vanban.org

Bản án 49/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu Tuyên án 31/05/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Tòng Văn G, Lò Văn Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

[2] Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Tòng Văn G 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù. Khấu trừ thời gian tạm giữ bị cáo G là 09 ngày, bị cáo còn phải chấp hành tiếp 01 (Một) năm 05 (Năm) tháng 21 ngày tù, thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày bị cáo vào trại chấp hành hình phạt. Xử phạt bị cáo Lò Văn Q 01… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "TÒNG VĂN G VÀ LÒ VĂN Q - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? [1] Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Tòng Văn G, Lò Văn Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tuyên tịch thu; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
TAND HUYỆN TÂN UYÊN
TỈNH LAI CHÂU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 49/2023/HS-ST
Ngày: 31/5/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN UYÊN, TỈNH LAI CHÂU

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lương Văn Thanh.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Triệu Phúc Vượng và ông Nguyễn Hữu Thức.

Thư ký phiên toà: Ông Lương Văn Đoàn - Thư ký Toà án nhân dân huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 5 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 49/2023/TLST-HS ngày 05 tháng 5 năm 2023 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 51/2023/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 5 năm 2023 đối với các bị cáo.

1. Họ và tên: Tòng Văn G. Tên gọi khác: Không. Giới tính: Nam. Ngày, tháng, năm sinh: 01/01/1990. Nơi sinh: huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu. Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Bản Hua Pầu, thị trấn Tân Uyên, huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Thái. Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ học vấn: 8/12. Chức vụ trước khi phạm tội (Đảng, chính quyền, đoàn thể): Không. Con ông: Tòng Văn U, sinh năm 1942. Con bà: Hoàng Thị N, sinh năm 1945. Hiện nay bố mẹ của bị cáo đang cư trú tại bản Hua Pầu, thị trấn Tân Uyên, huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu. Anh, chị, em ruột: Gia đình bị cáo có 06 anh, chị, em, bị cáo là con thứ sáu trong gia đình. Vợ: Lò Thị D, sinh năm 1997. Con: Bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 2017, con nhỏ sinh năm 2018. Hiện vợ và các con của bị cáo đang cư trú tại bản Hua Pầu, thị trấn Tân Uyên, huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu. Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo Tòng Văn G bị bắt, tạm giữ từ ngày 11/01/2023, đến ngày 17/01/2023 bị cáo được áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú tại thị trấn Tân Uyên, huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu cho đến nay (Có mặt).

2. Họ và tên: Lò Văn Q. Tên gọi khác: Không. Giới tính: Nam. Ngày, tháng, năm sinh: 15/10/1997; Nơi sinh: huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu. Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Bản Tân Muôn, thị trấn Tân Uyên, huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Khơ Mú. Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ học vấn: 0/12 (bị cáo biết đọc và viết tiếng phổ thông). Chức vụ trước khi phạm tội (Đảng, chính quyền, đoàn thể): Không. Con ông: Lò Văn N, sinh năm 1974. Con bà: Lò Thị P, sinh năm 1975, hiện nay bố mẹ bị cáo đang cư trú tại bản Tân Muôn, thị trấn Tân Uyên, huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu . Anh, chị, em ruột: Gia đình bị cáo có 03 anh, chị, em, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình. Vợ, con: Chưa có. Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo Lò Văn Q bị bắt, tạm giữ từ ngày 11/01/2023, đến ngày 17/01/2023 bị cáo được áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú tại thị trấn Tân Uyên, huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu cho đến nay (Có mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Lò Thị D, sinh năm 1997, địa chỉ bản Hua Pầu, thị trấn Tân Uyên, huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu. (Có mặt).

