vanban.org

Bản án 49/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương Tuyên án 09/11/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Văn H phạm tội "Tổ chức đánh bạc".

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo 13 (mười ba) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 26 (hai mươi sáu) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm ngày 09/11/2021. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Văn H - phạm tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc (điều 322 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Văn H phạm tội "Tổ chức đánh bạc".
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 97/2015/QH13 Về chất vấn và trả lời chất vấn t…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN N
TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 49/2021/HS-ST
Ngày: 09 - 11 - 2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N, TỈNH HẢI DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

+ Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đoàn Thị Điệp.

+ Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Huệ và bà Bùi Thị Quy

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thanh Hà -Thư ký Toà án nhân dân huyện N, tỉnh Hải Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N, tỉnh Hải Dương tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị La - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 11 năm 2021, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 48/2021/TLST-HS ngày 15 tháng 10 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 47/2021/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 10 năm 2021 đối với bị cáo:

Lê Văn H; Sinh năm: 1962; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trú quán: Thôn L, xã H1, huyện N, tỉnh Hải Dương; Trình độ văn hóa: 7/10, Nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Lê Văn B và bà Trần Thị D, sinh năm: 1934; Gia đình có 06 anh em, bị cáo là con thứ 4; Vợ: Bà Phạm Thị L, sinh năm: 1970; Có 02 con, con lớn sinh năm 1990, con nhỏ sinh năm 1995. Tiền án, tiền sự: Chưa

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 26/8/2021 đến ngày 28/8/2021 chuyển sang áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo tại ngoại – Có mặt tại phiên tòa.

* Người làm chứng:

+ Chị Phạm Thị L, sinh năm 1970. Địa chỉ: Thôn L, xã H1, huyện N, tỉnh Hải Dương.

+ Anh Phạm Thành L2, sinh năm 1986. Địa chỉ: Thôn K, xã H1, huyện N, tỉnh Hải Dương.

+ Anh Phạm Văn D, sinh năm 1983. Địa chỉ: Thôn K, xã H1, huyện N,

tỉnh Hải Dương.

+ Anh Nguyễn Văn X, sinh năm 1983. Địa chỉ: Thôn L1, xã H1, huyện N, tỉnh Hải Dương.

+ Anh Phạm Văn D1, sinh năm 1985. Địa chỉ: Thôn K, xã H1, huyện N, tỉnh Hải Dương.

+ Chị Phạm Thị N, sinh năm 1967. Địa chỉ: Thôn K, xã H1, huyện N, tỉnh Hải Dương.

+ Anh Lê Trọng T, sinh năm 1970. Địa chỉ: Thôn C, xã H1, huyện N, tỉnh Hải Dương.

Chị L, anh X vắng mặt; anh D1, anh T, Anh D, chị N, anh L có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lê Văn H có quyền quản lý, trông coi đối với khu vực vùng chuyển đổi thuộc thôn L, xã H1, huyện N, tỉnh Hải Dương. Khoảng 8 giờ ngày 26/8/2021 H đang ở khu vực vùng chuyển đổi trên thì anh Phạm Văn D1 sinh năm 1985, anh Phạm Thành L2, sinh năm 1986 cùng ở thôn K, xã H1, huyện Nam Sách và anh Lê Trọng T, sinh năm 1970 ở Thôn Cát Khê, xã H1, huyện N đến chơi. Tại đây, anh D1 rủ H cùng anh T, anh L2 đánh bạc trái phép sát phạt nhau bằng tiền dưới hình thức đánh phỏm. Mọi người đồng ý và sử dụng bộ bài tú lơ khơ gồm 52 quân bài có sẵn ở nhà H cùng chơi đánh phỏm tại phòng ngủ phía bên trái từ cửa chính vào. Khoảng 45 phút sau, anh Nguyễn Văn X, sinh năm 1983, bà Phạm Thị N, sinh năm 1967, anh Phạm Văn D, sinh năm 1983 đều ở thôn K, xã H1, huyện N, tỉnh Hải Dương và bà Phạm Thị L (là vợ của Lê Văn H) ở thôn L, xã H1, huyện N đến. Anh D rủ bà L, ông X, bà N cùng đánh bạc trái phép sát phạt nhau bằng tiền dưới hình thức đánh phỏm ở phòng ngủ phía bên pH tính từ cửa chính vào (đối diện với chiếu bạc của H và những người khác đang ngồi đánh bạc). Các đối tượng đánh bạc trái phép tại nhà H đến 9 giờ 45 phút cùng ngày thì bị Công an huyện N phát hiện bắt quả tang, thu giữ tại chiếu bạc của H số tiền sử dụng vào việc đánh bạc là 4.460.000 đồng và 01 bộ bài tú lơ khơ gồm 52 quân bài; Thu giữ tại chiếu bạc của Anh D số tiền sử dụng vào việc đánh bạc là 2.901.000 đồng và 01 bộ bài tú lơ khơ gồm 52 quân bài.

Về hình thức đánh: Hai chiếu bạc tham gia đánh bạc trái phép dưới hình thức đánh phỏm, sử dụng bộ bài tú lơ khơ gồm 52 quân bài từ A đến K các chất, chia cho mỗi người chơi 09 quân bài bất kỳ, người chia được 10 quân bài, người chia bài được đánh trước, sau đó những người chơi có quyền ăn hoặc bốc bài cho đến khi có người chơi ù hoặc hết bài thì ván bạc kết thúc. Khi đó, người chơi sẽ so điểm với nhau, ai cao nhất sẽ được tiền của những người chơi khác; Tại chiếu bạc của H quy định mức sát phạt thấp nhất là 5.000 đồng và cao nhất là 30.000 đồng; tại chiếu bạc của Anh D quy định mức sát phạt thấp nhất là 2.000 đồng và cao nhất là 10.000 đồng.

