng, tỉnh Bình Phước xử phạt 20 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 13/2017/HSST.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 01/11/2023, hiện bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện Phú Riềng. Có mặt tại phiên tòa.

2. Họ và tên: Mô Ha M

Giới tính: Nam

Tên gọi khác: B

Sinh năm 1986 tại Bình Phước

HKTT và chỗ ở: Thôn P, xã P, huyện Phú Riềng, tỉnh Bình Phước

Nghề nghiệp: Làm thuê

Trình độ học vấn: 3/12

Quốc tịch: Việt Nam Dân tộc: Chăm Tôn giáo: Hồi giáo

Con ông Du Sô Y S – sinh năm 1959 và bà Nguyễn Thị A – sinh năm 1966

Vợ, con: Chưa có

Tiền sự: Không

Tiền án: Ngày 15/6/2022, bị Toà án nhân dân huyện Phú Riềng, tỉnh Bình Phước xử phạt 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 35/2022/HSST.

Nhân thân: Ngày 24/8/2016, bị Toà án nhân dân huyện Phú Riềng, tỉnh Bình Phước xử phạt 04 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 73/2016/HSST; Ngày 15/6/2022, bị Toà án nhân dân huyện Phú Riềng, tỉnh Bình Phước xử phạt 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 35/2022/HSST.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 01/11/2023, hiện bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện Phú Riềng Có mặt tại phiên tòa.

* Người bị hại:

1. Ông Nguyễn Đức H – sinh năm: 1971. Vắng mặt

Địa chỉ: Thôn Phú Tân, xã Phú Riềng, huyện Phú Riềng, tỉnh Bình Phước

2. Ông Nguyễn Quốc B – sinh năm: 1989. Vắng mặt

Địa chỉ: Thôn Phú Nguyên, xã Phú Riềng, huyện Phú Riềng, tỉnh Bình Phước.

3. Ông Vũ Minh T – sinh năm: 1974. Vắng mặt

Địa chỉ: Thôn Tân Bình, xã Bù Nho, huyện Phú Riềng, tỉnh Bình Phước

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Bà Phan Thị H – sinh năm: 1956. Vắng mặt

Địa chỉ: Ấp 2, xã Tân Thành, thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước

2. Ông Nguyễn Công D – sinh năm: 1984. Vắng mặt

Địa chỉ: Tổ 3, ấp Thuận An, xã Thuận Lợi, huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước.

3. Ông Hứa Văn Đ – sinh năm: 1983. Vắng mặt

Địa chỉ: Ấp Bù Xăng, xã Thuận Phú, huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước

4. Ông Nguyễn Văn H, Tên gọi khác: Liều – sinh năm: 1993. Vắng mặt

Địa chỉ: Thôn Tân Bình, xã Bù Nho, huyện Phú Riềng, tỉnh Bình Phước

5. Bà Ngũ Thị L – sinh năm: 1988. Vắng mặt

Địa chỉ: Số 17 Đồng Khởi, phường Tân Phú, thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Đức D và Mô Ha M là bạn bè quen biết với nhau, D là em ruột của ông Nguyễn Đức H, sinh năm: 1971, HKTT: thôn Phú Tân, xã Phú Riềng, huyện Phú Riềng, tỉnh Bỉnh Phước.

Trong khoảng thời gian từ ngày 21/10/2023, D và Mô Ha M thực hiện các vụ Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, trộm cắp tài sản và tàng trữ trái phép chất ma túy cụ thể như sau:

Vụ thứ nhất: Ngày 09/8/2023, D đến nhà ông Vũ Minh T chơi và ngủ lại. Đến khoảng 07 giờ 30 phút ngày 09/9/2023, D và T rủ nhau ăn sáng tại thôn Tân Bình, xã Bù Nho. Tại đây, D nói T “cho em mượn chiếc xe mô tô để về chở đồ và đón thằng cu em” thì T đồng ý. Sau đó, T giao xe mô tô hiệu Yamaha, loại sirius màu đỏ đen, BKS: 93P1-84284 cho D. Sau khi mượn được xe mô tô thì D nảy sinh ý định chiếm đoạt xe mô tô trên nên D điều khiển xe đi đến nhà của Nguyễn Văn Cường – sinh năm 1993; HKTT: Ấp Cầu 2, xã Đồng Tiến, huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước để nhờ Cường cầm cố chiếc xe của T với giá 4.000.000đ (bốn triệu đồng) thì Cường đồng ý. Sau đó, Cường gọi cho bạn Cường (chưa rõ nhân thân, lai lịch) đến gặp D để coi xe và đưa cho D số tiền 04 triệu đồng. Số tiền này D đã tiêu xài hết. Do không thấy D mang xe mô tô trả lại nên T nhiều lần liên lạc với D nhưng không được. Sau đó, T nhiều lần nói D trả lại xe thì D nói là đã lỡ cầm cố xe rồi và hứa sẽ chuộc xe lại cho T. Đến khi D bị bắt trong vụ án khác thì T đã làm đơn tố giác D đến cơ quan CSĐT Công an huyện Phú Riềng.

