- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Dương Thị L và Bùi Văn H ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Dương Thị L và anh Bùi Văn H.
- Căn cứ chính? Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA VÌ THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 49/2019/HNGĐ-ST Ngày 16 tháng 9 năm 2019 “V/v: Tranh chấp hôn nhân gia đình, nuôi con khi ly hôn“ |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B A VÌ – THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hoàng Trọng Đức.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Minh Tuấn, bà Đặng Thị Minh Anh.
- Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Duy Liệu – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Vì tham gia phiên tòa: Bà Đào Thanh Huyền – Kiểm sát viên.
Trong ngày 16 tháng 9 năm 2019. Tại Tòa án nhân dân huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội xét xử công khai, sơ thẩm vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 364/2019/TLST - HNGĐ ngày 29 tháng 7 năm 2019. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 50/2019/QĐXXST – HNGĐ ngày 28/8/2019 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Dương Thị L, sinh năm 1994.
Địa chỉ: Thôn M, xã V, huyện Ba Vì, Thành phố Hà Nội.
2. Bị đơn: Anh Bùi Văn H, sinh năm: 1988.
Địa chỉ: Thôn M, xã V, huyện Ba Vì, Thành phố Hà Nội.
Chị L, anh H có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Tại đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn Dương Thị L trình bày: Chị và anh H kết hôn năm 2014, đăng ký kết hôn tại UBND xã V, huyện Ba Vì. Hai bên kết hôn trên cơ sở tự nguyện, sau khi kết hôn chung sống tại thôn M, xã V, huyện Ba Vì. Vợ chồng sống hạnh phúc được sáu năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do anh H chơi bời, lô đề, cờ bạc, chị có khuyên bảo nhiều lần nhưng không được, chính vì vậy cuộc sống chung vợ chồng không có hạnh phúc, chị và anh H đã sống ly thân nhau từ đầu tháng 6/2019 đến nay. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Bùi Văn H.
Con chung: Vợ chồng có hai con chung là Bùi Tuấn H, sinh ngày 17/3/2013 và Bùi Gia H1, sinh ngày 24/10/2015. Khi ly hôn, chị xin nuôi cháu Bùi Gia H1 để lại cháu Bùi Tuấn Hcho anh H nuôi dưỡng.
Tài sản chung, nợ chung, tài sản riêng: Chị L xác nhận không có.
Tại bản tự khai và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn Bùi Văn H trình bầy: Về điều kiện, thời gian kết hôn, quá trình sống chung đúng như chị L trình bầy. Anh và chị L sống hạnh phúc đến đầu năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do chị L không còn yêu thương anh, không muốn cùng anh xây dựng hạnh phúc gia đình, anh và chị L đã sống ly thân nhau từ đầu tháng 6/2019 đến nay. Nay chị L xin ly hôn anh cũng xác định tình cảm vợ chồng không còn nhưng anh không đồng ý ly hôn với chị L.
Con chung: Vợ chồng có hai con chung như chị L đã trình bầy, khi Tòa án giải quyết ly hôn, anh xin nhận nuôi các con không yêu cầu chị L cấp dưỡng nuôi con.
Tài sản chung, nợ chung, tài sản riêng: Anh H cũng xác nhận không có.
Tại phiên tòa sau khi trình bầy và tranh luận, các đương sự vẫn giữ quan điểm của mình, chị L thừa nhận có quan hệ ngoại tình.
* Phát biểu của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa:
+ Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, từ khi thụ lý vụ án đến trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án, Thẩm phán và Hội đồng xét xử và Thư ký đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
+ Về nội dung vụ án:
- Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình xử cho chị L được ly hôn với anh H.
- Về con chung: Căn cứ các Điều 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và gia đình giao hai cháu Bùi Tuấn H, sinh ngày 17/3/2013 và Bùi Gia 1, sinh ngày 24/10/2015 cho anh H nuôi dưỡng. Anh H được quyền nuôi con chung đến khi các cháu 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác. Tạm miễn việc cấp dưỡng nuôi con đối với chị L.
- Về tài sản chung, riêng, nợ chung: Không xem xét do chị L và anh H đều xác nhận không có.
- Về án phí: Chị L phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Dương Thị L và anh Bùi Văn H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn, hôn nhân hợp pháp. Vợ chồng chung sống hạnh phúc, đến đầu năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do hai anh chị không còn yêu thương nhau, hai anh chị đã sống ly thân nhau từ đầu tháng 6 năm 2019 đến nay, chị L xin ly hôn. Tại phiên tòa, anh H cũng xác định tình cảm vợ chồng không còn, anh đồng ý ly hôn với chị L. Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa chị L và anh H đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt, việc thuận tình ly hôn giữa hai anh chị là tự nguyện nên áp dụng Điều 55 Luật hôn nhân và gia đình công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Dương Thị L và anh Bùi Văn H.
Về con chung: Chị Dương Thị L và anh Bùi Văn H có hai con chung là Bùi Tuấn H, sinh ngày 17/3/2013 và Bùi Gia H1, sinh ngày 24/10/2015. Chị L đề nghị nuôi cháu Bùi Gia H1để cháu Bùi Tuấn H cho anh H nuôi dưỡng. Anh H xin nhận nuôi hai con, không yêu cầu chị L cấp dưỡng nuôi con. Tòa án đã tiến hành xác minh thì thấy hiện tại hai cháu đang ở cùng anh H được anh H chăm sóc cho ăn học đầy đủ, hơn nữa chị L làm công việc không ổn định, thời gian làm việc từ 08 giờ sáng đến 21 giờ đêm nên việc chăm sóc con không được tốt. Do vậy để đảm bảo cuộc sống của các cháu không bị ảnh hưởng nên tiếp tục giao cả hai cháu cho anh H nuôi dưỡng là phù hợp với các Điều 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và gia đình. Tạm miễn việc cấp dưỡng nuôi con đối với chị L cho đến khi có yêu cầu khác. Sau khi ly hôn, chị L được quyền qua lại thăm nom chăm sóc con chung không ai được ngăn cản.
Về tài sản chung, riêng, nợ chung: Cả chị L và anh H đều thừa nhận không có nên Hội đồng xét xử không xét.
Về án phí: Chị Dương Thị L phải chịu án phí sơ thẩm ly hôn theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, Điều 55, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 33, Điều 59 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Các Điều 147, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự 2015. Điều 24, 25, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14. Xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Dương Thị L và anh Bùi Văn H.
2. Về con chung: Giao cháu Bùi Tuấn H, sinh ngày 17/3/2013 và Bùi Gia H1, sinh ngày 24/10/2015 cho anh Bùi Văn H nuôi dưỡng đến khi cháu Hưng, Huy tròn 18 tuổi hoặc đến khi có yêu cầu khác. Tạm miễn việc cấp dưỡng nuôi con đối với chị L đến khi có yêu cầu khác. Sau khi ly hôn chị L được quyền qua lại thăm nom chăm sóc con chung không ai được ngăn cản.
3.Về tài sản chung, tài sản riêng, nợ chung: Không có
4. Về án phí: Chị Dương Thị L phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm được đối trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị L đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Ba Vì ngày 27/9/2019 theo biên lai số AG/2010/ 0009467.
5. Quyền kháng cáo: Chị Dương Thị L và anh Bùi Văn H được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND TP Hà Nội - VKSND huyện - Người tham gia tố tụng - UBND xã V. - THA dân sự - Lưu hồ sơ | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Hoàng Trọng Đức |