vanban.org

Bản án 49/2018/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Hà Tĩnh Tuyên án 19/04/2018 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 19/04/2018 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1, Ch p nhận một phần nội dung kháng cáo của bị cáo Nguyễn Tu n D; sửa bản án sơ thẩm số: 03/2018/HS-ST ngày 07/02/2018 của Tòa án nhân dân th nh phố H T nh.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tu n D phạm tội:" Đánh bạc". Giao bị cáo Nguyễn Tu n D cho Ủy ban nhân dân phường Bắc H , th nh phố H T nh, tỉnh H T nh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách Trong trường h p những người đư c hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hi n theo khoản 1 Điều 69 của Luật … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Tuấn D "Đánh bạc" - phạm tội đánh bạc (điều 248 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? 1, Ch p nhận một phần nội dung kháng cáo của bị cáo Nguyễn Tu n D; sửa bản án sơ thẩm số: 03/2018/HS-ST ngày 07/02/2018 của Tòa án nhân dân th nh phố H T nh.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH HÀ TĨNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 49/2018/HS-PT
Ngày:19-4-2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: B Trương Thị L Thu

Các Thẩm phán:B Trần Thị Thu Hiền

Ông Hồ Đức Quang

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Linh Giang, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh H.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh H tham gia phiên tòa: Ông Lê Quang Phi t - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 4 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh H xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 32/2018/HSPT ngày 15 tháng 3 năm 2018 đối với bị cáo Nguyễn Tu n Ddo có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số: 03/2018/HS-ST ngày 07/02/2018 của Tòa án nhân dân th nh phố H T nh.

- Bị cáo có kháng cáo

Nguyễn Tuấn D, tên gọi khác: Không; sinh ng y: 25/5/1985; trú tại: Tổ 02, phường B, th nh phố H, tỉnh H; nghề nghi p: Lao động tự do; trình độ văn hóa: lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Vi t Nam; con ông Nguyễn Khắc T1 và bà Trần Thị K; có v Tô Ngọc C v 02 con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ng y 26/6/2007 bị Công an phường T, thành phố H xử phạt vi phạm h nh chính về h nh vi “Đánh bạc” bằng hình thức phạt tiền. Bị tạm giữ từ ng y 01/11/2017 đến ng y 04/11/2017 đư c thay đổi bi n pháp ngăn chặn C m đi khỏi nơi cư trú. Hi n tại ngoại (có mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các t i li u có trong hồ sơ vụ án v diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đư c tóm tắt như sau:

Khoảng 9 giờ ng y 31/10/2017, Ngô Anh P, Nguyễn Tu n D, Trương Tu n L, Ngô Đức N và Ngô Tu n T2 đi đến quán “Dân tộc” thuộc địa phận phường T, th nh phố H để ăn uống. Trong quá trình tại đây, P nói “tí nữa ta l m tí b i” ý của P l rủ mọi người đánh b i ăn tiền nên N, D, L đồng ý. Khoảng 13 giờ cùng ng y, P, D, N, L và T2 đi đến nh nghỉ Nha Trang thuộc phường Trần Phú, th nh phố H. Khi đến nh nghỉ L lại quầy lễ tân gặp anh Phạm Quốc Dân để thuê phòng 313, còn D đi ra xe máy mở cốp l y bộ b i tu lơ khơ có s n từ trước đi lên phòng 313. Khi v o phòng thì Ngô Tu n T2lên giường nằm ngủ, còn P, D, L, N cùng thống nh t đánh bạc bằng hình thức đánh tiến lên miền nam hay còn gọi l đánh búa la xua, đư c thua mỗi ván từ 10.000đ đến 40.000đ. Hình thức đánh như sau: sử dụng bộ b i tu lơ kho 52 quân, chia đều cho 4 người, mỗi người 13 quân b i, ván đầu tiên ai có con 3 chuồn đư c đánh trước theo vòng từ trái qua phải, Giá trị quân b i nhỏ nh t l quân 3 v lớn nh t l quân 2, thứ tự ch t b i từ nhỏ đến lớn l bích, chuồn, rô, cơ. Những người chơi đánh đến khi ai hết b i trên tay trước thì thắng v kết thúc ván b i. Ba người còn lại phải đưa cho người thắng 10.000đ. Nếu kết thúc ván đánh m người n o chưa đánh đư c quân b i n o thì gọi l “Lủng” v phải đưa cho người thắng ván đó 30.000đ. Người n o hết quân b i trên tay m còn giữ lại con 3 “Bích” để đánh sau cùng thì gọi l ăn 3 bích v đư c l y của 3 người còn lại mỗi người 40.000đ. Nếu đánh hết ván b i m người n o còn cầm co 2 trên tay thì gọi l thối 2, nếu quân 2 đen thì trả cho người thắng ván đó số tiền 10.000đ, hai đỏ thì trả 20.000đ. Đến khoảng 15 giờ 30 phút cùng ng y thì bị Công an phường Trần Phú, th nh phố H phát hi n v bắt quả tang, thu giữ tại chiếu bạc số tiền 6.145.000đ, 01 bộ b i tu lơ kho 52 quân.