Ngày 19/01/2024, Hội đồng định giá tài sản tố tụng hình sự huyện Phú Riềng có Kết luận định giá tài sản số 05/KL-HĐĐGTS kết luận: 01 mô tô hiệu Yamaha, loại Sirius, màu đỏ đen, BKS: 93P1 – 842.84 tại thời điểm định giá ngày 09/9/2023 có giá trị 6.750.000 đồng.

Vụ thứ hai:

Vào khoảng 17 giờ 30 phút ngày 21/10/2023, D đang ở gần chùa Pháp Lạc thuộc thôn Phú Cường, xã Phú Riềng thì thấy Nguyễn Quốc B (1989), HKTT: Thôn Phú Nguyên, xã Phú Riềng, huyện Phú Riềng điều khiển xe mô tô hiệu Honda, loại Wave alpha, màu đen bạc, BKS: 93P2 - 849.07 đi ngang qua nên D gọi B dừng xe lại. D nói cho D mượn xe để đi lấy đồ và lấy tiền, B đồng ý và giao xe cho D. D điều khiển xe xuống ngã tư thành phố Đồng Xoài nhậu với bạn gái quen ngoài xã hội. Đến khoảng 22 giờ cùng ngày, do không có tiền để trả tiền nhậu nên D nảy sinh ý định cầm cố xe mô tô này. D gọi điện thoại cho Ngũ Thị L, SN: 1988, HKTT: thôn 3, xã EaLai, huyện M’Drắk, tỉnh Đắk Lắk, tạm trú: số 17, Đồng Khởi, phường Tân Phú, thành phố Đồng Xoài (D quen L từ trước đó) nhờ L cầm cố chiếc xe mô tô này với giá 5.000.000đ. L gọi điện thoại cho Chinh (chưa rõ nhân thân, lai lịch) hỏi có ai cầm cố xe mô tô cho D không thì Chinh đồng ý và nói có gì gọi cho cho H (chưa rõ nhân thân, lai lịch). Sau đó H và Chinh đến thì L nói cầm cố chiếc xe mô tô trên với số tiền 5.000.000đ. H đưa tiền cho L rồi L đưa lại tiền cho D, còn H và Chinh điều khiển xe mô tô đi. Sau khi có tiền, D nhờ L gọi taxi và đi trả tiền nhậu hết 2.500.000đ, số tiền còn lại D tiêu xài cá nhân hết. Sau đó, B nhiều lần nói D trả lại xe mô tô thì D nói xe mô tô đã cầm cố và D nói B bỏ tiền ra trước để chuộc lại với giá 6.500.000đ (tính cả tiền cầm và tiền lời), D sẽ trả tiền cho B sau. Do muốn chuộc được xe về để B tố cáo hành vi của D nên B đồng ý và nói D chỉ chỗ cầm xe thì D gọi điện thoại cho Hiếu (chưa rõ nhân thân, lai lịch) nhờ Hiếu dẫn B đến chỗ L để chuộc lại xe mô tô. Do B đi Đ người nên Hiếu không dẫn B đi gặp L để chuộc xe. B gọi lại cho D thì D hứa với B sẽ chuộc lại xe mô tô cho B nhưng D không có khả năng chuộc lại nên B đã tố giác hành vi của D đến Cơ quan CSĐT Công an huyện Phú Riềng.

Ngày 19/01/2024, Hội đồng định giá tài sản tố tụng hình sự huyện Phú Riềng có Kết luận định giá tài sản số 05/KL-HĐĐGTS kết luận: 01 mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave alpha, màu đen bạc, BSKS: 93P2 - 849.07 tại thời điểm định giá ngày 21/10/2023 có giá trị là 13.370.000 đồng.

