vanban.org

Bản án 49/2017/HSPT — Hình sự

TAND tỉnh Đắk Nông Tuyên án 06/07/2017 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 06/07/2017 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện K, tỉnh Đắk Nông, sử a bản án hình sự sơ thẩm số: 15/2017/HSST ngày 03 tháng 5 năm 2017 của Tòa án nhân dân huyện K về phần hình phạt đối với bị cáo Lê Tài Đ.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Tài Đ - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện K, tỉnh Đắk Nông, sử a bản án hình sự sơ thẩm số: 15/2017/HSST ngày 03 tháng 5 năm 2017 của Tòa án nhân dân huyện K về phần hình phạt đối với bị cáo Lê Tài Đ.
  • Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 138 Bộ luật Hình sự; Điều 248 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐẮK NÔNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 49/2017/HSPT
Ngày: 06/7/2017

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐĂK NÔNG

Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà: Ông Lê Quốc Hương

Các Thẩm phán:

Ông Lương Đức Dương

Ông Nguyễn Văn Thuyên

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên toà: Ông Pha ̣m Duy Cườ ng – Thư ký

Tòa án nhân dân tỉnh Đăk Nông.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đăk Nông tham gia phiên tòa: Bà Lê

Thị Tố Quyên – Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 7 năm 2017, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Đắ k Nông xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 44/2017/HSPT ngày 02 tháng 6 năm 2017 đối với bị cáo Lê Tài Đ do có kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện K, tỉnh Đắk Nông đối với bản án hình sự sơ thẩm số: 15/2017/HSST ngày 03 tháng 5 năm 2017 của Tòa án nhân dân huyện K.

Bị cáo bị kháng nghị:

Lê Tài Đ, sinh năm 1989 tại tỉnh Thanh Hóa; nơi cư trú: Xóm 4, xã X, huyê ̣n T, tỉnh Thanh Hóa ; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 12/12; con ông Lê Đức H và bà Lê Thi ̣ T; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/01/2017, hiê ̣n bi ̣ cáo đang bi ̣ ta ̣m giam ta ̣i Nhà ta ̣m giữ Công an huyê ̣n K – Có mặt.

NHẬN THẤY:

Theo bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện K và bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện K thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Tháng 8/2015 Lê Tài Đ đến làm thuê tại nhà anh LêThế Tr, ở Thôn Đ, xã N, huyê ̣n K. Trưa ngày 07/10/2015 gia đinh anh Tr có tổ chức ăn nhậu, anh Tr có mời

̀

anh Nguyễn Văn T 1, anh Lê Thế L, anh Triê ̣u Văn Q và Lê Tài Đ đến nhậu cùng. Sau khi ăn nhâ ̣u xong mo ̣i ngườ i nghỉ , anh Triê ̣u Văn Q rủ Nguyễn Văn T 1 và Lê Tài Đ đi hát karaoke ta ̣i quán Thúy Hườ ng ở cùng thôn. Khi đi, anh Q đi xe mô tô của anh Q, Đ điều khiển xe mô tô BKS 48C1-116.30 (chiếc xe anh L chở anh T1 đến nhà anh Tr) chở anh T 1 từ nhà anh Tr đến quán karaoke . Trong khi hát karaoke, anh T1 cùng anh Q sang phòng bên ca ̣nh để hát cùng ba ̣n . Thấy chia khóa

̀ xe anh T1 để trên bàn Đ này sinh ý định lấy chiếc xe đi cầm cố để lấy tiền tiêu xài . Đ lấy chia khóa , mở khóa điều khiển xe mô tô về nhà anh Tr vào phòng ngủ lấy

̀ trô ̣m vi của anh L (do Đ biết giấy chứ ng nhận đăng ký xe đang trong vi của anh L).

́

́ Trong vi có 01 CMND, 01 giấy phép lái xe mô tô mang tên Lê Thế L , 01 giấy

́ chứ ng nhâ ̣n đăng ký xe mô tô BKS 48C1 – 116.30 mang tên Lê Thế T h và số tiền khoảng 200.000 đồng.

