- Tranh chấp gì? án hình sự — "Anh, Ước mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 201…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Các bị cáo Lê Văn Toản, Nguyễn Tuấn Nghĩa, Nguyễn Khánh Thiện, Trần Văn Hà, Đào Xuân Sơn và Nguyễn Văn Chung phạm tội “ Đánh bạc”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt; Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DUY TIÊN TỈNH HÀ NAM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:48/2023/HSST Ngày 28 tháng 6 năm 2023 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DUY TIÊN - HÀ NAM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: ông Mạnh Xuân Hải.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. ông Vũ Quốc Phòng;
2. ông Nguyễn Văn Hoằng.
- Thư ký phiên tòa: bà Nguyễn Thị Tuyết Nhung - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Duy Tiên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duy Tiên tham gia phiên tòa: ông Phạm Minh Tiến - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 6 năm 2023, tại Hội trường Uỷ ban nhân dân phường Yên Bắc, thị xã Duy Tiên, tỉnh Hà Nam, Tòa án nhân dân thị xã Duy Tiên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 43/2023/HSST ngày 25 tháng 5 năm 2023. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 49/2023/QĐXX-HS ngày 16 tháng 6 năm 2023 đối với:
1/ Các bị cáo:
- Nguyễn Ngọc A (tên gọi khác: Không); sinh năm 1996; nơi cư trú: Tổ dân phố Lũng X, phường Yên B, thị xã Duy T, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: Tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Ngọc L và bà Nguyễn Thị Thu H; vợ: Lường Thị D; con: Có 01 con, sinh năm 2020; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 24/9/2014 bị Tòa án nhân dân huyện Duy Tiên xử phạt 06 tháng tù treo, thời gian thử thách 12 tháng về tội “Không tố giác tội phạm”. Ngày 17/01/2017 bị Tòa án nhân dân huyện Duy Tiên xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, (ra trại ngày 26/01/2019); bị tạm giữ ngày 06/10/2022, chuyển tạm giam ngày 15/10/2022 đến nay; có mặt.
- Nguyễn Văn Ư (tên gọi khác: Không); sinh năm 1990; nơi ĐKHKTT: Thôn M, xã Thanh T, huyện Thanh L, tỉnh Hà Nam; chỗ ở: Thôn 4, xã Phù V, thành phố Phủ L, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: Tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Văn Th và bà Nguyễn Thị N; vợ: Lý Trâm A; con: Có 02 con, lớn sinh năm 2016, nhỏ sinh năm 2018; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ ngày 15/02/2023, chuyển tạm giam ngày 21/02/2023 đến nay; có mặt.
2- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Anh Nguyễn Trọng L, sinh năm 1997; địa chỉ: Thôn Tường Th, xã Trác V, thị xã Duy T, tỉnh Hà Nam; vắng mặt.
+ Anh Nguyễn Văn M, sinh năm 1990; địa chỉ: Thôn Tường Th, xã Trác V, thị xã Duy T, tỉnh Hà Nam; vắng mặt.
+ Anh Nguyễn Thế T, sinh năm 1998; địa chỉ: Thôn Thành L, xã Minh T, huyện Phú X, thành phố Hà Nội; vắng mặt.
+ Chị Lý Trâm A, sinh năm 1999; địa chỉ: Tổ dân phố Nguyễn Hữu T, phường Đồng V, thị xã Duy T, tỉnh Hà Nam; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 11 giờ 15 phút ngày 15/9/2022, Nguyễn Tro ̣ng L - SN 1997 ở thôn Tường Th, xã Trác V, thị xã Duy T sử dụng số điện thoại 0966.663.135 của mình gọi đến số 0973.168.010 của Nguyễn Ngọc A hỏi mua 500.000 đồng ma túy loại ngựa, Ngọc A đồng ý. Sau đó Nguyễn Trọng L sử dụng tài khoản của mình số 0995594879999 mở tại Ngân hàng Quân đội MB Bank chuyển số tiền 500.000 đồng vào số tài khoản 104870390246 của Nguyễn Ngọc A mở tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Công Thương Việt Nam ViettinBank để mua ma túy. Do L có việc bận nên Liêm bảo bạn là Nguyễn Văn M - SN 1990 ở thôn Tường Th, xã Trác V, thị xã Duy T đi đến nhà Nguyễn Ngọc A để lấy hộ ma túy. M đồng ý rồi một mình đi đến cổng nhà Ngọc A, ở tổ dân phố Lũng X, phường Yên B. Tại đây Nguyễn Ngọc A đã đưa cho M 06 viên ma túy loại ngựa. Sau đó, trên đường về M đã tự ý lấy một ít ma túy để một mình sử dụng và đưa lại cho L 06 viên ma túy ngựa rồi đi về nhà mình, L một mình sử dụng hết 06 viên ma túy này.
Tiếp theo, khoảng 14 giờ 15 phút ngày 15/9/2022, Nguyễn Tro ̣ng L sử dụng số điện thoại của mình gọi đến số điện thoại của Nguyễn Ngọc A hỏi mua 400.000 đồng tiền ma túy, loại ngựa, Ngọc A đồng ý. Sau đó Nguyễn Trọng L sử dụng tài khoản Ngân hàng Quân đội MB Bank của mình chuyển số tiền 400.000 đồng vào tài khoản của Nguyễn Ngọc A mở tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Công Thương Việt Nam ViettinBank. Do bận công việc nên L bảo Nguyễn Văn M đi đến nhà Nguyễn Ngọc A để lấy hộ ma túy cho mình. M đồng ý rồi một mình đi đến nhà Ngọc A lấy 04 viên ma túy loại ngựa. Trên đường về, M tự ý lấy một ít ma túy để một mình sử dụng và đưa cho L 04 viên ma túy ngựa rồi M đi về nhà mình. Số ma túy này L khai đã một mình sử dụng hết.
Tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Ngọc A, Cơ quan CSĐT Công án thị xã Duy Tiên phát hiện, thu giữ:
- Thu giữ tại đầu giường trong phòng ngủ tại tầng 1: 01 lọ thủy tinh màu trắng có nắp màu vàng, dưới phần nắp có phần giấy bạc, bên trong lọ có 183 viên nén màu đỏ. Ngọc A khai là ma túy; 01 lọ nhựa màu xanh trắng, bên ngoài có in chữ “XYLYTOL”, bên trong có 81 viên nén màu đỏ. Ngọc A khai là ma túy; 01 đoạn ống hút nhựa màu trắng, một đầu được cắt vát dài khoảng 07 cm. Toàn bộ 02 lọ và 01 đoạn ống hút được niêm phong trong hộp giấy ký hiệu KX01; 01 túi nilon màu trắng có viền màu đỏ KT (21x15)cm, bên trong có 56 túi nilon màu trắng KT (9,5x6)cm.
- Thu giữ tại khu vực cửa sổ gần giường trong phòng ngủ tại tầng 1: 01 vỏ chai nhựa màu trắng có chiều cao khoảng 20 cm. Trong đó tại nắp chai màu trắng được đục một lỗ tròn và cắm một ống nhựa có chiều dài khoảng 36 cm. Tại phần thân chai được đục một lỗ và cắm một ống nhựa có chiều dài khoảng 18 cm; 01 mảnh giấy bạc có kích thước khoảng (29x20) cm; 03 chiếc bật lửa còn sử dụng. Ngoài ra, thu giữ của Nguyễn Ngọc A: 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE, màu trắng.
Tại bản Kết luận giám định số 561/KL-KTHS ngày 11/10/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Nam xác định:
- Mẫu viên nén trong hộp niêm phong ký hiệu KX01 gửi giám định là ma tuý, có khối lượng 25,500g, loại Methamphetamine.
- 01 ống nhựa màu trắng trong hộp niêm phong ký hiệu KX01 gửi giám định có bám dính ma tuý loại: loại Methamphetamine.
Về nguồn gốc ma tuý Nguyễn Ngọc A khai nhận: Ngày 05/10/2022 tại TDP Chợ L, phường Yên B, thị xã Duy T, Ngọc A mua của Nguyễn Văn Ư 200 viên ma túy ngựa với giá 6.500.000đ và ngày 04/10/2022 tại TDP Vực V, phường Đồng V, thị xã Duy T, Ngọc A mua 80 viên ma túy ngựa với giá khoảng 3.200.000 đồng của người đàn ông không quen biết, Ngọc A đã bán và sử dụng hết 16 viên, còn lại 64 viên. Toàn bộ ma túy Ngọc A mua về để sử dụng và bán kiếm lời.
Quá trình điều tra xác định được như sau: Khoảng 22 giờ ngày 05/10/2022, Nguyễn Ngọc A nhắn tin qua Zalo cho Nguyễn Văn Ư hỏi mua một đàn ma túy ngựa (gồm 200 viên ma túy) với giá 6.500.000 đồng, Ư đồng ý. Sau đó Ngọc A sử dụng tài khoản của mình số 104870390246 mở tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Công Thương Việt Nam ViettinBank chuyển trước số tiền 2.500.000 đồng vào số tài khoản 19038666116011 mở tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Kỹ Thương Việt Nam Techcombank mang tên Nguyễn Thế T, hiện do Nguyễn Văn Ư sử dụng, còn lại 4.000.000 đồng Ngọc A nợ Ư. Sau đó, Nguyễn Văn Ư đi đến khu vực ga Phủ Lý, Hà Nam mua 01 đàn ma túy ngựa (200 viên) với giá 6.000.000đ của một người lái xe ôm không rõ tên tuổi địa chỉ rồi Ư một mình điều khiển xe ô tô do Ư thuê (Ư không nhớ BKS của xe, không nhớ thuê ai) đi đến khu vực tổ dân phố Chợ L, phường Yên B, thị xã Duy T, tỉnh Hà Nam. Tại đây Ư cất giấu 200 viên ma túy ngựa ở phía dưới biển hiệu “Thịt chó” rồi chụp ảnh lại, sau đó Ư đi về. Trên đường về, Ư gọi điện, nhắn tin, gửi ảnh chụp trên qua Zalo cho Nguyễn Ngọc A để Ngọc A biết chỗ cất giấu và đến lấy ma túy. Sau đó Nguyễn Ngọc A một mình đi đến rồi mang 200 viên ma túy về nhà cất giấu với mục đích vừa để bán và sử dụng.
Ngoài ra, Nguyễn Ngọc A còn khai nhận khoảng 10 giờ ngày 06/10/2022, tại cổng nhà mình ở tổ dân phố Lũng X, phường Yên B, Nguyễn Ngọc A đã bán cho Vũ Văn Đ - SN 1997 ở tổ dân phố Đ, phường Châu Gi, thị xã Duy T, tỉnh Hà Nam 04 viên ma túy ngựa với giá 400.000 đồng.
Về xác định khối lượng 200 viên ma túy của Ư: 264 viên ma túy thu giữ có khối lượng 25,5g và đều có hình dạng, kích thước, màu sắc tương tự nhau nên khối lượng của 01 viên ma túy ngựa trung bình là 25,5 : 264 = 0,096g. Như vậy 200 viên ma túy ngựa của Ư có khối lượng là 0,096 x 200 = 19,2g là phù hợp.
Cáo trạng số 48/CT-VKS- DT ngày 24/5/2023, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duy Tiên truy tố bị cáo Nguyễn Ngọc A về tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo điểm b, i khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự. Đồng thời truy tố bị cáo Nguyễn Văn Ư về tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo điểm i khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Ngọc A và Nguyễn Văn Ư thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố các bị cáo.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị HĐXX căn cứ: Điểm i khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51và Điều 38 BLHS đối với cả hai bị cáo Nguyễn Ngọc A và Nguyễn Văn Ư. Áp dụng riêng điểm b khoản 2 Điều 251 BLHS đối với bị cáo Nguyễn Ngọc A. Xử phạt: Nguyễn Ngọc A mức án từ 9 năm 06 tháng đến 10 năm 06 tháng tù; Xử phạt: Nguyễn Văn Ư mức án từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm 06 tháng tù. Miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo, ngoài ra đại diện Viện kiểm sát còn đưa ra quan điểm về xử lý vật chứng, biện pháp tư pháp và tuyên án phí đối với các bị cáo.