Vụ thứ ba:

Khoảng 20 giờ ngày 27/10/2023, D thấy nhà ông H (anh trai của D) không có ai ở nhà nên nảy sinh ý định trộm cắp tài sản của ông H để bán lấy tiền sử dụng ma tuý và tiêu xài cá nhân. D đi ra phía sau nhà rồi trèo qua tường rào đột nhập vào khu vực nhà bếp của ông H. Do cửa đi lên phòng khách khoá nên D lấy 01 con dao trong bếp cạy cửa để chui vào. Khi đi lên phòng khách, D phát hiện 01 ti vi LG màu đen loại 43 inch nên D lấy ti vi này rồi đi ra ngoài. D gọi điện thoại cho xe taxi đến chở tivi đến nhà ông Nguyễn Công D, SN: 1984, HKTT: Ấp Thuận An, xã Thuận Lợi, huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước để bán nhưng ông D không mua nên D chở ti vi đến nhà nghỉ Thiên An Bình thuộc ấp 2, xã Tân Thành, thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước do bà Phan Thị H, SN: 1956 làm quản lý để thuê phòng và cất giấu ti vi. Đến ngày 28/10/2023, D mang ti vi trên bán cho ông Hứa Văn Đ, SN: 1983, HKTT: Ấp Bù Xăng, xã Thuận Lợi, huyện Đồng Phú với giá 3.500.000đ rồi D tiêu xài cá nhân hết số tiền này.

Vụ thứ tư:

Vào khoảng 20 giờ ngày 31/10/2023, D đi từ nhà nghỉ Thiên An Bình về nhà của mình ở thôn Phú Vinh, xã Phú Riềng thì gặp Mô Ha M đang ở nhà của D. D rủ Mô Ha M vào nhà của ông H để lấy trộm tài sản thì Mô Ha M đồng ý. D và Mô Ha M đi vào nhà ông H lấy 01 máy giặt, 01 máy lọc nước, 01 máy Ipad, 01 nồi cơm điện, 01 bếp gas, 01 bình gas rồi cùng nhau mang những tài sản này ra phía trước nhà của ông H. Sau đó, D gọi điện thoại cho ông Nguyễn Văn H, SN: 1993, HKTT: Thôn Tân Bình, xã Bù Nho, huyện Phú Riềng để thuê xe ô tô chở những tài sản trên thì ông H điều khiển xe ô tô hiệu Toyota, loại Innova, BKS: 93A - 097.25 đến và chở D, Mô Ha M cùng các tài sản trên đến nhà nghỉ Thiên An Bình. Trên đường đi, D nói H dừng xe tại khu vực gần trường Cơ khí thành phố Đồng Xoài rồi D đi bộ vào một con hẻm ở gần đó gặp đối tượng tên H (chưa xác định được nhân thân, lai lịch) mua ma túy của đối tượng này với số tiền 800.000đ. Sau khi mua được ma túy, H tiếp tục chở D và Mô Ha M đến nhà nghỉ Thiên An Bình. Tại đây, D hỏi bà H (là chủ nhà nghỉ) có mua các tài sản này không thì bà H không mua nên D gửi các tài sản tại đây và mượn bà H số tiền 1.000.000đ để trả tiền xe cho ông H. Sau đó, ông H chở Mô Ha M về lại nhà của D, còn D ở lại nhà nghỉ và thuê phòng 109 để nghỉ.

Đến khoảng 08 giờ ngày 01/11/2023, gia đình ông H phát hiện cửa phía sau bị cạy phá nên vào nhà kiểm tra thì phát hiện bị mất tài sản nêu trên nên đã trình báo Công an xã Phú Riềng.

Sau khi nhận được tin báo, Cơ quan CSĐT Công an huyện Phú Riềng phối hợp cùng Công an xã Phú Riềng và Tổ phòng chống tội phạm tiến hành kiểm tra xung quanh khu vực hiện trường khoảng 20m thì thấy Mô Ha M đang nằm ngủ tại nhà của D. Khi gặp lực lượng Công an, Mô Ha M sợ bị lực lượng Công an phát hiện hành vi của mình nên đã đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội.