Với h nh vi phạm tội trên, Tại bản án số: 03/2018/HS-ST ngày 07/02/2018 của Tòa án nhân dân th nh phố H T nh đã Quyết định:

Tuyên bố Ngô Anh P, Ngô Đức N, Nguyễn Tuấn D và Trương Tuấn L phạm tội “Đánh bạc”.

Áp dụng khoản 1 Điều 248 của BLHS năm 1999, điểm i, s khoản 1 Điều 51 của BLHS năm 2015, xử phạt: Ngô Anh P 05 (năm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ng y bị cáo thi h nh án nhưng đư c trừ thời gian bị cáo đã bị tạm giữ từ ng y 01/11/2017 đến ng y 04/11/2017.

Áp dụng khoản 1 Điều 248 của BLHS năm 1999, điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51 của BLHS năm 2015, xử phạt: Nguyễn Tuấn D 04 (bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ng y bị cáo thi h nh án nhưng đư c trừ thời gian bị cáo đã bị tạm giữ từ ng y 01/11/2017 đến ng y 04/11/2017.

Áp dụng khoản 1 Điều 248 của BLHS năm 1999; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 65 của BLHS năm 2015, xử phạt: Ngô Đức N 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 12 tháng, kể từ ng y tuyên án.

Áp dụng khoản 1 Điều 248 của BLHS năm 1999, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 65 của BLHS năm 2015, xử phạt: Trương Tuấn L 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 12 tháng, kể từ ng y tuyên án.

Giao bị cáo Ngô Đức N cho UBND xã Thạch Mỹ, huy n Lộc H , tỉnh H; Trương Tu n L cho UBND xã Thạch Long, huy n Thạch H , tỉnh H giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường h p người đư c hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hi n theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật thi h nh án hình sự.

Án sơ thẩm còn tuyên về hình phạt bổ sung; xử lý vật chứng, tuyên buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự; tuyên quyền kháng cáo của bị cáo theo quy định của pháp luật.

Trong hạn luật định, ngày 09 tháng 02 năm 2018, bị cáo Nguyễn Tu n D có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt v xin đư c hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo khai v thừa nhận h nh vi phạm tội của bị cáo đúng như nội dung của bản án sơ thẩm. Bị cáo trình b y ý kiến v vẫn giữ nguyên nội dung đơn kháng cáo.