2. Tòng Văn T, sinh năm 1986, địa chỉ bản Hua Pầu, thị trấn Tân Uyên, huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu. (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 09 giờ ngày 11/01/2023, Tòng Văn G điều khiển chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại xe BLADE, màu sơn đen, BKS: 25B1-680.57 của gia đình đi từ nhà với mục đích đi tìm mua Heroin để sử dụng. Khi G điều khiển xe đi được một đoạn thì gặp anh trai của G tên là Tòng Văn T, sinh năm 1986, trú cùng bản và Tem xin đi nhờ xe đến bản Hoàng Liên, thị trấn Tân Uyên để lấy đôi giày do T để quên trước đó ở nhà một người quen nên G đồng ý, trên đường đi G không nói cho Tem biết mục đích G đi tìm mua Heroin để sử dụng. Khi G điều khiển xe chở T đến bản Hoàng Liên thì gặp Lò Văn Q, sinh năm 1997, trú tại bản Tân Muôn, thị trấn Tân Uyên đang ngồi ở ngoài đường, lúc này G tiếp tục điều khiển xe đi qua Q khoảng 02 mét thì dừng xe lại. Khi G dừng xe thì Tem xuống xe đi dạo xung quanh, còn G ở lại ngồi trên xe và hỏi Q có biết chỗ nào bán Heroin không, thì Q trả lời có, nghe Q nói vậy thì G nói Q đi cùng để mua Heroin thì Q đồng ý, sau đó G điều khiển xe chở Q ngồi phía sau để đi mua Heroin. Lúc này, T thấy G điều khiển xe chở Q đi đâu đó nên Tem tự đi bộ lấy đôi giày rồi về. G điều khiển xe chở Q đi đến khu vực đồi chè thuộc Tổ dân phố 3, thị trấn Tân Uyên thì dừng xe lại rồi đưa cho Q số tiền 100.000 đồng để mua Heroin mục đích cùng nhau sử dụng, Q cầm lấy tiền rồi đi vào bên trong đồi chè. Tại đây Q gặp một người đàn ông không rõ nhân thân lai lịch và hỏi có Heroin bán không, thì người đàn ông trả lời có và hỏi mua bao nhiêu, thì Q trả lời mua 200.000 đồng và đưa tiền cho người đàn ông, người đàn ông cầm lấy tiền rồi đưa cho Q 01 gói Heroin được gói ngoài bằng mảnh giấy bạc màu trắng, sau khi mua được Heroin thì Q cầm trên tay phải rồi đi bộ quay lại chỗ G đang đứng đợi. Khi gặp nhau, G hỏi Q mua được Heroin chưa, thì Q trả lời mua được rồi đồng thời đưa gói Heroin vừa mua được cho G xem, G cầm lấy gói Heroin xem rồi đưa lại cho Q, sau đó Q cầm trên tay phải rồi ngồi phía sau xe G điều khiển đi về. Trên đường về Q đặt gói Heroin trên yên xe giữa vị trí Q và G ngồi. Trước đó, giữa G và Q không trao đổi, thống nhất với nhau về việc góp tiền để mua chung Heroin cùng nhau sử dụng, mục đích của G là đưa tiền cho Q đi mua Heroin để cùng nhau sử dụng, và việc Q có góp tiền hay không thì G không quan tâm và để mặc cho sự việc xảy ra.

Hồi 10 giờ 30 phút cùng ngày, khi G điều khiển xe chở Q đi về được khoảng 200 mét thì gặp tổ công tác Công an thị trấn Tân Uyên đang làm nhiệm vụ tại Tổ dân phố 3, thị trấn Tân Uyên yêu cầu dừng xe kiểm tra. Quá trình kiểm tra, tổ công tác đã phát hiện bắt quả tang Tòng Văn G và Lò Văn Q đang tàng trữ trái phép 01 gói Heroin được gói ngoài bằng mảnh giấy bạc màu trắng, có khối lượng 0,17 gam trên yên xe giữa vị trí Q và G ngồi với mục đích để sử dụng.

Ngày 11/01/2023, Cơ quan CSĐT Công an huyện Tân Uyên đã thành lập hội đồng mở niêm phong, xác định khối lượng, lấy mẫu vật giám định và niêm phong vật chứng. Tại bản kết luận giám định số 09/KL-TCGĐ ngày 11/01/2023 của người giám định tư pháp theo vụ việc thuộc Công an huyện Tân Uyên kết luận: Vật chứng nghi là chất ma túy thu giữ của Lò Văn Q và Tòng Văn G có khối lượng 0,17 gam (không phẩy mười bảy gam). Cùng ngày, Cơ quan CSĐT Công an huyện Tân Uyên đã trích 0,08 gam chất bột, màu trắng thu giữ của Lò Văn Q và Tòng Văn G để gửi giám định.

Tại bản kết luận giám định số 96/KL-KTHS, ngày 13/01/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lai Châu, kết luận: 01 (một) mẫu chất bột, màu trắng gửi giám định là ma túy: Loại Heroin.

Tại bản cáo trạng số: 29/CT-VKS-TU, ngày 04/5/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu truy tố các bị cáo Tòng Văn G và Lò Văn Q về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về kết luận điều tra và bản cáo trạng nêu trên.

Tại phiên tòa vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Uyên giữ nguyên quan điểm truy tố đồng thời phân tích, đánh giá toàn bộ hành vi phạm tội của các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Tòng Văn G và Lò Văn Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt: Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249; Điều 38; Điều 17; Điều 58; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự,

Xử phạt bị cáo Tòng Văn G từ 01 năm 04 tháng đến 01 năm 08 tháng tù. Khấu trừ thời gian tạm giữ là 09 ngày.

Xử phạt bị cáo Lò Văn Q từ 01 năm 02 tháng đến 01 năm 06 tháng tù. Khấu trừ thời gian tạm giữ là 09 ngày.

Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

Về xử lý vật chứng: - 01 (một) phong bì công văn của Công an huyện Tân Uyên phát hành bên trong đựng 0,09 gam Heroin, 01 mảnh giấy bạc màu trắng và được dán kín tại các mép của bì niêm phong bằng một mảnh giấy màu trắng và dùng băng dính màu trắng trong suốt dán đè lên giấy niêm phong. Trên giấy niêm phong có ghi: “Vật chứng thu giữ của Lò Văn Q; Sn: 1997 và Tòng Văn G; Sn: 1990 - Hành vi: Tàng trữ trái phép chất ma túy, xảy ra ngày 11/01/2023, tại Tổ dân phố 3, thị trấn Tân Uyên, huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu” (0,09 gam Heroin, 01 mảnh giấy bạc màu trắng); Có chữ ký ghi rõ họ tên của: Nguyễn Thế Đức, Nguyễn Thị Thu, Hoàng Văn Thành, Hảng A Chính, Lường Văn Hải, Lò Văn Q, Tòng Văn G và đóng 02 hình dấu tròn của Cơ quan CSĐT Công an huyện Tân Uyên: Đối với 0,09 gam Heroin còn lại sau khi trích gửi giám định: Đây là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tuyên tịch thu tiêu hủy; Đối với 01 mảnh giấy bạc màu trắng: Đây là vật mang dấu vết tội phạm (dụng cụ để gói Heroin), không có giá trị sử dụng. Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tuyên tịch thu tiêu hủy.

- 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại xe BLADE, màu sơn đen, BKS: 25B1-680.57, số máy: JA36E0808258, số khung: RLHJA3648KY036956, xe đã qua sử dụng không kiểm tra chất lượng bên trong thu giữ của bị cáo Tòng Văn G. Xác định đây là phương tiện dùng vào việc phạm tội, tuy nhiên tài sản này được hình thành trong thời kỳ hôn nhân giữa bị cáo và vợ của bị cáo là chị Lò Thị Danh, việc bị cáo sử dụng chiếc xe vào việc phạm tội thì vợ của bị cáo không biết. Vì vậy căn cứ Điều 33 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tuyên tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước nộp ½ giá trị của xe mô tô, ½ giá trị của xe mô tô trả lại cho chị Lò Thị D.

Các bị cáo Tòng Văn G, Lò Văn Q thừa nhận hành vi phạm tội của mình và không có ý kiến tranh luận gì với quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Uyên.

Tại lời nói sau cùng của các bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm trở về với gia đình và xin được trả lại chiếc xe mô tô.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Tân Uyên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Uyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, trong quá trình xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội:

Hồi 10 giờ 30 phút, ngày 11/01/2023, tại Tổ dân phố 3, thị trấn Tân Uyên, huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu, Tòng Văn G và Lò Văn Q đang tàng trữ trái phép 0,17 gam Heroin với mục đích để sử dụng thì bị phát hiện bắt quả tang.

Các bị cáo Tòng Văn G và Lò Văn Q là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, các bị cáo nhận thức được việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật. Hành vi đó của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, có tính chất nghiêm trọng, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý các chất ma tuý của Nhà nước, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Các bị cáo ý thức được điều đó nhưng vẫn cố ý tàng trữ trái phép chất ma túy. Như vậy, có đủ cơ sở để khẳng định hành vi của các bị cáo Tòng Văn G, Lò Văn Q đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Xét tính chất vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo: Vụ án có tính chất nghiêm trọng. Hành vi của các bị cáo không những làm mất trật tự an toàn xã hội trên địa bàn mà còn làm ảnh hưởng đến đời sống sức khỏe con người, làm gia tăng tệ nạn và các loại tội phạm khác, gây tâm lý hoang mang trong quần chúng nhân dân. Xét thấy, cần cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục riêng các bị cáo và đấu tranh phòng ngừa chung.

Trong vụ án này, bị cáo Tòng Văn G là người rủ rê khởi xướng nên phải chịu trách nhiệm là vai trò chính, đối với bị cáo Lò Văn Q là người tích cực thực hiện hành vi phạm tội nên phải chịu trách nhiệm hình sự tương ứng với hành vi mà bị cáo đã thực hiện trong tổng khối lượng chất ma túy mà các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự là 0,17 gam Heroin.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết

tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Đối với bị cáo Tòng Văn G có bố đẻ ông Tòng Văn Ùn được Nhà nước tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng nhì, đồng thời trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa các bị cáo đều thừa nhận hành vi phạm tội của mình, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, các bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội khó khăn, trình độ học vấn thấp nên nhận thức pháp luật có phần hạn chế, do vậy các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