Cùng ngày, Cơ quan CSĐT đã ra Quyết định tạm giữ đối với Mô Ha M để điều tra làm rõ.

Căn cứ vào lời khai của Mô Ha M, Cơ quan CSĐT Công an huyện Phú Riềng đã ra Lệnh khám xét khẩn cấp chỗ ở của D tại nhà nghỉ Thiên An Bình và Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với D.

Quá trình khám xét tại chỗ ở của D, Cơ quan điều tra phát hiện, thu giữ các tài sản mà D và Mô Ha M đã trộm cắp của ông H ở hai vụ án trên. Khi lực lượng Công an đến nhà nghỉ, D phát hiện thấy nên bỏ trốn về xã Phú Riềng thì bị lực lượng Công an bắt giữ đưa về trụ sở Công an xã Phú Riềng làm việc.

Quá trình kiểm tra người của D, Cơ quan điều tra phát hiện trong túi quần bên phải phía sau có 01 bịch nilon màu trắng trong suốt kích thước (3x3)cm được hàn kín 03 mặt, trong đó 01 mặt đã bị cắt chéo hở, bên trong gói nilon có chứa các tinh thể rắn màu trắng là ma túy mà D mua của đối tượng tên H nhằm mục đích để sử dụng nên Cơ quan điều tra tiến hành thu giữ và niêm phong theo quy định.

Vật chứng thu giữ gồm:

- 01 bịch nilon màu trắng trong suốt kích thước (3x3)cm được hàn kín 03 mặt, trong đó 01 mặt đã bị cắt chéo hở, bên trong gói nilon có chứa các tinh thể rắn màu trắng nghi là ma tuý.

- 01 điện thoại di động hiệu Samsung, loại Galaxy 10S, màu xanh dương, phía trước màn hình phía trước bên phải bị rạn, vỡ mặt kính.

- 01 bình lọc nước đa chức năng hiệu Aquath (2021) màu đen đã qua sử dụng;

- 01 nồi cơm điện hiệu kangarooo màu đen đã qua sử dụng;

- 01 máy giặt (máy đứng hiệu Panasonic) màu xám đen đã qua sử dụng;

- 01 bếp gas mini nhãn hiệu Kiwa màu đen có dây nối màu đỏ đã qua sử dụng;

- 01 bình gas nhãn hiệu V - gas, loại bình gas 14,4 màu đỏ;

- 01 máy Ipad màu trắng bạc tình trạng máy móc không kiểm tra, đã qua sử dụng;

- 01 con dao bằng kim loại màu trắng, cán dao bọc nhựa màu đen, dao dài 30,2cm, lưỡi dao dài 17,5cm, bản rộng 8,3cm, dày 0,3cm, dao có 01 lưỡi sắc, không có mũi nhọn, trên dao có chữ “Delites”.

- 01 ti vi hiệu LG, loại 43 inch màu đen.

- 01 xe ô tô hiệu Toyota, loại Innova, BSKS: 93A - 097.25.

Ngày 02/11/2023, Cơ quan CSĐT Công an huyện Phú Riềng ra Yêu cầu định giá tài sản số 59/YC-CSHS về việc trưng cầu Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện Phú Riềng định giá tài sản đối với những tài sản mà D và Mô Ha M đã trộm cắp của ông H trong vụ án thứ ba và vụ án thứ tư ở trên. Cùng ngày, Cơ quan CSĐT Công an huyện Phú Riềng ra Quyết định trưng cầu giám định số 123/QĐ trưng cầu Phòng kỹ thuật hình sự (PC09) - Công an tỉnh Bình Phước giám định chất ma túy và khối lượng chất ma túy thu giữ của D ở trên.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 68/KL-HĐĐG ngày 06/11/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Phú Riềng kết luận:

- 01 ti vi hiệu LG, màu đen, loại 43 inch tại thời điểm vào ngày 27/10/2023 có giá trị là 4.800.000đ;

- 01 bình lọc nước đa chức năng hiệu Aquath, màu đen tại thời điểm vào ngày 31/10/2023 có giá trị là 6.000.000đ;

- 01 máy giặt (máy đứng hiệu Panasonic) màu xám đen tại thời điểm vào ngày 31/10/2023 có giá trị là 3.200.000đ;

- 01 bếp gas mini nhãn hiệu Kiwa màu đen có dây nối màu đỏ và 01 bình gas lớn nhãn hiệu V-gas, có chữ 14,4, màu đỏ, trọng lượng 12 kg tại thời điểm vào ngày 31/10/2023 có giá trị là 1.750.000đ;

- 01 nồi cơm điện hiệu Kangarooo, màu đen tại thời điểm vào ngày 31/10/2023 có giá trị là 180.000đ;

- 01 máy Ipad, màu trắng bạc tại thời điểm vào ngày 31/10/2023 có giá trị là 400.000đ.