Trong phần tranh luận và nói lời sau cùng: Các bị cáo Nguyễn Ngọc A, Nguyễn Văn Ư đề nghị HĐXX xem xét cho các bị cáo mức án thấp nhất và không tranh luận gì; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt không tranh luận gì.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố những người tiến hành tố tụng nêu trên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác trong vụ án không ai có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng. Do đó, HĐXX xác định các hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.
Về tội danh: Xét lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng khác và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Do đó, HĐXX có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 06/10/2022, Cơ quan CSĐT Công an thị xã Duy Tiên kiểm tra phát hiện Nguyễn Ngọc A cất giữ trái phép 264 viên ma túy ngựa, có tổng khối lượng là 25,5g, loại Methamphetamine trong nhà, tại Tổ dân phố Lũng X, phường Yên B, thị xã Duy T, tỉnh Hà Nam. A khai số ma túy trên để sử dụng và bán kiếm lời. Ngoài ra, qua đấu tranh đã xác định ngày 15/9/2022 tại tổ dân phố Lũng X, phường Yên B, thị xã Duy T, Nguyễn Ngọc A đã 02 lần bán tổng cộng 10 viên ma túy ngựa cho Nguyễn Trọng L và Nguyễn Văn M thu được số tiền 900.000 đồng.
Trước đó, ngày 05/10/2022, tại khu vực Tổ dân phố Chợ L, phường Yên B, thị xã Duy T, Nguyễn Văn Ư đã bán cho Nguyễn Ngọc A 200 viên ma túy ngựa có khối lượng 19,2g, loại Methamphetamine với giá 6.500.000 đồng. Tuy nhiên, bị cáo Ngọc A mới thanh toán cho Ư số tiền 2.500.000 đồng, còn nợ lại Ư số tiền 4.000.000 đồng.
Hành vi nêu trên của các bị cáo là gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước, ảnh hưởng xấu trật tự trị an tại địa phương, hành vi của bị cáo Nguyễn Ngọc A đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý” quy định tại các điểm b, i khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự. Hành vi của bị cáo Nguyễn Văn Ư đủ yếu tố cấu thành tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý” quy định tại điểm i khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự. Do vây, bản Cáo trạng số: 48/CT-VKS- DT ngày 24/5/2023của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duy Tiên đã truy tố đối với các bị cáo là có căn cứ.
Xét về vai trò của các bị cáo: Trong vụ án này, các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội không có sự bàn bạc thống nhất nên mỗi bị cáo phải tự chịu trách nhiệm độc lập về hành vi phạm tội của mình.
Về nhân thân và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự (TNHS):
Về nhân thân: Đối với bị cáo Nguyễn Ngọc A là người đã từng bị 02 lần kết án và đã được xóa án tích nên là người có nhân thân xấu. Bị cáo Nguyễn Văn Ư là người chưa có tiền án, tiền sự nên là người có nhân thân tốt.
Về tình tiết tăng nặng TNHS: Trong vụ án này cả hai bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ TNHS: Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo; bị cáo Nguyễn Văn Ư sau khi thực hiện hành vi phạm tội đã đến đầu thú tại Cơ quan Công an; bị cáo Nguyễn Ngọc A là người có hoàn cảnh gia đình khó khăn (được chính quyền địa phương xác nhận). Đối chiếu với quy định của pháp luật cả hai bị cáo cùng được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về hình phạt:
Hình phạt chính: Căn cứ vào hành vi thực hiện tội phạm và nhân thân của từng bị cáo cho thấy cả hai bị cáo trong vụ án này đều thực hiện hành vi phạm tội thuộc trường hợp rất nghiêm trọng, vì vậy HĐXX cần phải ấn định mức hình phạt nghiêm khắc và cho các bị cáo cách ly khỏi xã hội một thời gian nhất định, mới có tác dụng đấu tranh và phòng, chống tội phạm trên địa bàn.
Hình phạt bổ sung: Do các bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập nên HĐXX miễn hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
Về các hành vi khác:
Đối với Nguyễn Văn M và Nguyễn Trọng L: Ngày 15/9/2022, M và L đã có hành vi mua trái phép chất ma túy của Nguyễn Ngọc A mục đích để sử dụng. Cơ quan CSĐT Công an thị xã Duy Tiên đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính. Ngày 28/3/2023 Nguyễn Trọng L và Nguyễn Văn M đã bị TAND thị xã Duy Tiên xét xử trong một vụ án hình sự khác.
Đối với Lý Trâm A, sinh năm 1999, trú tại TDP Nguyễn Hữu T, phường Đồng V, thị xã Duy T là người đã mượn tài khoản 19038666116011 mang tên Nguyễn Thế T mở tại Ngân hàng cổ phần kỹ thương Việt Nam (Techcom bank), sau đó đưa số tài khoản trên cho chồng là Nguyễn Văn Ư sử dụng nhưng không biết việc Ư sử dụng số tài khoản đó để thực hiện hành vi vi phạm pháp luật, nên Cơ quan CSĐT Công an thị xã Duy Tiên không có căn cứ để xử lý là phù hợp với quy định của pháp luật.
Đối với Nguyễn Thế T, sinh năm 1989, trú tại thôn Thành L, xã Minh T, huyện Phú X, TP Hà Nội là người đã cho Lý Trâm A mượn số tài khoản 19038666116011 mang tên mình mở tại Ngân hàng cổ phần kỹ thương Việt Nam (Techcom bank). Sau đó Lý Trâm A đã đưa số tài khoản trên cho chồng là Nguyễn Văn Ư sử dụng. Do T không biết việc Ư sử dụng số tài khoản trên để thực hiện hành vi vi phạm pháp luật nên Cơ quan CSĐT Công an thị xã Duy Tiên không có căn cứ xử lý là phù hợp với quy định của pháp luật.
