vanban.org

Bản án 49/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn Tuyên án 23/06/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

về tội danh: Tuyên bố bị cáo Du Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

về hình phạt: Xử phạt bị cáo Du Văn H 06 (sáu) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 07/3/2023. Phạt bổ sung 5.000.000 đồng. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "tàng trữ ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? về tội danh: Tuyên bố bị cáo Du Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HỮU LŨNG
’
TỈNH LẠNG SƠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 49/2023/HS-ST
Ngày 23-6-2023

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỮU LŨNG, TỈNH LẠNG SƠN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Ngô Thảo Nguyên

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trương Thị Khung

Ông Nguyễn Thế Độ

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Đạt - Thư ký Tòa án nhân dân huyện hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên toà: Ông Phạm Văn Tiến - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 6 năm 2023 tại Trường Trung học phổ thông Tân Thành, huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 46/2023/TLST-HS, ngày 31 tháng 5 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 43/2023/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 6 năm 2023 đối với bị cáo:

Du Văn H (tên gọi khác: Không có), sinh ngày 01 tháng 01 năm 1975 tại huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang.

Nơi cư trú: Thôn C, xã HS, huyện LG, tỉnh BG; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 05/12; dân tộc: Nùng; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Du Lịch H1, sinh năm 1942 và bà Vũ Thị Th, sinh năm 1950; vợ, con: Có vợ và 02 con; tiền án: Ngày 14/6/2001, Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xử phạt 15 tháng tù giam về tội cố ý gây thương tích tại bản án số 54/HSPT, đến nay chưa thi hành xong khoản tiền bồi thường cho bị hại 4.571.000 đồng; Ngày 28/7/2014, Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang xử phạt 02 năm 08 tháng tù giam về tội tàng trữ trái phép chất ma túy tại bản án số 144/HSST, chưa chấp hành xong khoản tiền án phí hình sự sơ thẩm và tiền phạt bổ sung; tiền sự: Không có; nhân thân: bị cáo có nhân thân xấu; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Hữu Lũng từ ngày 07/3/2023 đến nay. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Du Văn H là đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy. Khoảng 13 giờ ngày 07/3/2023, H đến khu vực ngã tư thị trấn Kép, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang tìm mua ma túy. Tại đây H gặp một người đàn ông không quen biết hỏi và mua 1.000.000 đồng được 15 đoạn ống hút nhựa hàn kín hai đầu, bên trong đựng ma túy Heroin. Sau khi mua được ma túy, H cho vào trong vỏ túi nhựa đựng xi lanh rồi cất vào trong túi quần phía trước bên trái đang mặc và đi về nhà. Khoảng 14 giờ cùng ngày, H điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 98M8-3542 đem theo số ma túy trên đi từ nhà thuộc Thôn C, xã HS, huyện LG, tỉnh BG đến thôn Gốc Me, xã Đồng Tân, huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn, khi đi đến trạm thu phí BOT thuộc thôn Đồn Vang, xã Minh Sơn, huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn thì bị lực lượng Công an huyện Hữu Lũng phát hiện, bắt quả tang và thu giữ: 01 túi đựng xi lanh, kích thước (9,5 x 4,5)cm miệng hở, bên trong chứa 15 đoạn ống hút nhựa đều có kích thước (1,5 x 01)cm, đều hàn kín hai đầu, trong đó có 03 đoạn ống hút nhựa màu hồng, 12 đoạn ống hút nhựa màu đỏ, bên trong đều đựng chất cục bột màu trắng; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA Wave, màu sơn đỏ, biển kiểm soát 98M83542.

Cùng ngày Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra Lệnh khám xét khẩn cấp chỗ ở của Du Văn H, quá trình khám xét đã tạm giữ: 01 xi lanh loại 03ml/cc đã qua sử dụng; 01đoạn ống hút nhựa hàn kín hai đầu, màu tím, kích thước (01x01)cm, bên trong đựng chất cục bột màu trắng.

Tại bản kết luận giám định số 334/KL-KTHS ngày 09/3/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lạng Sơn kết luận: Chất cục bột màu trắng thu giữ của Du Văn H khi bắt quả tang đều là chất ma túy Heroin, có tổng khối lượng 0,418 gam (đã trừ bì); chất cục bột màu trắng thu giữ của Du Văn H khi khám xét khẩn cấp là chất ma túy Heroin, có khối lượng 0,023 gam (đã trừ bì).

Kết quả xét nghiệm ngày 07/3/2023 đối với Du Văn H có kết quả dương tính với chất ma túy.