Tại Bản kết luận giám định số 1100/KL(MT)-KTHS ngày 08/11/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Phước kết luận:

- Tinh thể màu trắng (ký hiệu M) có trong 01 gói nylon được niêm phong gửi giám định là ma tuý, loại Methamphetamine, có khối lượng là 1,9456 gam (một phẩy chín bốn năm sáu gam).

* Kèm theo kết luận giám định: Không.

* Hn lại đối tượng giám định: Mẫu Hn lại được niêm phong có khối lượng là 1,5451 gam.

Tại Bản cáo trạng số 37/CT-VKSPR ngày 26/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Riềng đã truy tố bị cáo Nguyễn Đức D về các tội: “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” quy định tại điểm b khoản 1 Điều 175 Bộ luật hình sự; “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự; “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Bị cáo Mô Ha M bị truy tố về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như trên và xin giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng: Điểm b khoản 1 Điều 175; các điểm b, s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 50; Điều 38 Bộ luật hình sự:

Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức D mức án từ 01 năm 09 tháng tù đến 02 năm tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiểm đoạt tài sản;

Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 58; Điều 50; Điều 38 Bộ luật hình sự:

Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức D mức án từ 01 năm 09 tháng tù đến 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 50; Điều 38 Bộ luật hình sự:

Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức D mức án từ 01 năm 09 tháng tù đến 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Áp dụng Điều 55 Bộ luật hình sự: Tổng hợp hình phạt chung của cả 03 tội, buộc bị cáo Nguyễn Đức D phải chấp hành hình phạt từ 05 năm 03 tháng tù đến 06 năm tù.

Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 58; Điều 50; Điều 38 Bộ luật hình sự:

Xử phạt bị cáo Mô Ha Mahk mức án từ 01 năm 09 tháng tù đến 02 năm tù.

Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị HĐXX căn cứ các Điều 274, 275 Bộ luật dân sự, buộc bị cáo Nguyễn Đức D phải trả lại ông Hứa Văn Đ số tiền 3.500.000đ (Ba triệu năm trăm nghìn đồng).

Ngoài ra còn đề nghị xử lý vật chứng.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác;

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của người bị hại; Người làm chứng; Biên bản khám nghiệm hiện trường, vật chứng của vụ án và các tài liệu, chứng cứ khác được thẩm tra tại phiên tòa. Trên cơ sở đó đã xác định được:

Do mục đích tư lợi cá nhân, nên ngày 09/9/2023 bị cáo Nguyễn Đức D đã mượn xe mô tô hiệu Yamaha, loại Sirius màu đỏ đen, biển số 93P1-84284 trị giá 6.750.000đ (Sáu triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng) của ông Vũ Minh T. Sau khi mượn xe thì bị cáo nảy sinh ý định chiếm đoạt xe của ông T nên D đã mang xe đi cầm cố lấy tiền sử dụng vào mục đích cá nhân; Ngày 21/10/2023, sau khi được giao xe mô tô hiệu Honda, loại Wave alpha, màu đen bạc, biển số 93P2 - 849.07 có trị giá 13.370.000 đ (Mười ba triệu ba trăm bảy mươi triệu đồng) từ ông Nguyễn Quốc B, bị cáo D đã mang xe đi cầm cố để lấy tiền sử dụng hết vào mục đích cá nhân dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản cho ông B; Ngày 27/10/2023, lợi dụng nhà anh trai của mình là ông Nguyễn Đức H không có ai trông coi, D đã có hành vi đột nhập vào trong nhà lén lút chiếm đoạt 01 ti vi hiệu LG, màu đen, loại 43 inch trị giá 4.800.000đ (Bốn triệu tám trăm nghìn đồng); Ngày 31/10/2023, D và Mô Ha M tiếp tục có hành vi đột nhập vào trong nhà của ông Nguyễn Đức H lén lút chiếm đoạt 01 bình lọc nước đa chức năng hiệu Aquath màu đen, 01 máy giặt (máy đứng hiệu Panasonic) màu xám đen; 01 bếp gas mini nhãn hiệu Kiwa màu đen có dây nối màu đỏ và 01 bình gas lớn nhãn hiệu V-gas có chữ 14,4 màu đỏ trọng lượng 12 kg; 01 nồi cơm điện hiệu Kangarooo, màu đen; 01 máy Ipad màu trắng bạc có tổng trị giá 11.530.000đ (Mười một triệu năm trăm ba mươi nghìn đồng). Ngoài ra, ngày 01/11/2023, Nguyễn Đức D còn có hành vi tàng trữ trái phép 1,9456 gam chất ma túy loại Methamphetamine bên trong túi quần đang mặc nhằm mục đích sử dụng thì bị bắt quả tang.