Đối với Vũ Văn Đ, sinh năm 1997, trú tại: TDP Đ, phường Châu Gi, thị xã Duy T là người mà Nguyễn Ngọc A khai báo là đã mua ma túy của A vào ngày 06/10/2022, Cơ quan CSĐT Công an thị xã Duy Tiên đã tiến hành xác minh, triệu tập. Quá trình làm việc, bà Nguyễn Thị L (mẹ đẻ của Đ) và chính quyền địa phương cung cấp: Vũ Văn Đ không có mặt tại địa phương, khoảng tháng 10/2022, Đ đi Tây Nguyên buôn bán đến nay chưa về. Hiện không biết Đ đang ở đâu, làm gì, cùng ai nên chưa có căn cứ để xử lý là phù hợp với quy định của pháp luật.
Về nguồn gốc số ma túy và người bán ma túy: Do không xác định được người đàn ông đã bán 200 viên ma túy cho Nguyễn Văn Ư tại khu vực Ga Phủ Lý (như Ư khai báo) và người bán ma túy cho Nguyễn Ngọc A ở khu vực Vực Vòng là ai, ở đâu nên Cơ quan CSĐT Công an thị xã Duy Tiên không có căn cứ để khởi tố điều tra là đúng quy định của pháp luật.
Về vật chứng vụ án: Đối với 01 hộp niêm phong số 561/KTHS. ghi “Mẫu vật hoàn trả KX01” có dấu giáp lai của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Nam; 01 túi ni lon màu trắng có viền màu đỏ, kích thước khoảng (21x15)cm. Bên trong có 56 túi ni lon nhỏ; 01 chai nhựa đã cũ có chiều cao khoảng 20cm. Trên nắp chai màu trắng được đục một lỗ tròn cắm 01 ống hút dài 18cm; 01 mảnh giấy bạc có kích thước khoảng (29x20)cm; 03 chiếc bật lửa gas màu đỏ. Qua đấu tranh xác định đây là vật chứng hoàn trả sau giám định, có liên quan đến hành vi phạm tội trong vụ án và thuộc vật cấm lưu hành và không còn giá trị sử dụng nên HĐXX cần tịch thu cho tiêu hủy. Riêng 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu IPHONNE, bên trong có 01 sim Viettel. Qua đấu tranh xác định đây là tài sản của bị cáo Nguyễn Ngọc A đã sử dụng vào việc thực hiện tội phạm, hiện còn giá trị sử dụng, nên HĐXX cần tịch thu sung quỹ nhà nước.
Về biện pháp tư pháp: Đối với số tiền mà các bị cáo chiếm hưởng qua việc mua bán trái phép chất ma túy, cụ thể bị cáo Nguyễn Ngọc A số tiền 900.000 đồng, bị cáo Nguyễn Văn Ư số tiền 2.500.000 đồng cần được HĐXX truy thu sung quỹ nhà nước.
Về án phí: Các bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Các bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thực hiện quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
1. Về hình sự: Áp dụng Điểm i khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo Nguyễn Ngọc A và Nguyễn Văn Ư. Áp dụng riêng điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Ngọc A.
Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Ngọc A, Nguyễn Văn Ư phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc A 09 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 06/10/2022.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Ư 07 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 15/02/2023.
2. Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
+ Tịch thu tiêu huỷ: 01 hộp niêm phong số 561/KTHS, ghi “Mẫu vật hoàn trả KX01” có dấu giáp lai của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Nam; 01 túi ni lon màu trắng có viền màu đỏ, kích thước khoảng (21x15)cm. Bên trong có 56 (năm mươi sáu) túi ni lon nhỏ; 01 Chai nhựa cũ cao 20cm. Trên nắp chai có đục một lỗ tròn cắm 01 ống hút dài 18cm; 01 mảnh giấy bạc có kích thước khoảng (29x20)cm; 03 chiếc bật lửa gas màu đỏ;
+ Tịch thu sung quỹ nhà nước: 01 chiếc điện thoại di động đã cũ nhãn hiệu IPHONNE, có IMEIL35671808853415, bên trong có 01 sim điện thoại.
(Đặc điểm vật chứng như biên bản giao nhận giữa Công an thị xã Duy Tiên và Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Duy Tiên ngày 26/5/2023).
+ Truy thu đối với: bị cáo Nguyễn Ngọc A số tiền 900.000 đồng; bị cáo Nguyễn Văn Ư số tiền 2.500.000 đồng để sung quỹ nhà nước.
3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội: Buộc các bị cáo Nguyễn Ngọc A và Nguyễn Văn Ư mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng.
Báo cho bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tối cao;
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- TAND tỉnh Hà Nam;
- VKSND tỉnh Hà Nam;
- Cơ quan CSĐT Công an TX Duy Tiên;
- VKSND thị xã Duy Tiên;
- Chi cục THADS thị xã Duy Tiên;
- Cơ quan THAHS Công an TX Duy Tiên;
- Sở Tư pháp tỉnh Hà Nam;
- Bị cáo; đương sự
- Lưu hồ sơ vụ án.
Mạnh Xuân Hải
+ Đối với anh Nguyễn Tuấn Vũ đã chở Dư đến Phú Xuyên, thành phố Hà Nội nhưng không biết Dư đi mua ma túy và cũng không biết Dư có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy nên không có căn cứ xử lý anh Vũ.
Về vật chứng vụ án:
Đối với 01 chiếc xe mô tô BKS: 90D1 – 09451 mà anh Nguyễn Tuấn Vũ chở Dư đi mua ma túy và bị thu giữ. Quá trình điều tra xác định chiếc xe trên là tài sản hợp pháp của ông Nguyễn Văn Đào (bố đẻ anh Vũ), ủy quyền cho anh Vũ quản lý, sử dụng nên Cơ quan CSĐT Công an thị xã Duy Tiên đã trả lại cho anh Nguyễn Tuấn Vũ. Nay không ai có ý kiến gì nên không đặt ra xem xét.