Kiểm sát viên thực h nh quyền công tố xét xử phúc thẩm vụ án đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự không ch p nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ v o các t i li u trong hồ sơ vụ án đã đư c tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận th y như sau:

Lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Tu n D tại phiên tòa phúc thẩm phù h p với lời khai của các bị cáo khác có trong hồ sơ vụ án, phù h p với các chứng cứ, t i li u có trong hồ sơ, đủ cơ sở kết luận h nh vi phạm tội của bị cáo có đủ yếu tố c u th nh của tội “Đánh bạc” đư c quy định tại khoản 1 Điều 248 BLHS 1999. Do đó, bản án hình sự sơ thẩm số 03/2018/HS-ST ngày 07/02/2018 của Tòa án nhân dân th nh phố H T nh tuyên bố bị cáo Nguyễn Tu n Dphạm tội “Đánh bạc” l đúng người, đúng tội, có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

H nh vi của bị cáo l nguy hiểm cho xã hội, coi thường pháp luật đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự công cộng v l nguồn gốc dẫn đến các t nạn xã hội khác ảnh hưởng trực tiếp đến gia đình, xã hội. Bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhi m hình sự, phạm tội với lỗi cố ý. Vì vậy c p sơ thẩm đã xử phạt bị cáo mức hình phạt 04 tháng tù l có căn cứ.

. Xét kháng cáo của bị cáo Nguyễn Tu n D, bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt v xin đư c hưởng án treo, Hội đồng xét xử th y rằng: Trong vụ án này bị cáo là đồng phạm với vai trò l người thực h nh. Nguyễn Tu n D đã 01 lần bị Công an phường T, th nh phố H xử phạt vi phạm h nh chính bằng hình thức phạt tiền về h nh vi “Đánh bạc” v o năm 2007. Vì vậy, c p sơ thẩm xử phạt bị cáo 04 tháng tù l có cơ sở. Tuy nhiên, xét bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ TNHS phạm tội lần đầu thuộc trường h p ít nghiêm trọng, sau khi phạm tội bị cáo đã th nh khẩn khai báo h nh vi phạm tội của mình TNHS quy định tại điểm i,s Điều 51 BLHS 2015. Ngo i ra bố, mẹ bị cáo l những người có công với cách mạng đư c tặng thưởng Huân, Huy chương kháng chiến đây l tình tiết giảm nhẹ trách nhi m hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51của BLHS năm 2015. Xét ho n cảnh hi n tại của bị cáo một mình chăm sóc hai con nhỏ v đang đi l m ăn xa, bố mẹ bị cáo đã gi yếu đều l người có công với cách mạng cần sự chăm sóc của bị cáo. Bị cáo có nơi cư trú rõ r ng nên Hội đồng xét xử th y rằng không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội m ch p nhận một phần kháng cáo của bị cáo giữ nguyên mức hình phạt như án sơ thẩm, áp dụng Điều 60 BLHS để cải bi n pháp thi h nh án, cho bị cáo đư c hưởng án treo để tạo điều ki n cho bị cáo đư c cải tạo giáo dục tại địa P cũng đủ nghiêm.

Áp dụng điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 2 điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ng y 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu Án phí, l phí Tòa án bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự;

1, Ch p nhận một phần nội dung kháng cáo của bị cáo Nguyễn Tu n D; sửa bản án sơ thẩm số: 03/2018/HS-ST ngày 07/02/2018 của Tòa án nhân dân th nh phố H T nh.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tu n D phạm tội:" Đánh bạc".

Áp dụng khoản 1 Điều 248 của BLHS năm 1999, điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51 của BLHS năm 2015; Điều 60 Bộ luật Hình sự 1999, xử phạt: Nguyễn Tuấn D 04 (bốn) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng tính từ ng y tuyên án phúc thẩm.

Giao bị cáo Nguyễn Tu n D cho Ủy ban nhân dân phường Bắc H , th nh phố H T nh, tỉnh H T nh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách Trong trường h p những người đư c hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hi n theo khoản 1 Điều 69 của Luật thi hánh án hình sự .

2. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 2 điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ng y 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu Án phí, l phí Tòa án bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các nội dung khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hi u lực pháp luật kể từ ng y hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị

Bản án phúc thẩm có hi u lực kể từ ng y tuyên án. Nơi nhận :

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

- VKSND tỉnh H;

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

- Sở Tư pháp tỉnh H;

- PV 27 – Công an tỉnh H;

- TAND,CA,VKS,THA sơ thẩm;

- Bị cáo;

- Lưu HSVA;

Trương Thị Lệ Thu

Cỡ chữ