Hành vi của bị cáo Nguyễn Đức D thực hiện đã phạm vào các tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” quy định tại điểm b khoản 1 Điều 175 Bộ luật hình sự; “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự; “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Hành vi của bị cáo Mô Ha M thực hiện đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Do đó, bản Cáo trạng số 37/CT-VKSPR ngày 26 tháng 4 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Riềng, tỉnh Bình Phước đã truy tố các bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của các bị cáo đã thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người bị hại, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an tại địa phương và hoang mang trong quần chúng nhân dân. Ngoài ra, bị cáo Nguyễn Đức D còn có hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý, xâm phạm đến sự quản lý độc quyền của nhà nước về chất ma tuý. Các bị cáo đều là những đối tượng có nhân thân rất xấu, đều nhiều lần bị xét xử về hành vi trộm cắp tài sản. Bị cáo D là đối tượng nghiện ma tuý, nhiều lần bị đưa đi cai nghiện bắt buộc. Vì vậy, cần xử phạt các bị cáo nghiêm để giáo dục riêng đối với các bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.

Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

* Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

- Bị cáo Nguyễn Đức D:

+ Ngày 08/9/2023, bị cáo mượn xe của ông Vũ Minh T trị giá 6.750.000 đồng; ngày 21/10/2023, bị cáo mượn xe của ông Nguyễn Quốc B trị giá 13.370.000 đồng, bị cáo đã mang cả 02 chiếc xe đi cầm cố lấy tiền chi tiêu cá nhân. Do đó bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng “Phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự đối với tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”;

+ Ngày 27/10/2023, bị cáo thực hiện hành vi trộm cắp tài sản trị giá 4.800.000 đồng của ông Nguyễn Đức H; Ngày 31/10/2023, bị cáo cùng với Mô Ha M thực hiện hành vi trộm cắp tài sản trị giá 11.530.000 đồng của ông Nguyễn Đức H. Do đó bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng “Phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự đối với tội “Trộm cắp tài sản”.

- Bị cáo Mô Ha M: Ngày 15/6/2022, bị Toà án nhân dân huyện Phú Riềng, tỉnh Bình Phước xử phạt 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 35/2022/HSST. Ngày 31/10/2023, bị cáo cùng với Nguyễn Đức D thực hiện hành vi trộm cắp tài sản trị giá 11.530.000 đồng của ông Nguyễn Đức H. Do đó bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự đối với tội “Trộm cắp tài sản”.

* Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo D đã tác động anh trai là Nguyễn Đức H bồi thường tiền cho người bị hại và bị cáo D còn được người bị hại đề nghị xin bãi nại nên bị cáo D được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo D đều thành khẩn khai báo nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với cả 3 tội. Bị cáo M thành khẩn khai báo; bị cáo ra đầu thú nên bị cáo M được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xét thấy, các bị cáo đều là những đối tượng nghiện ma tuý và có nhân thân xấu nên cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.

Trong vụ án Trộm cắp tài sản, Hội đồng xét xử xác định đây là vụ án đồng phạm giản đơn vì các bị cáo không có sự bàn bạc, phân công nhau và chuẩn bị công cụ, phương tiện phạm tội từ trước. Trong vụ án này bị cáo D có vai trò cao hơn bị cáo M vì bị cáo D là người rủ rê bị cáo M cùng trộm cắp tài sản, là người trực tiếp thuê xe chở tài sản trộm cắp đi tìm nơi tiêu thụ. Tuy nhiên cả 2 bị cáo đều phải chịu hình phạt ngang nhau vì bị cáo D phạm tội với tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội từ 02 lần trở lên”; Bị cáo M phạm tội với tình tiết tăng nặng “Tái phạm” và bị cáo M đã bị xét xử nhiều lần về tội “Trộm cắp tài sản”.