Đối với 01 phong bì niêm phong có số 272/PC09-MT mặt trước phong bì ghi “ Mẫu vật hoàn trả QT01”, mặt sau phong bì có 03 dấu giáp lai của Phòng kỹ thuật hình sự- Công an tỉnh Hà Nam là mẫu vật hoàn trả sau giám định, liên quan đến vụ án hiện không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu cho tiêu hủy.
Về án phí: Bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người liên quan thực hiện quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
1. Về hình sự: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn Dư phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt: Nguyễn Văn Dư 24 (hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 24/12/2021.
2. Vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong có số 272/PC09-MT mặt trước phong bì ghi “ Mẫu vật hoàn trả QT01”, mặt sau phong bì có 03 dấu giáp lai của Phòng kỹ thuật hình sự- Công an tỉnh Hà Nam.
(Đặc điểm vật chứng như biên bản giao nhận giữa Công an thị xã Duy Tiên và Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Duy Tiên ngày 07/3/2022).
3. Án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc Hội buộc bị cáo Nguyễn Văn Dư phải nộp: 200.000đ (hai trăm nghìn đồng).
Báo cho bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./. Nơi nhận:
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh Hà Nam;
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
- VKSND tỉnh Hà Nam;
- Công an thị xã Duy Tiên;
- VKSND thị xã Duy Tiên;
- Chi cục THADS thị xã Duy Tiên;
- Sở Tư pháp tỉnh Hà Nam;
- Bị cáo;
- Lưu hồ sơ vụ án.
Mạnh Xuân Hải
Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự (TNHS):
Về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân xấu.
Về tình tiết tăng nặng TNHS: Trong vụ án này bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng TNHS nào quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự do bị cáo đã phải chịu tình tiết tăng nặng định khung là “Tái phạm nguy hiểm” theo điểm q khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự
Về tình tiết giảm nhẹ TNHS: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình; ngoài ra trong hồ sơ vụ án thể hiện bị cáo có thân nhân là người có công với cách mạng. Đối chiếu với quy định của pháp luật bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ TNHS quy định tại các điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về hình phạt:
Hình phạt chính: Bản thân bị cáo là người có nhân thân xấu, đã từng bị kết án vầ tội rất nghiêm trọng chưa được xóa án tích nay lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội cùng loại là thể hiện ý thức coi thường pháp luật pháp luật nên HĐXX cần ấn định mức hình phạt nghiêm khắc mới có tác dụng cải tạo bị cáo thành công dân tốt, đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm trên địa bàn.
Hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
. Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo có nhân thân xấu, không phải chịu tình tiết tăng nặng. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội; người thân của bị cáo đã bồi thường cho người bị hại; được người bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1; khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Từ nhận định trên xét thấy mặc dù đã nhiều lần bị kết án nhưng chưa được xóa án tích bị cáo lại phạm tội mới thể hiện ý thức tu dưỡng rèn luyện không tốt vì thế cần ấn định mức hình phạt nghiêm khắc cách ly ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo.
Về hình phạt bổ sung: bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo là phù hợp thực tế.
Về trách nhiệm dân sự: người bị hại đã nhận tiền bồi thường nay không có yêu cầu gì nên không đặt ra giải quyết. Đối với anh Nguyễn Văn Sơn đã tự nguyện bồi thường cho người bị hại số tiền 19.000.000đ, nay không có ý kiến gì nên không đặt ra giải quyết.
Về vật chứng vụ án: Đối với 01 miếng kim loại vàng do bà Nguyễn Thị Đoạt giao nộp đã trả lại cho bà Đoạt. Đối với: 01 xe môtô Vision BKS 17B7-378.82 và 01 chùm chìa khóa được đăng ký mang tên chị Nguyễn Thị Mừng sinh năm 1993, nguyên quán: Hoa Thám, xã Quang Bình, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình (hiện đã chuyển về cư trú tại thôn Nghĩa 2, xã Ngọc Lương, huyện Yên Thuỷ, tỉnh Hoà Bình), quá trình điều tra chưa làm việc được với chị Mừng nên cơ quan điều tra tách ra giải quyết sau là đúng. Đối với: 01 chứng minh thư; 01 giấy phép lái xe; số tiền: 1.700.000đ thu giữ của bị cáo tuy nhiên bị cáo đã thực hiện xong nghĩa vụ bồi thường nên cần trả lại cho bị cáo. Đối với: 01 đôi giầy; 01 khẩu trang y tế cần tịch thu tiêu hủy.
Về án phí hình sự: Bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật.
Từ nhận định trên:
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng điểm d, i khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Chung phạm tội “Cướp giật tài sản”.
Xử phạt Nguyễn Văn Chung 06 (Sáu) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 12/11/2019.
2. Về vật chứng: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy: 01 đôi giầy; 01 khẩu trang y tế;
Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn Chung: 01 chứng minh thư; 01 giấy phép lái xe; số tiền 1.700.000đ (Một triệu bẩy trăm ngàn đồng).
(Đặc điểm vật chứng như biên bản giao nhận giữa Công an huyện Duy Tiên và Thi hành án dân sự huyện Duy Tiên ngày 07/2/2020).
3. Án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc Hội bị cáo Nguyễn Văn Chung phải nộp: 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).
Án xử công khai sơ thẩm bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./. Nơi nhận:
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh Hà Nam;
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
- VKSND tỉnh Hà Nam;
- Sở Tư pháp tỉnh Hà Nam;
- Công an Duy Tiên;
- VKSND Duy Tiên;
- Chi cục THADS Duy Tiên;
- Bị cáo; đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án.
