vanban.org

Bản án 49/2023/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh An Giang Tuyên án 12/05/2023 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 12/05/2023 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của bị cáo Nguyễn Tuấn E về việc xin được hưởng án treo;

Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu kháng cáo của bị cáo về việc xin nhận lại 50% giá trị chiếc vỏ lãi. Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 15/2023/HSST ngày 09/3/2023 của Tòa án nhân dân huyện An Phú. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Buôn bán hàng cấm - phạm tội sản xuất, buôn bán hàng cấm (điều 190 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của bị cáo Nguyễn Tuấn E về việc xin được hưởng án treo;
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự và xử phạt; Điều 342 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 190 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH AN GIANG
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 49/2023/HS-PT
Ngày 12 tháng 5 năm 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Thanh Tâm.

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Sơn, ông Nguyễn Phước Hưng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Ngọc Loan, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Phạm Huỳnh Ngọc Thi, Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 90/2023/TLPT-HS ngày 17 tháng 4 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 68/2023/QĐXXPT-HS ngày 26 tháng 4 năm 2023 đối với bị cáo Nguyễn Tuấn E do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 15/2023/HSST ngày 09 tháng 3 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang.

- Bị cáo có kháng cáo: Nguyễn Tuấn E, sinh năm 1973, tại huyện An Phú, tỉnh An Giang; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Ấp Vĩnh Thành, xã Vĩnh Trường, huyện An Phú, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa (học vấn): Không biết chữ; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật giáo Hòa Hảo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn L và bà Lê Thị L1, vợ là Phan Thị Kim C, có 02 con; tiền án: Không;

Tiền sự: Ngày 01/6/2021, bị Công an huyện An Phú, tỉnh An Giang xử phạt 4.000.000 đồng về hành vi “Buôn bán hàng cấm”, đã nộp phạt xong ngày 14/10/2022. Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

Người bào chữa cho bị cáo: Ông Trần Phước T– Trợ giúp viên pháp lý – Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh An Giang (có mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Văn S, sinh năm 1977; Nơi cư trú: Ấp Vĩnh Hòa, xã Vĩnh Hội Đông, huyện An Phú, tỉnh An Giang (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 10 giờ 40 phút ngày 30/6/2022, Đồn Biên phòng cửa khẩu Vĩnh Hội Đông thực hiện nhiệm vụ kiểm soát tại khu vực cầu tàu Trạm cửa khẩu thuộc ấp Vĩnh Hòa, xã Vĩnh Hội Đông thì phát hiện Nguyễn Tuấn E điều khiển vỏ lãi chở Nguyễn Văn S chạy từ hướng Campuchia về Việt Nam có biểu hiện nghi vấn nên dừng phương tiện kiểm tra. Qua kiểm tra, phát hiện bên trong bình phun thuốc trừ sâu và 01 bọc nylon màu đen trên vỏ lãi cất giấu 258 bao thuốc lá điếu nhập lậu (142 bao thuốc lá nhãn hiệu Hero, 116 bao thuốc lá nhãn hiệu Bayon) nên lực lượng tiến hành lập biên bản vi phạm hành chính đối với Nguyễn Tuấn E và tạm giữ tang vật, phương tiện có liên quan.

Quá trình điều tra xác định, sáng ngày 30/6/2022, S và Tuấn E bàn nhau lợi dụng việc sang Campuchia chăm sóc lúa rồi tìm mua thuốc lá điếu nhập lậu đem về Việt Nam bán lại kiếm lời. Sau đó, Tuấn E và S điều khiển vỏ lãi xuất cảnh bằng đường sông tại cửa khẩu Vĩnh Hội Đông để sang Campuchia chăm sóc lúa và S liên hệ qua điện thoại thỏa thuận mua 270 bao thuốc lá điếu (120 bao thuốc lá nhãn hiệu Bayon và 150 bao thuốc lá nhãn hiệu Hero) với một người phụ nữ tên Mọt (người Campuchia, không rõ nhân thân địa chỉ). Lát sau, Mọt mang 02 bọc nylon màu đen bên trong đựng thuốc lá đến giao cho Tuấn E và S. Tuấn E cất giấu các bao thuốc lá nhãn hiệu Bayon vào bên trong bình phun thuốc trừ sâu, S cất giấu bọc nylon đựng thuốc lá nhãn hiệu Hero vào phía sau vỏ lãi. Xong, cả hai điều khiển vỏ lãi về đến khu vực trạm cửa khẩu Vĩnh Hội Đông thì bị lực lượng kiểm tra và lập biên bản vi phạm.

Qua xác minh nhân thân của Nguyễn Tuấn E, vào ngày 01/6/2021, Tuấn E bị Công an huyện An Phú, tỉnh An Giang xử phạt 4.000.000 đồng về hành vi “Buôn bán hàng cấm”, đến ngày 14/10/2022 mới thực hiện nộp phạt.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 15/2023/HS-ST ngày 09 tháng 3 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện An Phú xử phạt bị cáo Nguyễn Tuấn E 01 (một) năm tù về tội “Buôn bán hàng cấm” theo quy định tại điểm e khoản 1 Điều 190 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ Sng năm 2017.

Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí hình sự sơ thẩm và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 15/3/2023, bị cáo Nguyễn Tuấn E có đơn kháng cáo xin được hưởng án treo hoặc giảm nhẹ một phần hình phạt, xin nhận lại 50% giá trị chiếc võ lãi.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo xin được hưởng án treo, xin giảm nhẹ hình phạt; rút lại yêu cầu kháng cáo xin nhận lại 50% giá trị chiếc vỏ lãi.