Hội đồng xét xử xét thấy đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về mức hình phạt đối với các bị cáo là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo nên không được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4]. Về hình phạt bổ sung: Xét các bị cáo đều là những đối tượng nghiện ma tuý, không có việc làm ổn định nên không áp dụng hình phạt tiền đối với các bị cáo.

Về xử lý vật chứng:

- Đối với 01 xe ô tô hiệu Toyota, loại Innova, BSKS: 93A - 097.25 thu giữ của ông Nguyễn Văn H. Quá trình điều tra xác định đây là tài sản đứng tên chủ sở hữu hợp pháp ông Nguyễn Văn H. Ông H không biết D thuê xe ô tô của mình để chở các tài sản trộm cắp mà có. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại xe cho ông H là đúng quy định pháp luật.

- Đối với 01 ti vi hiệu LG, màu đen, loại 43 inch; 01 bình lọc nước đa chức năng hiệu Aquath, màu đen; 01 máy giặt (máy đứng hiệu Panasonic) màu xám đen;01 bếp gas mini nhãn hiệu Kiwa màu đencó dây nối màu đỏ và 01 bình gas lớn nhãn hiệu V-gas, có chữ 14,4, màu đỏ, trọng lượng 12 kg; 01 nồi cơm điện hiệu Kangarooo, màu đen; 01 máy Ipad, màu trắng bạc; 01 con dao bằng kim loại màu trắng, cán dao bọc nhựa màu đen, dao dài 30,2cm, lưỡi dao dài 17,5cm, bản rộng 8,3cm, dày 0,3cm, dao có 01 lưỡi sắc, không có mũi nhọn, trên dao có chữ “Delites” là những tài sản hợp pháp của ông Nguyễn Đức H. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho ông H theo đúng quy định.

- Đối với 1,5451 gam ma túy loại Methamphetamine được Hn lại sau giám định. Đây là vật chứng vụ án thuộc loại nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu huỷ.

- Đối với 01 điện thoại di động hiệu Samsung, loại Galaxy 10S, màu xanh dương, màn hình phía trước bên phải bị rạn, vỡ mặt kính. Quá trình điều tra xác định đây là tài sản của D, D sử dụng để liên lạc thuê xe của ông H chở tài sản trộm cắp được và liên lạc cho L nhờ L cầm cố xe mô tô chiếm đoạt của ông B. Bị cáo D sử dụng điện thoại để phục vụ mục đích tiêu thụ các tài sản chiếm đoạt được của người bị hại nên cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.

Về trách nhiệm dân sự:

Ông Nguyễn Đức H (anh trai của bị cáo D) đã tự nguyện bồi thường cho ông Nguyễn Quốc B số tiền 6.000.000 đồng, bồi thường cho ông Vũ Minh T số tiền 10.000.000 đồng, ông B và ông T không có yêu cầu bồi thường gì thêm. Trong quá trình điều tra, ông H đều không yêu cầu bị cáo D trả lại số tiền này nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Bà Phan Thị H cho bị cáo D mượn số tiền 1.000.000 đồng để D trả tiền thuê xe. Quá trình điều tra, bà H có lời khai không yêu cầu bị cáo D trả lại tiền nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Ông Hứa Văn Đ yêu cầu bị cáo D trả lại số tiền 3.500.000 đồng. Quá trình điều tra, bị cáo D đồng ý bồi thường nhưng hiện nay chưa thực hiện việc bồi thường. Do đó cần buộc bị cáo D trả lại số tiền 3.500.000 đồng cho ông Đ.

Đối với bà Ngũ Thị L, sau khi được bị cáo D nhờ cầm cố xe mô tô hiệu Honda, loại Wave alpha, màu đen bạc, BKS: 93P2 - 849.07 của ông B, L đã liên lạc gọi Chính và H đến để cầm cố xe. Quá trình điều tra xác định L không biết xe mô tô mà D nhờ cầm cố trên do phạm tội mà có nên không có căn cứ xử lý.