Trần Ngọc Thuận
Hành vi nêu trên của bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội trực tiếp xâm phạm trật tự an toàn giao thông, đồng thời ảnh hưởng xấu tới trật tự trị an tại địa phương, hành vi của bị cáo điều khiển xe ô tô không chấp hành biển cảnh báo nguy hiểm, không làm chủ tốc độ vi phạm các điều 11, 12 Luật giao thông đường bộ gây hậu quả làm chết hai người trong khi không có giấy phép lái xe theo quy định đủ yếu tố cấu thành tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ"; tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a, đ khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự. Cáo trạng Viện kiểm sát truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo có nhân thân tốt; không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; sau khi phạm tội bị cáo đã tác động gia đình cùng chủ xe bồi thường thiệt hại cho gia đình người bị hại; tại phiên tòa đại diện của bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; bị cáo có thân nhân có công với cách mạng nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1; khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Từ nhận định trên xét thấy cần phải cách ly khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, phạm tội với lỗi vô ý nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Trong vụ án này thỏa thuận công việc của Đỗ Việt Quý làm phụ xe ôtô, chủ xe anh Trần Văn Tám một số lần trước đây có giao xe 35B-00556 cho bị cáo lái tuy nhiên vào ngày 27/4/2019 bị cáo tự lái xe mà không ai giao xe cho bị cáo; vào thời điểm xảy ra tai nạn mặc dù anh Tám có ở trên xe nhưng không có đủ tài liệu khẳng định anh Tám thức hay ngủ vì vậy không đủ cơ sở vững chắc để xử lý anh Tám về hành vi giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ.
Về trách nhiệm dân sự: Đại diện của người bị hại đã nhận tiền bồi thường, nay các đương sự không yêu cầu gì nên không đặt ra giải quyết.
Về vật chứng vụ án: đã giải quyết xong nên không đặt ra giải quyết.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải nộp theo quy định.
Từ nhận định trên:
QUYẾT ĐỊNH
1/ Áp dụng điểm a, đ khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1; khoản 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Đỗ Việt Quý phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Xử phạt: Đỗ Việt Quý 05 (Năm) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 27/4/2019.
2/ Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: bị cáo Đỗ Việt Quý phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).
Báo cho bị cáo; người đại diện của người bị hại; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người đại diện của người bị hại; bị đơn dân sự; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./. Nơi nhận:
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh Hà Nam;
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
- VKSND tỉnh Hà Nam;
- Sở Tư pháp tỉnh Hà Nam;
- Công an huyện Duy Tiên;
- VKSND huyện Duy Tiên;
- THADS huyện Duy Tiên;
- Bị cáo;đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án.
Trần Ngọc Thuận
Hành vi nêu trên của bị cáo Đỗ Việt Quý điều khiển xe ô tô đi không chấp hành biển báo, không làm chủ tốc độ xe do mình điều khiển gây hậu quả làm chết 02 người đã vi phạm Điều 11, 12 Luật Giao thông đường bộ, gây nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm trật tự công cộng, gây thiệt hại tính mạng người khác và đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” tội phạm, hình phạt quy định tại điểm a, đ khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự (BLHS). Do vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Duy Tiên truy tố bị cáo theo bản Cáo trạng số 60/CT-VKS ngày 05/9/2019 là hoàn toàn có căn cứ pháp lý, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Quá trình điều tra, bị cáo Đỗ Việt Quý khai báo: Trong thời gian làm phụ xe cho ông Tám trên tuyến đường Ninh Bình – Cao Bằng, mặc dù biết rõ Quý không có giấy phép lái xe nhưng có khoảng 3 – 4 lần gần đây, ông Tám mệt, buồn ngủ nên vẫn bảo Quý lái xe ô tô BKS 35B – 005.56 đi từ khu cầu vượt Đồng Văn thuộc thị trấn Đồng Văn, huyện Duy Tiên về Ninh Bình. Ngày 27/4/2019, khi về đến khu cầu vượt Đồng Văn, ông Đức xuống xe đi về nhà, mặc dù ông Tám không bảo Quý lái xe ô tô BKS 35B – 005.56 đi về Ninh Bình nhưng sau khi xuống xắp xếp hàng hóa cho khách xong, Quý lên lái xe ô tô đi về. Lúc đó, Quý thấy ông Tám đang nằm ở hàng ghế hành khách đầu tiên bên trái, không rõ thức hay ngủ. Quý cho rằng mặc nhiên ông Tám đồng ý để cho Qúy lái xe như những lần trước đó. Tuy nhiên ông Tám khai báo, ông chỉ thuê Quý làm phụ xe ô tô, chỉ có một vài lần, sau khi về bến ở huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình, ông bảo Quý lái xe đi rửa hoặc đi đổ xăng; có lần ông Tám để cho Quý lái xe từ Đồng Văn về Ninh Bình. Ngày 27/4/2019, khi ông Đức xuống xe đi về nhà đến lúc xảy ra tai nạn, ông Tám vẫn đang ngủ và không rõ Quý lên lái xe từ khi nào, ông không giao cho Quý lái xe ô tô 35B – 005.56 đi về Ninh Bình. Quá trình điều tra xác minh tại thời ông Đức xuống xe đi về nhà đến khi Quý lên điều khiển xe ô tô 35B – 005.56 và gây tai nạn giao thông, không ai nghe thấy ông Tám bảo Quý lên lái xe và cũng không xác định lúc này ông Tám thức hay ngủ nên không đủ căn cứ xác định ông Tám giao xe hoặc cố ý để cho Đỗ Việt Quý điều khiển xe ô tô 35B – 005.56 đi về Ninh Bình và gây tai nạn nên không đủ căn cứ để khởi tố, điều tra đối với ông Trần Văn Tám.