Người bào chữa cho bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận yêu cầu kháng cáo xin được hưởng án treo và xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang phát biểu quan điểm:

+ Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Tuấn E kháng cáo xin được hưởng án treo ngày 15/3/2023 là trong hạn luật định, về hình thức và nội dung kháng cáo phù hợp quy định pháp luật nên đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận việc kháng cáo để xem xét, giải quyết theo trình tự phúc thẩm.

+ Về nội dung: đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 1 Điều 155, điểm e khỏa 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự, chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của bị cáo Nguyễn Tuấn E, tuyên bố bị cáo Nguyễn Tuấn E phạm tội “Buôn bán hàng cấm”; đề nghị căn cứ điểm e khoản 1 Điều 190; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo 01 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 năm, giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã Vĩnh Trường, huyện An Phú, tỉnh An Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Lời khai của bị cáo Nguyễn Tuấn E tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp kết quả điều tra và diễn biến tại phiên tòa sơ thẩm: bị cáo thừa nhận vào sáng ngày 30/6/2022, cùng Nguyễn Văn S có hành vi vận chuyển thuốc lá điếu ngoại nhập lậu từ Campuchia về Việt Nam để bán lại kiếm lời, trong đó, số thuốc lá điếu của Nguyễn Tuấn E là 129 bao, của Nguyễn Văn S là 129 bao, trên đường vận chuyển thì bị lực lượng Bộ đội Biên phòng phát hiện, bắt giữ. Tuy số lượng thuộc lá điếu ngoại nhập lậu của Tuấn E chưa đủ định lượng truy cứu trách nhiệm hình sự nhưng do bị cáo đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi buôn bán hàng cấm theo quyết định số 0111969/QĐ-XPHC ngày 01/6/2021 của Trưởng Công an huyện An Phú, tính đến thời điểm bị cáo thực hiện hành vi mua bán 129 bao thuốc lá ngoại nhập lậu bị phát hiện, bị cáo chưa chấp hành việc nộp phạt và chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính. Do đó, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Buôn bán hàng cấm” theo quy định tại điểm e khoản 1 Điều 190 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ Sng năm 2017. Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo theo tội danh và khung hình phạt trên là có căn cứ, đúng pháp luật.

Xét kháng cáo của bị cáo về việc xin được giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo, thấy rằng, cấp sơ thẩm đã xem xét áp dụng cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, trình độ học vấn thấp, thành phần lao động nghèo, không biết chữ, thiếu hiểu biết pháp luật, là lao động chính trong gia đình, hoàn cảnh gia đình khó khăn (thuộc diện hộ nghèo), theo điểm s khoản 1 Điều 51 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự và xử phạt bị cáo 01 năm tù là mức khởi điểm của khung hình phạt. Bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo, tại phiên tòa bị cáo cung cấp phiếu hẹn khám bệnh thể hiện bị cáo đang bị bệnh phải điều trị,

Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, không có tình tiết tăng nặng, đã thật sự ăn năn hối cải, hoàn cảnh gia đình là hộ nghèo, bị cáo là lao động chính trong gia đình có nơi cư trú rõ ràng. Ngoài ra, tại phiên tòa, bị cáo cung cấp thêm tài liệu chứng minh bị cáo đang bị bệnh, phải điều trị. Xét bị cáo có khả năng tự cải tạo, có đủ điều kiện để được hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 Bộ luật Hình sự nên không cần thiết bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù mà để bị cáo tự cải tạo dưới sự giám sát của chính quyền địa phương cũng đủ tác dụng giáo dục và phòng ngừa tội phạm. Quan điểm của người bào chữa và đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh đề nghị chấp nhận kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận, sửa bản án sơ thẩm về phần hình phạt.

Đối với kháng cáo xin được nhận lại 50% giá trị chiếc võ lãi là vật chứng trong vụ án, Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo sử dụng chiếc vỏ lãi và máy nổ để thực hiện hành vi phạm tội, Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ quy định tại Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tuyên tịch thu Sng vào ngân sách Nhà nước là có căn cứ, đúng pháp luật. Tại phiên tòa, bị cáo rút lại yêu cầu kháng cáo này, căn cứ vào Điều 342 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với phần yêu cầu kháng cáo này của bị cáo.

Về án phí hình sự phúc thẩm, do yêu cầu kháng cáo của bị cáo được chấp nhận một phần và bị cáo thuộc hộ nghèo nên không phải chịu án phí phúc thẩm.

Các phần quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm số 15/2023/HS-ST ngày 09/3/2023 của Tòa án nhân dân huyện An Phú không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357; khoản 3 Điều 342 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của bị cáo Nguyễn Tuấn E về việc xin được hưởng án treo;

Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu kháng cáo của bị cáo về việc xin nhận lại 50% giá trị chiếc vỏ lãi.

Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 15/2023/HSST ngày 09/3/2023 của Tòa án nhân dân huyện An Phú.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Tuấn E phạm tội “Buôn bán hàng cấm”;

Căn cứ điểm e khoản 1 Điều 190, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65; Bộ luật Hình sự năm 2015.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Tuấn E 01 (một) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 (hai) năm kể từ ngày tuyên án (12/5/2023).

Giao bị cáo Nguyễn Tuấn E cho Ủy ban nhân dân xã Vĩnh Trường, huyện An Phú, tỉnh An Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Nếu trong thời gian thử thách người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì phài phải làm đơn có xác nhận của Ủy ban nhân dân xã Vĩnh Trường (được giao quản lý), gửi cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện An Phú.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Căn cứ Điều 12, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án;

Bị cáo Nguyễn Tuấn E không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các phần quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm số 15/2023/HS-ST ngày 09/3/2023 của Tòa án nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Các phần quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm số 15/2023/HS-ST ngày 09/3/2023 của Tòa án nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