Tại bản Cáo trạng số 47/CT-VKS ngày 15 tháng 5 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn đã truy tố bị cáo Du Văn H về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Du Văn H thừa nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng đã truy tố. Đai diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Du Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt: Căn cứ điểm o khoản 2, khoản 5 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 50 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Du Văn H từ 05 năm 06 tháng tù đến 06 năm tù. Phạt bổ sung bị cáo từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng.

về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Đề nghị: Tịch thu tiêu hủy: Toàn bộ chất ma túy là mẫu vật hoàn lại sau giám định đựng trong 02 phong bì niêm phong, 01 xi lanh loại 03ml/cc, 01 vỏ túi đựng xi lanh; trả lại cho bị cáo 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA Wave, màu sơn đỏ, biển kiểm soát 98M8-3542.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận. Lời nói sau cùng bị cáo Du Văn H đã biết hành vi của mình là sai và xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa không có ai có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử thực hiện đều hợp pháp.

Về trách nhiệm hình sự: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang; phù hợp với Kết luận giám định và các chứng cứ tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Do vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Bị cáo Du Văn H là đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy. Ngày 07/3/2023 bị cáo đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,441 gam ma túy Heroin. Bị cáo Du Văn H đã tái phạm, chưa được xóa án tích lại thực hiện hành vi phạm tội do lỗi cố ý nên lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm. Với hành vi trên, việc truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật. Vì vậy, có đủ cơ sở kết luận bị cáo Du Văn H phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm o khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự

Về tính chất hành vi phạm tội: Hành vi của bị cáo là rất nghiêm trọng, gây nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến chính sách độc quyền quản lý Nhà nước về chất ma túy, xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội. Đây là nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm và tệ nạn khác, ảnh hưởng xấu đến nhiều mặt của đời sống xã hội. Bị cáo đều là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, hoàn toàn nhận thức được hành vi của mình bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Trên cơ sở đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử sẽ quyết định mức hình phạt tương xứng, bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật và có tác dụng răn đe, phòng ngừa chung

Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Du Văn H đã hai lần bị xét xử về tội cố ý gây thương tích và tàng trữ trái phép chất ma túy và chưa được xóa án tích nên xác định bị cáo có nhân thân xấu, việc tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội thể hiện bị cáo là người thiếu tu dưỡng bản thân và coi thường pháp luật. Quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo có bố đẻ được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng nhì, có mẹ đẻ được cấp giấy chứng nhận tham gia dân công hỏa tuyến. Đây là các hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự được Hội đồng xét xử xem xét khi quyết định hình phạt. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận có tài sản riêng nên cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Đối với chất ma túy là mẫu vật hoàn lại sau giám định đựng trong phong bì niêm phong là vật cấm tàng trữ, lưu hành, 01 xi lanh loại 03ml/cc đã qua sử dụng và 01 vỏ túi đựng xi lanh là vật không có giá trị nên cần tịch thu tiêu hủy; đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA Wave, màu sơn đỏ, biển kiểm soát 98M8-3542 cần trả lại cho bị cáo.

Về đối tượng liên quan đến việc bán chất ma túy cho bị cáo: Bị cáo Du Văn H khai nguồn gốc số ma túy là mua của một người đàn ông không quen biết tại ngã tư thị trấn Kép, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang. Tuy nhiên, bị cáo không cung cấp được thông tin cụ thể về nhân thân, lai lịch, địa chỉ của đối tượng bán ma túy cho bị cáo. Do đó, không có căn cứ để điều tra, xác minh và xử lý đối tượng nói trên trong vụ án này.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội đã xảy ra, đúng với các quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng sung công quỹ nhà nước, theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Bị cáo có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn luật định theo quy định tại Điều 331, khoản 1 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm o khoản 2, khoản 5 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50; điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106; Điều 331; khoản 1 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

1. về tội danh: Tuyên bố bị cáo Du Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. về hình phạt: Xử phạt bị cáo Du Văn H 06 (sáu) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 07/3/2023.

Phạt bổ sung 5.000.000 đồng.

3. Về xử lý vật chứng

- Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì thư dán kín, trong đựng mẫu vật hoàn lại sau giám định, bên ngoài có chữ ký cùng tên của các thành phần tham gia niêm phong, của giám định viên, cán bộ giám định và hình dấu tròn đỏ của Công an xã Minh Sơn, huyện Hữu Lũng, Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Lạng Sơn; 01 phong bì thư dán kín, trong đựng mẫu vật hoàn lại sau giám định, bên ngoài có chữ ký cùng tên của các thành phần tham gia niêm phong, của giám định viên, cán bộ giám định và hình dấu tròn đỏ của Công an xã Hương Sơn, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang, Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Lạng Sơn; 01 xi lanh loại 03ml/cc đã qua sử dụng; 01 vỏ túi đựng xi lanh.

- Trả lại bị cáo Du Văn H 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA Wave, màu sơn đỏ, biển kiểm soát 98M8-3542.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an huyện Hữu Lũng và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hữu Lũng ngày 02/6/2023).

4. Về án phí: Buộc bị cáo Du Văn H phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm để sung quỹ Nhà nước.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