Cáo trạng số 40/CT-VKS ngày 07/6/2019, Viện kiểm sát nhân dân huyện Duy Tiên đã truy tố bị cáo về tội “Giữ người trái pháp luật” theo khoản 1 Điều 157 Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 157; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Biện từ 12 đến 15 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 16/4/2019 và tuyên án phí đối với bị cáo.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có tranh luận gì; Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt ngoài ra không tranh luận gì.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Duy Tiên và Điều tra viên; của Viện kiểm sát nhân dân huyện Duy Tiên và Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố, cơ quan Điều tra, Viện kiểm sát và các chức danh tư pháp đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác trong vụ án không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, HĐXX xác định các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác, HĐXX có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 16/4/2019 tại phòng trọ của Nguyễn Văn Biện ở phố Nguyễn Hữu Tiến, thị trấn Đồng Văn, huyện Duy Tiên, chị Nguyễn Thị Phương là nhân viên phục vụ quán hát do Biện quản lý, xin phép Biện không làm việc nữa để về Hà Nội học tiếng đi xuất khẩu lao động, Biện không đồng ý nên đã giữ và nhốt chị Phương ở trong phòng trọ của Biện từ khoảng 13 giờ 30 phút đến 15 giờ 30 phút cùng ngày, khi Biện mở cửa phòng, lợi dụng sơ hở, chị Phương đã chạy ra ngoài kêu cứu và được lực lượng Công an đến giải quyết.
Hành vi nêu trên của Nguyễn Văn Biện gây nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm quyền tự do thân thể bất khả xâm phạm của công dân, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an tại địa phương đủ yếu tố cấu thành tội: “Giữ người trái pháp luật” tội phạm, hình phạt quy định tại khoản 1 điều 157 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: bị cáo có nhân thân xấu; Bị cáo đã tái phạm chưa được xóa án tích mà lại phạm tội do cố ý nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm nguy hiểm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo thành khẩn khai báo; ăn năn hối cải; có thân nhân có công với cách mạng nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ tại điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự.
Từ nhận định trên xét thấy mặc dù nhiều lần bị kết án và chưa được xóa án tích nhưng bị cáo không coi đó là bài học mà vẫn dấn thân vào con đường phạm tội, hành vi của bị cáo thể hiện sự coi thường pháp luật vì vậy cần phải cách ly ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo giáo dục bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: người bị hại không yêu cầu nên không đăt ra giải quyết.
Về tài sản thu giữ: cơ quan điều tra đã xử lý nên không đặt ra giải quyết.
Về án phí: bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Áp dụng khoản 1 điều 157; điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51; điểm h khoản 1 điều 52; điều 38 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Biện (tên gọi khác Thành) phạm tội "Giữ người trái pháp luật".
Xử phạt: Nguyễn Văn Biện 12 (Mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 16/4/2019.
2. Án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội: bị cáo Nguyễn Văn Biện phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).
Báo cho bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự./. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- VKSND tỉnh Hà Nam;
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa
- TAND tỉnh Hà Nam;
- Công an huyện Duy Tiên;
- Viện kiểm sát huyện Duy Tiên;
- Chi cục THA huyện Duy Tiên;
- Bị cáo;đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án.
Trần Ngọc Thuận
Hành vi nêu trên của các bị cáo Lê Văn Toản, Nguyễn Tuấn Nghĩa, Nguyễn Khánh Thiện, Trần Văn Hà, Đào Xuân Sơn và Nguyễn Văn Chung đủ yếu tố cấu thành tội “ Đánh bạc’’ theo quy định tại khoản 1 Điều 248 BLHS. Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố các bị cáo theo tội danh và điều luật nêu trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, vì đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự công cộng, các bị cáo thực hiện hành vi với mục đích sát phạt nhau được thua bằng tiền, thể hiện sự coi thường kỉ cương pháp luật của Nhà nước, làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự địa phương. Vì vậy HĐXX cần phải xử lý trước pháp luật đối với các bị cáo để giáo dục các bị cáo cũng như phòng ngừa chung trong xã hội.
Xét vai trò của các bị cáo cho thấy: Hành vi phạm tội của các bị cáo mang tính chất đồng phạm giản đơn, các bị cáo tham gia đánh bạc bằng hình thức chơi “Liêng”, sát phạt nhau bằng tiền là do ham thích và hoàn toàn tự nguyện, không bị ai kích động, dụ dỗ. Trong đó các bị cáo Toản, Nghĩa, Thiện, Hà, Sơn đều là người giữ vai trò thực hành, trực tiếp thực hiện hành tội phạm. Riêng bị cáo Chung tuy không tham gia đánh bạc nhưng đã gọi điện rủ rê các bị cáo: Toản, Thiện, Hà và Nghĩa đến nhà mình để đánh bạc và chuẩn bị công cụ, phương tiện phạm tội và thu tiền hồ nên giữ vai trò chính, đồng phạm với các bị cáo khác. HĐXX sẽ xem xét về tính chất, vai trò và nhân thân từng bị cáo để đánh giá, ấn định mức hình phạt khi lượng hình.
Trong lượng hình xét thấy: Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự (TNHS): các bị cáo Toản, Nghĩa, Thiện, Hà, Chung không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định tại khoản 1Điều 48 BLHS. Riêng bị cáo Sơn đã bị Tòa án nhân dân huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam xử phạt 10 tháng tù về tội “ Đánh bạc” theo bản án ngày 23/3/2016, bị cáo ra trại ngày 08/9/2016. Nay bị cáo lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội khi chưa được xóa án tích nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “Tái phạm” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự. Đối với tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra vụ án và tại phiên tòa hôm nay, cả 6 bị cáo đều thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình,thể hiện sự ăn năn hối cải. Do vậy tất cả các bị cáo đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự. Đối với các bị cáo Toản, Nghĩa, Thiện, Hà, Chung về nhân thân chưa từng bị kết án nên được coi là phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Do vậy, các bị cáo này được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 46 BLHS. Riêng bị cáo Đào Xuân Sơn có hoàn cảnh gia đình khó khăn, bản thân bị cáo Sơn có thời gian tham gia quân đội; bị cáo Nguyễn Văn Chung sau khi bỏ trốn đã tự nguyện ra đầu thú nên các bị cáo Sơn, Chung được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 46 BLHS.