Đối với ông Nguyễn Văn H, khi được D liên lạc và thuê xe ô tô để chở các tài sản mà D và Mô Ha M trộm cắp được đến nhà nghỉ Thiên An Bình thì ông H không biết những tài sản đó do phạm tội mà có nên không có căn cứ xử lý.

Đối với bà Phan Thị H là chủ nhà nghỉ Thiên An Bình đã cho D gửi các tài sản tại nhà nghỉ, bà Hòa không biết những tài sản đó do phạm tội mà có nên không có căn cứ xử lý.

Đối với Nguyễn Công D và Hứa Văn Đ là người D đến để bán tivi, qua làm việc những người này đều không biết tài sản do phạm tội mà có nên không có căn cứ xử lý.

Đối với Chinh và H là người đã đến cầm cổ xe mô tô cho D, quá trình điều tra chưa xác định được nhân thân lai lịch của Chinh và H nên Cơ quan CSĐT chưa làm việc được. Do đó, Cơ quan điều tra đã tách riêng để tiếp tục điều tra, xác minh xử lý sau nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Đối với Hiếu sử dụng số điện thoại 0977.372.939 là người được D nhờ đi chuộc xe cho B, Cơ quan CSĐT đã làm văn bản cho tổng công ty Viettel để xác định chủ sở hữu nhưng chưa có kết quả. Do đó, Cơ quan điều tra đã tách riêng để tiếp tục điều tra, xác minh xử lý sau nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Đối với ông Nguyễn Văn Cường, SN: 1993, KHTT: ấp Cầu 2, xã Đồng Tiến, huyện Đồng Phú là người bị cáo D khai đã cầm cố chiếc xe mô tô hiệu Yamaha, loại Sirius màu đỏ đen BKS 93P1-842.84 của ông Vũ Minh T cho Cường để lấy số tiền 4.000.000 đồng rồi tiêu xài cá nhân hết. Tuy nhiên, qua đối chất thì Cường không thừa nhận hành vi trên nên Cơ quan điều tra đã tách riêng để tiếp tục điều tra, xác minh xử lý sau nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Đối với đối tượng tên H (chưa xác định nhân thân, lai lịch) là người bán ma tuý cho D tại thành phố Đồng Xoài, qua làm việc thì D không xác định được nhân thân của H nên Cơ quan điều tra đã tách riêng để tiếp tục điều tra, xác minh xử lý sau nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[9]. Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật. Bị cáo D còn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức D phạm các tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”, “Trộm cắp tài sản” và “Tàng trữ trái phép chát ma tuý”; Bị cáo Mô Ha M phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng: Điểm b khoản 1 Điều 175; điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 50; Điều 38 Bộ luật hình sự:

Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức D 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiểm đoạt tài sản;

Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 58; Điều 50; Điều 38 Bộ luật hình sự:

Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức D 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 38 Bộ luật hình sự:

Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức D 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Áp dụng Điều 55 Bộ luật hình sự: Tổng hợp hình phạt chung của cả 03 tội, buộc bị cáo Nguyễn Đức D phải chấp hành hình phạt 05 (năm) 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 01/11/2023.

Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 58; Điều 50; Điều 38 Bộ luật hình sự:

Xử phạt bị cáo Mô Ha M 01(một) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 01/11/2023.

2. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng các Điều 274, 275 Bộ luật dân sự: Buộc bị cáo Nguyễn Đức D phải trả lại ông Hứa Văn Đ số tiền 3.500.000đ (Ba triệu năm trăm nghìn đồng).

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và ông Đ có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bị cáo D chưa thực hiện nghĩa vụ trả tiền nêu trên thì còn phải chịu thêm khoản tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

3. Về xử lý vật chứng:

Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu, tiêu hủy 1,5451 gam ma túy loại Methamphetamine được Hn lại sau giám định. Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Samsung, loại Galaxy 10S màu xanh dương, phía trước màn hình bị vỡ mặt kính.

(Theo Biên bản giao nhận vật chứng số 0011954 ngày 03/5/2024 giữa Công an huyện Phú Riềng và Chi cục thi hành án dân sự huyện Phú Riềng).

4. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết về án phí, lệ phí: Buộc bị cáo Nguyễn Đức D phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Bị cáo Mô Ha M phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Những người bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