Vì vậy, quan điểm xử lý trách nhiệm hình sự của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là hoàn toàn có cơ sở, đúng pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự các bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, xét thấy các bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, thu nhập thấp, khó khăn về kinh tế, không có tài sản riêng. Do đó Hội đồng xét xử quyết định miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

Về vật chứng vụ án gồm: 0,17 gam Heroin Cơ quan điều tra đã trích 0,08 gam để giám định, sau khi có kết luận giám định không hoàn lại mẫu vật nên Hội đồng xét xử không phải giải quyết. Hiện còn 0,09 gam Heroin, 01 mảnh giấy bạc màu trắng, Hội đồng xét xử xác định là vật Nhà nước cấm lưu hành, vật không có giá trị nên cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại xe BLADE, màu sơn đen, BKS: 25B1-680.57, số máy: JA36E0808258, số khung: RLHJA3648KY036956, xe đã qua sử dụng. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Uyên xác định đây là phương tiện dùng vào việc phạm tội, tuy nhiên tài sản này được hình thành trong thời kỳ hôn nhân giữa bị cáo và vợ của bị cáo là chị Lò Thị D, việc bị cáo sử dụng vào việc phạm tội thì vợ của bị cáo không biết. Vì vậy căn cứ Điều 33 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tuyên tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước nộp ½ giá trị của xe mô tô, ½ giá trị của xe mô tô trả lại cho chị Lò Thị D. Hội đồng xét xử xác định bị cáo Tòng Văn G sử dụng chiếc xe mô tô trên vào việc phạm tội nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước toàn bộ giá trị của chiếc xe, do vậy quan điểm về xử lý vật chứng đối với chiếc xe mô tô thu giữ của bị cáo Tòng Văn G của đại diện Viện kiểm sát không được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Những vấn đề có liên quan: Về nguồn gốc số Heroin bị thu giữ, bị cáo Lò Văn Q khai mua của một người đàn ông không rõ nhân thân lai lịch tại khu vực đồi chè thuộc Tổ dân phố 3, thị trấn Tân Uyên, huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu. Quá trình điều tra không xác định được nên không có căn cứ để điều tra xử lý.

Bị cáo Lò Văn Q khai trong tổng số tiền 200.000 đồng Q dùng để mua Heroin thì có 100.000 đồng là tiền do Tòng Văn Tem, sinh năm 1986, trú tại bản Hua Pầu, thị trấn Tân Uyên, huyện Tân Uyên đưa cho Q để nhờ mua Heroin. Quá trình điều tra đã tiến hành lấy lời khai đối với Tòng Văn Tem, đồng thời tiến hành đối chất giữa Lò Văn Q và Tòng Văn Tem, tuy nhiên Tòng Văn Tem khai không đưa tiền cho Q để nhờ mua hộ Heroin. Ngoài lời khai duy nhất của Q thì không có tài liệu, chứng cứ nào khác chứng minh Tem đưa tiền cho Q để mua hộ Heroin, vì vậy không có căn cứ xử lý đối với Tòng Văn Tem và Lò Văn Q phải chịu trách nhiệm trong trường hợp này.

Về án phí: Bị cáo Tòng Văn G là hộ cận nghèo 2023 do đó bị cáo được miễn án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Đối với bị cáo Lò Văn Q phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 47; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự; Điều 106; Khoản 2 Điều 135; Khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[1] Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Tòng Văn G, Lò Văn Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

[2] Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Tòng Văn G 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù. Khấu trừ thời gian tạm giữ bị cáo G là 09 ngày, bị cáo còn phải chấp hành tiếp 01 (Một) năm 05 (Năm) tháng 21 ngày tù, thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày bị cáo vào trại chấp hành hình phạt.

Xử phạt bị cáo Lò Văn Q 01 (Một) năm 04 (Bốn) tháng tù. Khấu trừ thời gian tạm giữ bị cáo Q là 09 ngày, bị cáo còn phải chấp hành tiếp 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng 21 (Hai mươi mốt) ngày tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị cáo vào trại chấp hành hình phạt.

Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

[3] Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 bì thư của Công an huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu, bên trong đựng 0,09 gam Heroin, 01 mảnh giấy bạc màu trắng.

Tịch thu thanh lý sung quỹ Nhà nước 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại xe BLADE, màu sơn đen, BKS: 25B1-680.57, số máy: JA36E0808258, số khung: RLHJA3648KY036956.

(Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng vào hồi 09 giờ 25 phút, ngày 24 tháng 5 năm 2023 giữa cơ quan CSĐT – Công an huyện Tân Uyên và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Uyên).

[4] Về án phí: Miễn án phí Hình sự sơ thẩm cho bị cáo Tòng Văn G.

Bị cáo Lò Văn Q phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

[5] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân cấp trên trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