Sau khi xem xét mọi mặt, HĐXX thấy rằng đây là vụ án đánh bạc có nhiều người tham gia, gây dư luận xấu tại địa bàn xã Chuyên Ngoại và khu vực lân cận, làm mất trật tự trị an địa phương, vì vậy cần phải xử lý nghiêm khắc các bị cáo mới đáp ứng được yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm trên địa bàn. Tuy nhiên, như đã nhận định: các bị cáo Toản, Nghĩa, Thiện, Hà, Chung là những người có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ TNHS, có nơi cư trú rõ ràng nên xét thấy không cần thiết bắt các bị cáo này phải cách ly khỏi xã hội mà chỉ cần áp dụng Điều 60 BLHS cho các bị cáo được cải tạo tại địa phương là phù hợp với quy định của pháp luật. Đối với bị cáo Sơn như đã nhận định, là người có nhân thân xấu nên HĐXX cần áp dụng Điều 33 BLHS cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian để bị cáo cải tạo thành công dân tốt là phù hợp với quy định của pháp luật.
Về hình phạt bổ sung: Xét hoàn cảnh của các bị cáo đều không có nghề nghiệp ổn định, có khó khăn khác nhau nên HĐXX quyết định miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền quy định tại khoản 3 Điều 248 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo là phù hợp với thực tế và quy định của pháp luật.
Về vật chứng của vụ án:
- Đối với 01 điện thoại di động Iphone 5, vỏ màu vàng thu giữ của bị cáo Toản và 01 điện thoại Nokia 105 thu giữ của bị cáo Nghĩa, quá trình điều tra xác định có liên quan đến hành vi phạm tội, nên HĐXX cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước.
- Đối với 01 điện thoại di động Samsung Note 4 thu giữ của bị cáo Thiện và 01 điện thoại Nokia 1280 thu giữ của bị cáo Sơn, đã chứng minh làm rõ không liên quan đến hành vi phạm tội, nên HĐXX xét trả lại cho các bị cáo Thiện và Sơn.
- Đối với số tiền 23.050.000đ trong đó có 10.550.000đ là số tiền các đối tượng dùng vào việc đánh bạc, cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước. Số tiền còn lại là 12.500.000đ trong đó 5.500.000đ thu giữ của bị cáo Hà; 7.000.000đ thu giữ của bị cáo Toản, quá trình điều tra không chứng minh được Hà, Toản dùng số tiền trên thực hiện hành vi phạm tội. Do vậy, HĐXX xét trả lại cho các bị cáo Hà và Toản.
- Đối với các vật chứng còn lại là công cụ, phương tiện để các đối tượng sử dụng vào việc đánh bạc và không còn giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật.
Từ nhận định trên:
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố: Các bị cáo Lê Văn Toản, Nguyễn Tuấn Nghĩa, Nguyễn Khánh Thiện, Trần Văn Hà, Đào Xuân Sơn và Nguyễn Văn Chung phạm tội “ Đánh bạc”.
Áp dụng khoản 1 Điều 248; điểm h, p khoản 1 Điều 46; Điều 20; Điều 53; Điều 60 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo: Lê Văn Toản, Nguyễn Tuấn Nghĩa, Nguyễn Khánh Thiện, Trần Văn Hà và Nguyễn Văn Chung.
+ Áp dụng khoản 1 Điều 248; điểm p khoản 1 Điều 46; điểm g khoản 1 Điều 48; Điều 20; Điều 53; Điều 33 Bộ luật hình sự đối với bị cáo: Đào Xuân Sơn.
+ Áp dụng riêng khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Đào Xuân Sơn và Nguyễn Văn Chung.
* Xử phạt:
- Nguyễn Văn Chung: 15 (Mười lăm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 30 (Ba mươi) tháng, tính từ ngày tuyên án (17/11/2017).
- Bị cáo Đào Xuân Sơn: 12 (Mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 31/7/2017.
- Các bị cáo: Lê Văn Toản, Trần Văn Hà, Nguyễn Tuấn Nghĩa và Nguyễn Khánh Thiện, mỗi bị cáo 10 (Mười) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 20 (Hai mươi) tháng, tính từ ngày tuyên án (17/11/2017).
Giao các bị cáo Lê Văn Toản, Trần Văn Hà, Nguyễn Tuấn Nghĩa, Nguyễn Văn Chung cho UBND xã Chuyên Ngoại, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam quản lý, giáo dục trong thời gian thử thách. Giao bị cáo Nguyễn Khánh Thiện cho UBND xã Trác Văn, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam quản lý, giáo dục trong thời gian thử thách.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điều 41 BLHS và điều 76 BLTTHS:
- Tịch thu sung ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động Iphone 5, vỏ màu vàng; 01 điện thoại Nokia 105 và số tiền 10.550.000đ (Mười triệu, năm trăm năm mươi lăm nghìn đồng).
- Trả lại cho bị cáo Nguyễn Khánh Thiện: 01 điện thoại di động Samsung Note4.
- Trả lại cho bị cáo Đào Xuân Sơn: 01 điện thoại Nokia 1280.
- Trả lại cho bị cáo Trần Văn Hà: số tiền 5.500.000đ (Năm triệu năm trăm nghìn đồng).
- Trả lại cho bị cáo Toản: số tiền 7.000.000đ (Bẩy triệu đồng).
- Tịch thu cho tiêu hủy: Các vật chứng còn lại.
( Toàn bộ đặc điểm vật chứng như trong biên bản giao nhận vật chứng ngày 04/10/2017 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Duy Tiên và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Duy Tiên).
3. Án phí: Áp dụng Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc Hội. Buộc các bị cáo Lê Văn Toản, Nguyễn Tuấn Nghĩa, Nguyễn Khánh Thiện, Trần Văn Hà, Đào Xuân Sơn và Nguyễn Văn Chung, mỗi bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm: 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).
Án xử công khai sơ thẩm: các bị cáo có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Hà Nam; - Công an huyện Duy Tiên; - VKSND huyện Duy Tiên; - Chi cục THADS huyện Duy Tiên; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ vụ án. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Mạnh Xuân Hải |