Sau khi lấy được tài sản, Đ đi đến xa N1, huyê ̣̃

n K gă ̣p ba ̣n là Nguyễn Thiê ̣u B nhờ tim nơi cầm xe , do không biết đây là xe Đ trô ̣m cắp mà có , B dẫn Đ đến tiệm

̀ cầm đồ Trung H ta ̣i tổ 4, thị trấn Đ, huyê ̣n K để cầm đồ. Khi đến, Đ xưng tên là Lê Thế L đồng thờ i đưa các giấy tờ mà Đ đa lẫ ́y được của anh L cho chủ tiê ̣m là anh H. Do không kiểm tra kỹ, nghĩ Đ là L nên anh H đồng ý cầm cố chiếu xe cho Đ vớ i số tiền 20.000.000 đồng. Đ lấy tiền cùng B đi uống nướ c , sau đó trốn khỏi đi ̣a phương. Đến ngày 08/10/2015 Đ nhắn tin cho anh T1, Đ đa cẫ ̀m cố xe ta ̣i tiê ̣m cầm đồ Trung H ở thi ̣ trấn Đ.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 41 ngày 30/10/2015 của Hội đồng định giá tài sản huyện K kết luận: xe mô tô nhan hiê ̣̃

u Yamaha Exciter BKS 48C1 – 116.30 trị giá trại thời điểm ngày 07/10/2015 là 37.925.000 đồng (ba mườ i bảy triê ̣u chin

́ trăm hai mươi lăm nghin đồng).

̀

Bản án hình sự sơ thẩm số: 15/2017/HSST ngày 03 tháng 5 năm 2017 của Tòa án nhân dân huyện K đã quyết định: Tuyên bố bị cáo Lê Tài Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng khoản 1 Điều 138; các điểm b, h, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Lê Tài Đ 06 (sáu) tháng tù.

Ngoài ra, Toà án cấp sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí và thông báo quyền kháng cáo.

Ngày 11/5/2017 Viện kiểm sát nhân dân huyện K, tỉnh Đắk Nông kháng nghị tăng hình phạt đối với bị cáo Lê Tài Đ.

Kết quả xét hỏi tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Lê Tài Đ đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, thừa nhận Tòa án nhân dân huyện K xử phạt bị cáo tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 138 của Bộ luật hình sự là đúng, không oan.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đăk Nông sau khi phân tích các tình tiết của vụ án đã đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điể m b khoản 2 Điều 248, Điều 249 Bô ̣ luâ ̣t tố tu ̣ng hình sự chấp nhâ ̣n kháng nghi ̣ của Viê ̣n kiểm sát nhân dân huyê ̣n K. Áp dụng khoản 1 Điều 138, điểm b, h, p khoản 1 khoản 2 Điều 46 Bô ̣ luâ ̣t hinh sự

̀ xử pha ̣t bi ̣ cáo Lê Tài Đ từ 09 đến 12 tháng tù.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo không bào chữa, tranh luận gì thêm, đề nghị Hô ̣i đồng xét xử giảm nhe ̣ hinh pha ̣t cho bi ̣ cáo.

̀

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà phúc thẩm; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ nô ̣i dung vu ̣ án, toàn diện tài liệu, chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo.

XÉT THẤY

Bản án hình sự sơ thẩm số 15/2017/HSST ngày 03 tháng 5 năm 2017 của Tòa án nhân dân huyện K đã kết án bị cáo Lê Tài Đ về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 138 của Bộ luật hình sự là có căn cứ pháp luật.

Xét kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện K, tỉnh Đắ k Nông, Hội đồng xét xử xét thấy, Tòa án cấp sơ thẩm đã xử phạt bị cáo Lê Tài Đ 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” là chưa tương xứng với tính chất, mức độ, hâ ̣u quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra. Mặc dù bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu nhưng tài sản bị cáo trộm cắp được có giá trị lớ n 37.925.000 đồng, nên mức án mà Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng đối với bị cáo là chưa phù hợp. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy có căn cứ chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện K, tỉnh Đắk Nông, sử a bản án sơ thẩm về phần hình phạt đối với bị cáo Lê Tài Đ.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên;

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 248; khoản3 Điều 249 của Bộ luật tố tụng hình sự,

QUYẾT ĐỊNH

1. Chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện K, tỉnh Đắk Nông, sử a bản án hình sự sơ thẩm số: 15/2017/HSST ngày 03 tháng 5 năm 2017 của Tòa án nhân dân huyện K về phần hình phạt đối với bị cáo Lê Tài Đ.

Áp dụng khoản 1 Điều 138; các điểm b, h, p khoản 1 khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Lê Tài Đ 01 (mô ̣t) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thờ i hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam, ngày 13/01/2017.

2. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

3. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

̀ Nơi nhận:

Cỡ chữ