Tại Cáo trạng số 48/CT-VKS-NS ngày 15/10/2021, Viện kiểm sát nhân huyện N, tỉnh Hải Dương truy tố bị cáo Lê Văn H về tội Tổ chức đánh bạc theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 322 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N giữ nguyên quan điểm như đã truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử: Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Văn H phạm tội “ Tổ chức đánh bạc”. Về hình phạt: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 322, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS; Điều 38, Điều 65 Bộ luật hình sự, đề nghị: Xử phạt bị cáo từ 13 đến 15 tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 26 đến 30 tháng tù thời hạn tính từ ngày tuyên án sơ thẩm; Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng; Về vật chứng: Tịch thu cho tiêu hủy 02 bộ bài tú lơ khơ (mỗi bộ gồm 52 quân bài). Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 7.361.000đ theo quy định tại Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện N, Điều tra viên, VKSND huyện N, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của BLTTHS. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của chính bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của những người làm chứng; biên bản bắt người phạm tội quả tang và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận: Sáng ngày 26/8/2021, tại khu vực vùng chuyển đổi của Lê Văn H ở thôn L, xã H1, huyện N; H sử dụng địa điểm thuộc quyền quản lý hợp pháp của mình cho 02 chiếu bạc đánh bạc trái phép cùng một lúc sát phạt nhau bằng tiền bằng hình thức đánh phỏm bị phát hiện bắt quả tang, gồm: chiếu thứ nhất có Lê Văn H trực tiếp tham gia đánh cùng các anh Phạm Văn D1, Phạm Thành L2, Lê Trọng T sử dụng số tiền 4.460.000 đồng vào việc đánh bạc và chiếu thứ hai gồm có Phạm Thị L, Nguyễn Văn X, Phạm Thị N, Phạm Văn D, sử dụng 2.901.000 đồng vào việc đánh bạc. Tổng số tiền sử dụng đánh bạc trái phép của hai chiếu bạc là 7.361.000 đồng

Xét bị cáo Lê Văn H là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Nhận thức được việc đánh bạc trái phép là vi phạm pháp luật, trực tiếp xâm hại đến trật tự trị an tại địa phương. Hành vi đánh bạc của bị cáo không đủ yếu tố cấu thành tội phạm do chiếu bạc mà bị cáo tham gia với số tiền đánh bạc là 4.460.000đ (dưới 5.000.000đ). Tuy nhiên, hành vi dùng địa điểm thuộc quyền quản lý hợp pháp của mình cho 02 chiếu bạc đánh bạc trái phép cùng một lúc sát phạt nhau bằng tiền với tổng số tiền đánh bạc tại hai chiếu bạc là 7.361.000 đồng nên hành vi này của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội Tổ chức đánh bạc quy định tại điểm b khoản 1 Điều 322 Bộ luật hình sự như Viện kiểm sát nhân dân huyện N truy tố đối với bị cáo là có cơ sở, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Xem xét các tình tiết tặng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không pH chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; có bố đẻ được tặng thưởng Huân chương chiến thắng chống Pháp hạng 3 nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Hội đồng xét xử sẽ xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

Căn cứ vào tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo; Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo là người có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, khai báo thành khẩn; được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên không cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cho bị cáo được hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 Bộ luật hình sự cũng đủ tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.

Hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 322 Bộ luật hình sự bị cáo có thể chịu hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo công việc và thu nhập không ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng: Xét thấy 02 bộ bài tú lơ khơ (mỗi bộ gồm 52 quân bài) được lưu giữ tại kho vật chứng là công cụ phạm tội, không còn giá trị sử dụng, cần tịch thu cho tiêu hủy. Đối với số tiền 7.361.000 đồng là số tiền bị cáo và các đối tượng sử dụng vào việc phạm tội, cần tịch thu sung quỹ Nhà nước theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Về án phí: Bị cáo bị kết án nên pH chịu 200.000đ tiền án phí sơ thẩm hình sự theo quy định tại Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo và các đối tượng gồm: bị cáo Lê Văn H, chị Phạm Thị L, anh Phạm Văn D, anh Lê Trọng T, anh Phạm Thành L2, anh Phạm Văn D1, anh Nguyễn Văn X, chị Phạm Thị N có hành vi đánh bạc trái phép, tuy nhiên, số tiền sử dụng vào việc đánh bạc không đủ lượng để truy cứu trách nhiệm hình sự; Bản thân bị cáo và các đối tượng trên không có tình tiết định tội khác quy định tại Điều 321 và 322 của Bộ luật hình sự. Do vậy, Công an huyện N ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, xử lý là phù hợp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 322, điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 38, Điều 65 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, b khoản 2 Điều 106, Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Văn H phạm tội "Tổ chức đánh bạc".

2. Về hình phạt:

Xử phạt bị cáo 13 (mười ba) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 26 (hai mươi sáu) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm ngày 09/11/2021.

Giao bị cáo cho UBND xã H1, huyện N, tỉnh Hải Dương giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo pH chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

3. Về xử lý vật chứng: Tịch thu cho tiêu hủy 02 bộ bài tú lơ khơ (mỗi bộ gồm 52 quân bài). Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 7.361.000 đồng (Đặc điểm vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện N và Chi cục Thi hành án dân sự huyện N)

4. Buộc bị cáo pH chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./.

Cỡ chữ